Các bệnh viện thời Pháp thuộc

Sau khi xâm chiếm Hà Nội và biến nơi đây thành thủ phủ Đông Dương, người Pháp đã cho tiến hành xây dựng một số bệnh viện ở đây nhằm phục vụ cho nhu cầu khám chữa bệnh, trước tiên là của người Pháp, sau đó là dành cho người bản xứ. Bên cạnh đó cũng xuất hiện một số bệnh viện, phòng khám tư nhân dành cho tầng lớp giàu có người Việt.

Các bệnh viện ở Hà Nội thời Pháp thuộc được xây dựng trong nhiều giai đoạn khác nhau, dành cho các đối tượng khác nhau, nên rất phong phú về quy mô, trang thiết bị. Có những bệnh viện quy mô rất lớn như bệnh viện Lanessan, bệnh viện René Robin, những bệnh viện quy mô vừa phải như bệnh viện Indigène du Protectorat, bệnh viện Saint Paul, các bệnh viện và phòng khám nhỏ của các bác sĩ tư. Ở Hà Nội còn có những bệnh viện được trang bị những thiết bị hiện đại bậc nhất lúc bấy giờ như bệnh viện Radium.

Về mặt hình thái kiến trúc của các bệnh viện ở Hà Nội thời Pháp thuộc cũng rất phong phú, từ những bệnh viện xây dựng thời kỳ đầu mang phong cách kiến trúc Tiền thực dân đơn giản cho đến các bệnh viện xây dựng trong những năm 1930 với phong cách hiện đại Art Deco. Trong chuyên đề này chúng tôi đi sâu vào phân tích các đặc điểm về mặt hình thái kiến trúc để tìm ra mối quan hệ giữa thời gian xây dựng và phong cách kiến trúc của các bệnh viện xây dựng dưới thời Pháp thuộc, đồng thời cho thấy giá trị về mặt kiến trúc và cảnh quan đô thị, cũng như sự cần thiết phải bảo tồn các công trình thuộc thể loại đặc biệt này.

Ảnh khu điều trị Bệnh viện Lanessan (nay là Bệnh viện Hữu Nghị và Bệnh viện 108) đầu thế kỷ XXNăm 1891, một bệnh viện quân sự lớn được xây dựng trong khu Nhượng địa và được khánh thành năm 1894 với tên gọi là bệnh viện Hà Nội nhưng thường được gọi là nhà thương Đồn Thuỷ. Năm 1928, bệnh viện chính thức mang tên Lanessan - viên toàn quyền Đông Dương giai đoạn 1891 - 1894, cựu bác sĩ hải quân Pháp. Ban đầu bệnh viện có 450 giường bệnh, sau đó nâng lên 500 giường bệnh.Bệnh viện được bố trí trên một khu đất rất rộng ở phía nam của khu Nhượng địa (nay là khuôn viên bệnh viện Hữu nghị và bệnh viện Trung ương Quân đội 108), nằm ngay cạnh sông Hồng. Bệnh viện được chia thành khu vực làm việc của y, bác sĩ; khu điều trị cho sĩ quan; khu điều trị cho hạ sĩ quan, binh lính; khu dành cho bệnh nhân nữ, ngoài ra còn có các nhà phục vụ một tầng.Các toà nhà chính trong khu điều trị cao hai tầng có mặt bằng hình chữ nhật, ở giữa là một sảnh lớn, các buồng bệnh được bố trí đối xứng ở hai phía sảnh, hành lang bao quanh rộng tới 3m, cầu thang bố trí ở hai đầu hồi. Hình khối mặt đứng tương đối đơn giản: Cửa sổ và cửa đi dạng cuốn vòm chạy liên tục quanh nhà, cửa sổ đều có hai lớp kính - chớp. Giữa các cửa là bổ trụ gạch được trang trí bởi các gờ chỉ lõm và được phun vữa tạo nhám. Sảnh được nhấn mạnh bởi một Fronton trang trí đơn giản ở phía trên. Mái lợp tôn có cửa mái để thoát nhiệt, dưới mái là lớp trần được cấu tạo bằng thép hình chữ I cuốn gạch có tác dụng chống nóng. Đây là một trong những công trình rất điển hình cho phong cách kiến trúc Tiền thực dân ở Hà Nội.Bệnh viện Lanessan mặc dù được xây dựng từ rất sớm nhưng có quy mô khá lớn và là bệnh viện có kỹ thuật hàng đầu ở Đông Dương thời Pháp thuộc, về mặt kiến trúc cũng là điển hình của một thời kỳ xây dựng, không chỉ có giá trị về mặt thẩm mỹ mà còn có giá trị về mặt lịch sử. Tuy nhiên hiện nay tòa nhà thuộc bệnh viện Hữu Nghị đã bị phá bỏ, các tòa nhà thuộc bệnh viện Trung ương Quân đội 108 đang bị xuống cấp nghiêm trọng và rất có thể cũng sẽ bị phá bỏ trong tương lai gần nếu không có chủ trương bảo tồn, tôn tạo các tòa nhà này.

Ảnh khu điều trị Bệnh viện Lanessan (nay là Bệnh viện Hữu Nghị và Bệnh viện 108) đầu thế kỷ XX

Năm 1891, một bệnh viện quân sự lớn được xây dựng trong khu Nhượng địa và được khánh thành năm 1894 với tên gọi là bệnh viện Hà Nội nhưng thường được gọi là nhà thương Đồn Thuỷ.

Năm 1928, bệnh viện chính thức mang tên Lanessan - viên toàn quyền Đông Dương giai đoạn 1891 - 1894, cựu bác sĩ hải quân Pháp. Ban đầu bệnh viện có 450 giường bệnh, sau đó nâng lên 500 giường bệnh.

Bệnh viện được bố trí trên một khu đất rất rộng ở phía nam của khu Nhượng địa (nay là khuôn viên bệnh viện Hữu nghị và bệnh viện Trung ương Quân đội 108), nằm ngay cạnh sông Hồng. Bệnh viện được chia thành khu vực làm việc của y, bác sĩ; khu điều trị cho sĩ quan; khu điều trị cho hạ sĩ quan, binh lính; khu dành cho bệnh nhân nữ, ngoài ra còn có các nhà phục vụ một tầng.

Các toà nhà chính trong khu điều trị cao hai tầng có mặt bằng hình chữ nhật, ở giữa là một sảnh lớn, các buồng bệnh được bố trí đối xứng ở hai phía sảnh, hành lang bao quanh rộng tới 3m, cầu thang bố trí ở hai đầu hồi. Hình khối mặt đứng tương đối đơn giản: Cửa sổ và cửa đi dạng cuốn vòm chạy liên tục quanh nhà, cửa sổ đều có hai lớp kính - chớp. Giữa các cửa là bổ trụ gạch được trang trí bởi các gờ chỉ lõm và được phun vữa tạo nhám. Sảnh được nhấn mạnh bởi một Fronton trang trí đơn giản ở phía trên. Mái lợp tôn có cửa mái để thoát nhiệt, dưới mái là lớp trần được cấu tạo bằng thép hình chữ I cuốn gạch có tác dụng chống nóng. Đây là một trong những công trình rất điển hình cho phong cách kiến trúc Tiền thực dân ở Hà Nội.

Bệnh viện Lanessan mặc dù được xây dựng từ rất sớm nhưng có quy mô khá lớn và là bệnh viện có kỹ thuật hàng đầu ở Đông Dương thời Pháp thuộc, về mặt kiến trúc cũng là điển hình của một thời kỳ xây dựng, không chỉ có giá trị về mặt thẩm mỹ mà còn có giá trị về mặt lịch sử. Tuy nhiên hiện nay tòa nhà thuộc bệnh viện Hữu Nghị đã bị phá bỏ, các tòa nhà thuộc bệnh viện Trung ương Quân đội 108 đang bị xuống cấp nghiêm trọng và rất có thể cũng sẽ bị phá bỏ trong tương lai gần nếu không có chủ trương bảo tồn, tôn tạo các tòa nhà này.

Bệnh viện Indigène du Protectorat (nay là bệnh viện Việt Đức) Được người Pháp thành lập từ năm 1904 dành để chữa bệnh cho người Việt theo đúng như tên gọi của nó. Bệnh viện được xây dựng trên một khu đất khá rộng trên phố Bognis Desbordes (phố Tràng Thi) và được giới hạn bởi các phố Richard (phố Quán Sứ) và phố Julien Blanc (phố Phủ Doãn). Ngoài ra còn có khoa Sản bố trí phía đối diện phố Bognis Desbordes (nay là bệnh viện Phụ sản TƯ).Mặc dù nằm trên một khuôn viên khá rộng nhưng các hạng mục công trình trong bệnh viện tương đối ngèo nàn, ban đầu chỉ gồm 3 dãy nhà điều trị một tầng nằm song song và được phân cách với nhau bởi những đường nhỏ có vỉa hè, sau này xây thêm nhà khám bệnh hai tầng nhìn ra phố Bognis Desbordes, nhà mổ và một số nhà phù trợ một tầng đơn giản.Ba dãy nhà điều trị một tầng được xây dựng từ năm 1896 khi còn là một cơ sở điều trị nhỏ do các nữ tu sĩ thuộc dòng Saint Paul de Chartres quản lý. Các dãy nhà này được xây dựng giống nhau với một không gian chung kéo dài giành cho bệnh nhân, ở đầu hồi có các phòng nhỏ dành cho y bác sĩ. Ở hai phía của phòng bệnh đều có các hành lang rộng để chống nắng nóng và mưa hắt, phía ngoài là dãy cuốn vòm liên tục đặc trưng của phong cách Tiền thực dân.Khu khám bệnh là một tòa nhà hai tầng được xây dựng đầu thế kỷ XX hình chữ U theo kiểu kiến trúc Địa phương Pháp. Nhà có cấu trúc đăng đối, ở giữa có lối đi xuyên qua, phía trên có ban công và các trang trí tạo thành điểm nhấn trung tâm. Hai phía là các phòng khám bệnh và các phòng hành chính được bố trí theo kiểu hành lang bên trên cả hai tầng. Mặt đứng được tạo thành bởi các cửa sổ kết thúc theo chiều ngang ở tầng một và cuốn vòm ở tầng hai, các cửa sổ được trang trí liên kết tạo thành từng cặp theo phương đứng. Mái lợp ngói nhô ra khỏi tường và được đỡ bởi hàng công xon gỗ khá tinh xảo. Nhà mổ được xây dựng khoảng những năm 1930, nhà hình chữ U cao hai tầng, bao gồm phòng mổ và các phòng phù trợ. Tòa nhà được xây dựng với kỹ thuật hiện đại nhưng vẫn mang phong cách trang trí lấy cảm hứng từ kiến trúc Tiền thực dân với những ô cửa kết thúc bằng cuốn vòm nhằm tạo ra sự hài hòa với các công trình đã xây dựng trước đó. Ban Nha khoa (nay là bệnh viện Răng - Hàm - Mặt TƯ) được xây dựng năm 1939 ở góc phố Bognis Desbordes – Richard là một tòa nhà hai tầng được xây dựng theo phong cách Địa phương Pháp rất phù hợp với khu khám bệnh.Tuy nhiên hiện nay trong khuôn viên bệnh viện Việt Đức chỉ còn lại tòa nhà hành chính còn tương đối nguyên vẹn, tòa nhà của Ban Nha khoa đã cải tạo biến dạng hoàn toàn, các dãy nhà nội trú một tầng đã bị phá bỏ, nhà mổ được xây nối vào các khu nhà mới nên cũng bị biến dạng, các nhà cũ trong bệnh viện Phụ sản TƯ đã bị phá bỏ toàn bộ.Ảnh: Hanoï. Hôpital indigène (du Protectorat) 1921-35 Bệnh viện Bảo hộ của dân bản xứ những năm 1921-1935

Bệnh viện Indigène du Protectorat (nay là bệnh viện Việt Đức)

Được người Pháp thành lập từ năm 1904 dành để chữa bệnh cho người Việt theo đúng như tên gọi của nó. Bệnh viện được xây dựng trên một khu đất khá rộng trên phố Bognis Desbordes (phố Tràng Thi) và được giới hạn bởi các phố Richard (phố Quán Sứ) và phố Julien Blanc (phố Phủ Doãn). Ngoài ra còn có khoa Sản bố trí phía đối diện phố Bognis Desbordes (nay là bệnh viện Phụ sản TƯ).

Mặc dù nằm trên một khuôn viên khá rộng nhưng các hạng mục công trình trong bệnh viện tương đối ngèo nàn, ban đầu chỉ gồm 3 dãy nhà điều trị một tầng nằm song song và được phân cách với nhau bởi những đường nhỏ có vỉa hè, sau này xây thêm nhà khám bệnh hai tầng nhìn ra phố Bognis Desbordes, nhà mổ và một số nhà phù trợ một tầng đơn giản.

Ba dãy nhà điều trị một tầng được xây dựng từ năm 1896 khi còn là một cơ sở điều trị nhỏ do các nữ tu sĩ thuộc dòng Saint Paul de Chartres quản lý. Các dãy nhà này được xây dựng giống nhau với một không gian chung kéo dài giành cho bệnh nhân, ở đầu hồi có các phòng nhỏ dành cho y bác sĩ. Ở hai phía của phòng bệnh đều có các hành lang rộng để chống nắng nóng và mưa hắt, phía ngoài là dãy cuốn vòm liên tục đặc trưng của phong cách Tiền thực dân.

Khu khám bệnh là một tòa nhà hai tầng được xây dựng đầu thế kỷ XX hình chữ U theo kiểu kiến trúc Địa phương Pháp. Nhà có cấu trúc đăng đối, ở giữa có lối đi xuyên qua, phía trên có ban công và các trang trí tạo thành điểm nhấn trung tâm. Hai phía là các phòng khám bệnh và các phòng hành chính được bố trí theo kiểu hành lang bên trên cả hai tầng. Mặt đứng được tạo thành bởi các cửa sổ kết thúc theo chiều ngang ở tầng một và cuốn vòm ở tầng hai, các cửa sổ được trang trí liên kết tạo thành từng cặp theo phương đứng. Mái lợp ngói nhô ra khỏi tường và được đỡ bởi hàng công xon gỗ khá tinh xảo. Nhà mổ được xây dựng khoảng những năm 1930, nhà hình chữ U cao hai tầng, bao gồm phòng mổ và các phòng phù trợ. Tòa nhà được xây dựng với kỹ thuật hiện đại nhưng vẫn mang phong cách trang trí lấy cảm hứng từ kiến trúc Tiền thực dân với những ô cửa kết thúc bằng cuốn vòm nhằm tạo ra sự hài hòa với các công trình đã xây dựng trước đó. Ban Nha khoa (nay là bệnh viện Răng - Hàm - Mặt TƯ) được xây dựng năm 1939 ở góc phố Bognis Desbordes – Richard là một tòa nhà hai tầng được xây dựng theo phong cách Địa phương Pháp rất phù hợp với khu khám bệnh.

Tuy nhiên hiện nay trong khuôn viên bệnh viện Việt Đức chỉ còn lại tòa nhà hành chính còn tương đối nguyên vẹn, tòa nhà của Ban Nha khoa đã cải tạo biến dạng hoàn toàn, các dãy nhà nội trú một tầng đã bị phá bỏ, nhà mổ được xây nối vào các khu nhà mới nên cũng bị biến dạng, các nhà cũ trong bệnh viện Phụ sản TƯ đã bị phá bỏ toàn bộ.

Ảnh: Hanoï. Hôpital indigène (du Protectorat) 1921-35
Bệnh viện Bảo hộ của dân bản xứ những năm 1921-1935

Bệnh viện Saint Paul (nay là bệnh viện Xanh Pôn) là một bệnh viện do các nữ tu sĩ thuộc dòng Saint Paul de Chartres quản lý, hình thành từ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX với nhiều hạng mục công trình được xây dựng ở nhiều thời kỳ khác nhau nằm trên một khu đất rộng được giới hạn bởi các phố Vallenhoven (phố Chu Văn An), Félix Faure (phố Trần Phú), phố Duvillier (phố Nguyễn Thái Học) và Tu viện Dames de Saint Paul de Chartres ở hướng tây.Mặt bằng tổng thể của bệnh viện bao gồm ba tòa nhà khám chữa bệnh hai tầng tạo thành hình chữ U bao lấy một không gian cây xanh có tượng thánh Paul ở giữa nhìn ra phố Vallenhoven, các tòa nhà này được nối với nhau bằng hành lang cầu trên cả hai tầng rất thuận tiện cho việc đi lại và vận chuyển bệnh nhân. Ngoài ra còn có một số nhà phù trợ một tầng liên kết với khối nhà chính thông qua các lối đi ngoài trời và các không gian cây xanh.Nhìn vào hình thái kiến trúc của các tòa nhà khám chữa bệnh thì có thể thấy tòa nhà chính giữa nhìn ra phố Vallenhoven được xây dựng trước, hai tòa nhà vuông góc với đường phố có niên đại muộn hơn. Cũng giống như nhiều công trình do Nhà Chung xây dựng ở Hà Nội như trường Puginier hay trường Sainte Marie, các tòa nhà chính của bệnh viện đều theo phong cách kiến trúc Tiền thực dân theo kiểu bệnh viện Lanessan với những hàng cửa dạng cuốn vòm. Tuy nhiên ở tòa nhà chính giữa có bộ mái ngói nhô ra ngoài tường và được đỡ bởi một hệ công son gỗ hình tam giác, trong khi hai tòa nhà vuông góc với nó lại có hệ sê nô bao quanh mái bằng bê tông cốt thép phía dưới có các họa tiết trang trí nhẹ nhàng.Mặc dù chỉ là một bệnh viện không lớn thuộc Nhà Chung, bệnh viện Saint Paul cũng tạo ra giấu ấn của riêng mình trong khu vực trung tâm Hà Nội với hình thức các tòa nhà đơn giản xong được xây dựng trong một tổng thể khuôn viên cây xanh khá đẹp.

Bệnh viện Saint Paul (nay là bệnh viện Xanh Pôn) là một bệnh viện do các nữ tu sĩ thuộc dòng Saint Paul de Chartres quản lý, hình thành từ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX với nhiều hạng mục công trình được xây dựng ở nhiều thời kỳ khác nhau nằm trên một khu đất rộng được giới hạn bởi các phố Vallenhoven (phố Chu Văn An), Félix Faure (phố Trần Phú), phố Duvillier (phố Nguyễn Thái Học) và Tu viện Dames de Saint Paul de Chartres ở hướng tây.

Mặt bằng tổng thể của bệnh viện bao gồm ba tòa nhà khám chữa bệnh hai tầng tạo thành hình chữ U bao lấy một không gian cây xanh có tượng thánh Paul ở giữa nhìn ra phố Vallenhoven, các tòa nhà này được nối với nhau bằng hành lang cầu trên cả hai tầng rất thuận tiện cho việc đi lại và vận chuyển bệnh nhân. Ngoài ra còn có một số nhà phù trợ một tầng liên kết với khối nhà chính thông qua các lối đi ngoài trời và các không gian cây xanh.

Nhìn vào hình thái kiến trúc của các tòa nhà khám chữa bệnh thì có thể thấy tòa nhà chính giữa nhìn ra phố Vallenhoven được xây dựng trước, hai tòa nhà vuông góc với đường phố có niên đại muộn hơn. Cũng giống như nhiều công trình do Nhà Chung xây dựng ở Hà Nội như trường Puginier hay trường Sainte Marie, các tòa nhà chính của bệnh viện đều theo phong cách kiến trúc Tiền thực dân theo kiểu bệnh viện Lanessan với những hàng cửa dạng cuốn vòm. Tuy nhiên ở tòa nhà chính giữa có bộ mái ngói nhô ra ngoài tường và được đỡ bởi một hệ công son gỗ hình tam giác, trong khi hai tòa nhà vuông góc với nó lại có hệ sê nô bao quanh mái bằng bê tông cốt thép phía dưới có các họa tiết trang trí nhẹ nhàng.

Mặc dù chỉ là một bệnh viện không lớn thuộc Nhà Chung, bệnh viện Saint Paul cũng tạo ra giấu ấn của riêng mình trong khu vực trung tâm Hà Nội với hình thức các tòa nhà đơn giản xong được xây dựng trong một tổng thể khuôn viên cây xanh khá đẹp.

Bệnh viện K ở Hà Nội Đầu những năm 20 của thế kỷ trước, Việt Nam đã có các bệnh viện để khám và chữa bệnh cho cả hai đối tượng: người Pháp và người bản xứ. Lúc bấy giờ, trên thế giới, các nhà y học đang trong những nỗ lực đầu tiên tìm kiếm cách chữa trị bệnh ung thư. Tại Đông Dương, trong các bệnh viện chưa có khoa chuyên về ung thư, trong khi đó bệnh nhân mắc căn bệnh này đã khá đông. Để đáp ứng yêu cầu khám chữa bệnh của nhân dân, một tổ chức tư nhân mang tên: Viện Radium Đông Dương (Institut du Radium de L’Indochine) đã ra đời tại Hà Nội vào ngày 19 tháng 10 năm 1923 do ông Pièrre Moullin phụ trách.Kể từ thời điểm đó, Viện Radium Đông Dương đã mang nhiều tên gọi khác nhau như Viện Radium Đông Dương, Viện Curie Đông Dương, Viện Curie, Viện Ung thư.Viện Radium Đông Dương vốn là một tổ chức từ thiện, có chức năng nghiên cứu khoa học và theo đuổi 4 mục đích chính:1. Xây dựng tại Hà Nội và các tỉnh khác ở Đông Dương các viện điều trị bằng phóng xạ Radium và tia xạ X (Institut de Radium thérapie et Roentgenthérapie).2. Theo dõi, nghiên cứu các khối u ác tính tại Đông Dương.3. Tổ chức một màng lưới các cơ sở chống ung thư.4. Điều trị những bệnh nhân mắc bệnh ung thư.Là một tổ chức y tế tư nhân hoạt động dưới sự quản lý của Nhà nước, Viện Radium có số vốn hoạt động không hạn định; phần lãi suất, Viện dành cho việc phát triển các cơ sở chi nhánh hoặc các công việc từ thiện. Do hoàn cảnh khó khăn về cơ sở vật chất và các phương tiện khám chữa bệnh nên khi mới thành lập, Viện mới chỉ có một cơ sở chính ở miền Bắc Việt Nam là Viện Radium Đông Dương tại Hà Nội (nay là Bệnh viện K) và một cơ sở điều trị đặt tại Bệnh viện Bảo hộ (Bệnh viện Yersin, tức Bệnh viện Việt-Đức ngày nay).Viện Radium Đông Dương có diện tích 5.720m2, nằm tiếp giáp với 3 mặt đường: Tràng Thi, Quán Sứ và Hai Bà Trưng, mặt sau giáp Bệnh viện Phụ sản Trung ương hiện nay. Viện có một toà nhà hai tầng được xây dựng vào khoảng những năm 1915-1920 với sự đóng góp của những người hảo tâm, chủ yếu là các nhà tư sản, quan chức người Pháp và người Việt Nam. Ngôi nhà hai tầng này là nơi tập trung các cơ quan chức năng quan trọng của Viện gồm: phòng Giám đốc, hội trường, thư viện, các phòng hành chính và một số cơ sở đặt máy quang tuyến. Ngoài ra còn một số phòng dành cho văn thư, thủ quỹ, vận hành viên, điện thoại...Ngoài toà nhà chính, khu nhà phụ nằm ở phía sau dành cho một số nhân viên và những người làm công tác bảo vệ (Sau này, khu nhà được dùng làm khoa điều trị cho bệnh nhân và một phần được xây dựng thành Boongke đặt máy Cobalt).Về mặt máy móc phục vụ điều trị bệnh, ngay từ đầu, Viện Radium Đông Dương (IR) chỉ có một máy quang tuyến X chẩn đoán, một máy điều trị với công suất 250KV, một máy công suất 400KV và một máy tia nông (60KV) dùng để điều trị những tổn thương ngoài da. Còn chất phóng xạ Radium được để tại một phòng của Bệnh viện Phủ Doãn cho thuận tiện trong việc sử dụng và quản lý.Về công tác tổ chức, Viện Radium lúc đầu hoạt động như một hội, do một vị Chủ tịch đứng đầu. Kể từ khi thành lập (1923) cho đến năm1945 đã có nhiều người đảm nhiệm chức vụ này như: Piérre Moullin (1923), Henri Tissot (1926), Le Roy des Barres và Pièrre Huard (1933), Sauvage, Long (1942) ...Dưới quyền và giúp việc cho Chủ tịch có Hội đồng quản trị cùng một số nhân viên hành chính và chuyên môn. Bác sĩ là người Việt chiếm số lượng rất ít như bác sĩ Nguyễn Đình Hằng, Đặng Vũ Lạc, Nguyễn Văn Diệp... Trong số các bác sĩ và nhân viên người Pháp, người đứng đầu Viện, thường kiêm nhiệm một vài vị trí khác trong ngành y ở Hà Nội. Trong một thời gian dài, giám đốc của Viện - Bác sĩ Le Roy des Barres, tiếp đó đến GS Pièrre Huard vừa làm giám đốc của Bệnh viện Yersin vừa làm giám đốc chuyên môn của Viện Radium và của trường Đại học Y khoa. Hoạt động ban đầu của Viện tập trung vào việc khám chữa bệnh hàng ngày cho bệnh nhân, trường hợp nào cần nằm viện thì đưa qua Bệnh viện Phủ Doãn (lúc đó mang tên Nhà thương Bảo hộ).Phòng điều trị tia xạ của Viện gồm 3 máy RX. Bệnh nhân điều trị tia xạ thường ở ngoại trú, một số ít nội trú tại Bệnh viện Phủ Doãn hoặc nằm tại các bệnh viện khác ở Hà Nội. Ngoài công tác điều trị, Viện Radium còn là trung tâm nghiên cứu bệnh ung thư. Viện thường xuyên liên lạc với Hội chống ung thư của Pháp và hãng Radium Belge để mua các ống và kim đựng chất phóng xạ Radium. Các bệnh nhân ung thư được điều trị Radium dưới sự điều khiển của BS. Nguyễn Xuân Chữ - bác sĩ người Việt đầu tiên tham gia điều trị bệnh ung thư tại Việt Nam.Đại chiến thế giới thứ hai, nhất là vụ Nhật đảo chính Pháp ngày 9/3/1945 đã làm đảo lộn hoàn toàn cục diện chính trị trong nước. Trong hoàn cảnh đó, Viện Radium không tránh khỏi bị xáo trộn. Trải qua hơn 20 năm hình thành và phát triển, đến thời điểm này, Viện đã xác lập được vai trò và có một vị trí đáng kể trong việc điều trị bệnh ung thư ở Việt Nam, góp phần làm giảm bớt số lượng bệnh nhân tử vong vì căn bệnh nan y này. Tuy nhiên ở giai đoạn đầu tiên ấy, Viện Radium mới chỉ hoạt động trong một phạm vi hạn chế. Ngoài việc chiếu chụp và điều trị tia xạ cho một số bệnh nhân, Viện còn là nơi thực tập cho sinh viên trường Đại học Y dược Hà Nội về bộ môn giải phẫu và tổ chức học.Sau ngày toàn quốc kháng chiến 19/12/1946, thực dân Pháp tái chiếm Hà Nội, Viện Radium bị tận dụng làm trụ sở của quân Pháp do Sainteny đứng đầu, bên cạnh tướng Molière, chỉ huy đội quân viễn chinh Pháp đóng tại trụ sở báo Nhân Dân ngày nay (số 71, Hàng Trống Hà Nội).Sau 2 tháng bị chiếm đóng, Viện được trả lại đúng chức năng chuyên môn, các hoạt động của Viện Radium cũng dần dần được phục hồi trở lại. Hiệp nghị Geneve được ký kết (7/1954), quân đội Pháp phải rút khỏi miền Bắc. Tại các bệnh viện ở Hà Nội, trong đó có Viện Radium, một số bác sĩ theo làn sóng di cư đã đi vào phía Nam. Vì là một tổ chức tư nhân nên mãi đến năm 1957, Viện mới được phía Pháp chính thức bàn giao cho Chính phủ Việt Nam. Như vậy, từ một cơ sở y tế tư nhân hình thành dưới thời thuộc địa, Viện Radium đã trở thành một bệnh viện lớn của Việt Nam.Ảnh: Viện Radium Đông Dương (Ảnh chụp đầu thế kỷ XX)

Bệnh viện K ở Hà Nội

Đầu những năm 20 của thế kỷ trước, Việt Nam đã có các bệnh viện để khám và chữa bệnh cho cả hai đối tượng: người Pháp và người bản xứ. Lúc bấy giờ, trên thế giới, các nhà y học đang trong những nỗ lực đầu tiên tìm kiếm cách chữa trị bệnh ung thư. Tại Đông Dương, trong các bệnh viện chưa có khoa chuyên về ung thư, trong khi đó bệnh nhân mắc căn bệnh này đã khá đông. Để đáp ứng yêu cầu khám chữa bệnh của nhân dân, một tổ chức tư nhân mang tên: Viện Radium Đông Dương (Institut du Radium de L’Indochine) đã ra đời tại Hà Nội vào ngày 19 tháng 10 năm 1923 do ông Pièrre Moullin phụ trách.

Kể từ thời điểm đó, Viện Radium Đông Dương đã mang nhiều tên gọi khác nhau như Viện Radium Đông Dương, Viện Curie Đông Dương, Viện Curie, Viện Ung thư.
Viện Radium Đông Dương vốn là một tổ chức từ thiện, có chức năng nghiên cứu khoa học và theo đuổi 4 mục đích chính:
1. Xây dựng tại Hà Nội và các tỉnh khác ở Đông Dương các viện điều trị bằng phóng xạ Radium và tia xạ X (Institut de Radium thérapie et Roentgenthérapie).
2. Theo dõi, nghiên cứu các khối u ác tính tại Đông Dương.
3. Tổ chức một màng lưới các cơ sở chống ung thư.
4. Điều trị những bệnh nhân mắc bệnh ung thư.
Là một tổ chức y tế tư nhân hoạt động dưới sự quản lý của Nhà nước, Viện Radium có số vốn hoạt động không hạn định; phần lãi suất, Viện dành cho việc phát triển các cơ sở chi nhánh hoặc các công việc từ thiện.
Do hoàn cảnh khó khăn về cơ sở vật chất và các phương tiện khám chữa bệnh nên khi mới thành lập, Viện mới chỉ có một cơ sở chính ở miền Bắc Việt Nam là Viện Radium Đông Dương tại Hà Nội (nay là Bệnh viện K) và một cơ sở điều trị đặt tại Bệnh viện Bảo hộ (Bệnh viện Yersin, tức Bệnh viện Việt-Đức ngày nay).
Viện Radium Đông Dương có diện tích 5.720m2, nằm tiếp giáp với 3 mặt đường: Tràng Thi, Quán Sứ và Hai Bà Trưng, mặt sau giáp Bệnh viện Phụ sản Trung ương hiện nay. Viện có một toà nhà hai tầng được xây dựng vào khoảng những năm 1915-1920 với sự đóng góp của những người hảo tâm, chủ yếu là các nhà tư sản, quan chức người Pháp và người Việt Nam. Ngôi nhà hai tầng này là nơi tập trung các cơ quan chức năng quan trọng của Viện gồm: phòng Giám đốc, hội trường, thư viện, các phòng hành chính và một số cơ sở đặt máy quang tuyến. Ngoài ra còn một số phòng dành cho văn thư, thủ quỹ, vận hành viên, điện thoại...
Ngoài toà nhà chính, khu nhà phụ nằm ở phía sau dành cho một số nhân viên và những người làm công tác bảo vệ (Sau này, khu nhà được dùng làm khoa điều trị cho bệnh nhân và một phần được xây dựng thành Boongke đặt máy Cobalt).
Về mặt máy móc phục vụ điều trị bệnh, ngay từ đầu, Viện Radium Đông Dương (IR) chỉ có một máy quang tuyến X chẩn đoán, một máy điều trị với công suất 250KV, một máy công suất 400KV và một máy tia nông (60KV) dùng để điều trị những tổn thương ngoài da. Còn chất phóng xạ Radium được để tại một phòng của Bệnh viện Phủ Doãn cho thuận tiện trong việc sử dụng và quản lý.
Về công tác tổ chức, Viện Radium lúc đầu hoạt động như một hội, do một vị Chủ tịch đứng đầu. Kể từ khi thành lập (1923) cho đến năm1945 đã có nhiều người đảm nhiệm chức vụ này như: Piérre Moullin (1923), Henri Tissot (1926), Le Roy des Barres và Pièrre Huard (1933), Sauvage, Long (1942) ...
Dưới quyền và giúp việc cho Chủ tịch có Hội đồng quản trị cùng một số nhân viên hành chính và chuyên môn. Bác sĩ là người Việt chiếm số lượng rất ít như bác sĩ Nguyễn Đình Hằng, Đặng Vũ Lạc, Nguyễn Văn Diệp... Trong số các bác sĩ và nhân viên người Pháp, người đứng đầu Viện, thường kiêm nhiệm một vài vị trí khác trong ngành y ở Hà Nội. Trong một thời gian dài, giám đốc của Viện - Bác sĩ Le Roy des Barres, tiếp đó đến GS Pièrre Huard vừa làm giám đốc của Bệnh viện Yersin vừa làm giám đốc chuyên môn của Viện Radium và của trường Đại học Y khoa.
Hoạt động ban đầu của Viện tập trung vào việc khám chữa bệnh hàng ngày cho bệnh nhân, trường hợp nào cần nằm viện thì đưa qua Bệnh viện Phủ Doãn (lúc đó mang tên Nhà thương Bảo hộ).
Phòng điều trị tia xạ của Viện gồm 3 máy RX. Bệnh nhân điều trị tia xạ thường ở ngoại trú, một số ít nội trú tại Bệnh viện Phủ Doãn hoặc nằm tại các bệnh viện khác ở Hà Nội.
Ngoài công tác điều trị, Viện Radium còn là trung tâm nghiên cứu bệnh ung thư. Viện thường xuyên liên lạc với Hội chống ung thư của Pháp và hãng Radium Belge để mua các ống và kim đựng chất phóng xạ Radium. Các bệnh nhân ung thư được điều trị Radium dưới sự điều khiển của BS. Nguyễn Xuân Chữ - bác sĩ người Việt đầu tiên tham gia điều trị bệnh ung thư tại Việt Nam.
Đại chiến thế giới thứ hai, nhất là vụ Nhật đảo chính Pháp ngày 9/3/1945 đã làm đảo lộn hoàn toàn cục diện chính trị trong nước. Trong hoàn cảnh đó, Viện Radium không tránh khỏi bị xáo trộn. Trải qua hơn 20 năm hình thành và phát triển, đến thời điểm này, Viện đã xác lập được vai trò và có một vị trí đáng kể trong việc điều trị bệnh ung thư ở Việt Nam, góp phần làm giảm bớt số lượng bệnh nhân tử vong vì căn bệnh nan y này. Tuy nhiên ở giai đoạn đầu tiên ấy, Viện Radium mới chỉ hoạt động trong một phạm vi hạn chế. Ngoài việc chiếu chụp và điều trị tia xạ cho một số bệnh nhân, Viện còn là nơi thực tập cho sinh viên trường Đại học Y dược Hà Nội về bộ môn giải phẫu và tổ chức học.

Sau ngày toàn quốc kháng chiến 19/12/1946, thực dân Pháp tái chiếm Hà Nội, Viện Radium bị tận dụng làm trụ sở của quân Pháp do Sainteny đứng đầu, bên cạnh tướng Molière, chỉ huy đội quân viễn chinh Pháp đóng tại trụ sở báo Nhân Dân ngày nay (số 71, Hàng Trống Hà Nội).
Sau 2 tháng bị chiếm đóng, Viện được trả lại đúng chức năng chuyên môn, các hoạt động của Viện Radium cũng dần dần được phục hồi trở lại.

Hiệp nghị Geneve được ký kết (7/1954), quân đội Pháp phải rút khỏi miền Bắc. Tại các bệnh viện ở Hà Nội, trong đó có Viện Radium, một số bác sĩ theo làn sóng di cư đã đi vào phía Nam. Vì là một tổ chức tư nhân nên mãi đến năm 1957, Viện mới được phía Pháp chính thức bàn giao cho Chính phủ Việt Nam.
Như vậy, từ một cơ sở y tế tư nhân hình thành dưới thời thuộc địa, Viện Radium đã trở thành một bệnh viện lớn của Việt Nam.

Ảnh: Viện Radium Đông Dương (Ảnh chụp đầu thế kỷ XX)

Bệnh viện Bạch Mai trong đồ án quy hoạch của người Pháp  Bệnh viện Bạch Mai do kiến trúc sư Charles Christian thiết kế là một trong những công trình mang đậm dấu ấn Pháp ở Hà Nội.Sự phát triển mạnh mẽ của Dịch vụ Cứu trợ y tế ở Bắc Kỳ cùng niềm tin của dân chúng bản xứ vào những liệu pháp y tế hiện đại, bên cạnh đó là việc mở rộng giảng dạy ngành y ở Trường Đại học Đông Dương đã dẫn đến nhu cầu thiết lập mạng lưới bệnh viện ở Hà Nội trong những năm 1927-1928.Bệnh viện Bảo hộ bản xứ (nay là bệnh viện Việt Đức) đã trở nên cũ kỹ và chật chội dù đã được quy hoạch và cải tạo nhiều lần.  Đó là những lý do dẫn đến sự ra đời của Bệnh viện René Robin, tiền thân của Bệnh viện Bạch Mai ngày nay.Ý tưởng ban đầu:Mô hình một bệnh viện ở ngoại ô ngay lập tức được thông qua. Đây cũng là ý tưởng khá phổ biến thời bấy giờ.Dự kiến ban đầu là xây dựng bệnh viện theo mô hình phân tán, các toà nhà rải rác trên không gian rộng, xen kẽ giữa những vườn cây và nối với nhau bằng những hành lang cầu rộng rãi. Khẩu hiệu đặt ra đối với bệnh viện tương lai là: không gian, khí trời và ánh sáng. Địa điểm được lựa chọn là một khu đất rộng nằm bên đường Cái quan (nay là đường Giải Phóng), do Viện Chăn nuôi quản lý.Gần khu đất đó, Sở Y tế Bắc Kỳ đã cho xây dựng Bệnh viện Lây Cống Vọng gồm khoảng 10 tòa nhà dành cho các bệnh nhân mắc bệnh truyền nhiễm (sởi, đậu mùa, dịch tả, viêm màng não, …). Khoảng trống bên cạnh Bệnh viện Lây, nằm giữa đường cái quan và ô Cầu Dền là nơi được Thống sứ Bắc Kỳ René Robin lựa chọn để xây dựng bệnh viện.Khu đất nằm bên đường Cái quan và đường sắt, cách ga Hà Nội khoảng 3 cây số, là nơi giao thông thuận tiện và dễ dàng mở rộng sang phía Viện Chăn nuôi. Ở đó có sẵn một trạm bơm, đường dây diện và lưu thông gió rất rốt vào mùa nóng. Quá trình thực hiện:Công trình được xây dựng thành nhiều đợt. Đợt 1 bắt đầu vào năm 1929 và kết thúc năm 1934 gồm một tòa nhà điều trị, công trình phụ và khu hành chính. Đồ án thi công đầy đủ bao gồm:1. Hai tòa nhà nhỏ, mỗi tòa khoảng 200 giường được dùng làm nhà hộ sinh và phòng khám chuyên khoa (khu A và khu B);2. Hai tòa nhà lớn, mỗi tòa khoảng 300 giường; một là khu kĩ thuật y học (khu C), hai bên là hai phòng thí nghiệm lớn, một hội trường rộng rãi và một bảo tàng-thư viện; tòa nhà còn lại dành cho khoa Ngoại, xoay quanh khối phòng mổ hình tròn (khu D);3. Một tòa nhà nằm hơi tách biệt, dành cho bệnh nhân tâm thần và tù nhân, từ 70 đến 80 chỗ (khu F);4. Một tòa nhà dành cho khoa Nhi (khu E). Tòa nhà này đến năm 1944 vẫn chưa xây xong và khoa Nhi được sáp nhập vào Nhà hộ sinh;5. Một nhà chờ (khu O) nằm ở giữa quần thể kiến trúc và được nối với các khoa bằng hệ thống hành lang cầu, bao gồm toàn bộ các phòng hành chính, phòng làm việc của ban giám đốc, phòng tiếp đón bệnh nhân, phân loại, chia về các khoa và cấp cứu.Một khu điều trị khác nằm trong một dự án đặc biệt cũng chưa thể hoàn thành vào năm 1944 bởi lý do chiến tranh. Khu này có kiến trúc tương tự như khoa Ngoại, chỉ khác nhau ở phần thiết kế nội thất.Các tòa nhà đều quay về hướng đông, nhìn ra đường cái quan, luôn có ánh sáng tự nhiên và có gió đông nam thổi suốt mùa hè.Đầu năm 1940, do các tòa nhà của Bệnh viện Bảo hộ đã trở nên tối tăm và chật chội, tất cả các phòng ban trừ khoa Ngoại đã được chuyển sang Bệnh viện Bạch Mai.Bố cục chung:Trên một hành lang cầu theo trục Bắc-Nam, khối điều trị nằm ở phía đông  bố trí theo kiểu răng lược. Giữa các răng lược là vườn cây, các bậc thềm với đường dốc dành cho xe cấp cứu. Những tòa nhà lớn gồm nhiều phòng 40 giường, trong đó có 16 giường cách ly. Những tòa nhà nhỏ hơn gồm các phòng 20 giường với 2 hoặc 6 giường cách ly.Nhiều đường hầm rộng rãi được quy hoạch dọc theo đường trục để vận chuyển cáng cứu thương, phía trên đường hầm xây dựng nhiều phòng kín, để chứa đồ hoặc dụng cụ y tế. Phòng thí nghiệm và hội trường:Các kiến trúc sư không chỉ muốn xây dựng một bệnh viện rộng rãi, tiện nghi mà còn muốn mở một cơ sở thực hành cho các sinh viên ngành y và y tá trường Nữ hộ sinh.Họ đã thiết kế nhiều giảng đường và phòng thí nghiệm. Mỗi tòa nhà đều có một giảng đường. Mỗi khoa có một phòng thí nghiệm riêng.Khu kĩ thuật y học (khu C) là nơi đặt hai phòng thí nghiệm trung tâm: phòng chụp X-quang và phòng Vi sinh và Phẫu thuật. Giữa hai phòng thí nghiệm là một hội trường lớn và một bảo tàng-thư viện.Đáng tiếc là những yêu cầu về mặt kiến trúc không cho phép thêm vào quần thể này một phòng thí nghiệm Sinh hóa, một yếu tố quan trọng trong chẩn đoán y khoa. Phòng thí nghiệm Sinh hóa được đặt ở cuối tòa nhà phụ của khối Dược phẩm. Công trình phụ trợ:Phòng khử trùng - mỗi khoa có các dụng cụ khử trùng chuyên biệt.Khoa Tai-Mũi-Họng và Nhà hộ sinh có các tủ khử trùng nước và dụng cụ mổ.Nhà hộ sinh có hai phòng mổ hiện đại và một phòng làm việc rộng rãi, tiện nghi có thể tiếp nhận 10 đến 15 ca đẻ mỗi ngày.Nước: Nước được phân phối rộng rãi trong toàn bệnh viện. Nước được lấy từ trạm bơm và các bể lọc của Viện Chăn nuôi, sân bay Bạch Mai và khu học xá.Giếng: Để đảm bảo mục tiêu xây dựng một bệnh viện hiện đại, các kiến trúc sư đã tạo ra một hệ thống giếng riêng biệt. Rác thải y tế ở các ao hồ lân cận được vớt lên bằng một hệ thống phức tạp và hoàn thiện và đều được khử trùng.Cơ quan quản lý:Ban đầu, bệnh viện Bạch Mai cũng như tất cả các bệnh viện Đông Dương ở Hà Nội đều trực thuộc Phủ Thống sứ Bắc Kỳ.Từ tháng 1/1943, bệnh viện Bạch Mai nằm trong Nhóm các bệnh viện kiêm nhiệm công tác giảng dạy, trực thuộc Tổng thanh tra Vệ sinh và Y tế công cộng.Tính đến năm 1944, bệnh viện Bạch Mai có khoảng 900 giường bệnh, con số này hiện nay đã tăng lên 1400 và bệnh viện Bạch Mai vẫn là một trong những bệnh viện đầu ngành trên phạm vi cả nước.Bùi Thị Hệ - Trung tâm Lưu trữ quốc gia ITài liệu tham khảoTC828.Indochine hebdomadaire illustré số 182 ra ngày 24/2/1944http:// bachmaihospital.orghttp://ashui.com

Bệnh viện Bạch Mai trong đồ án quy hoạch của người Pháp

Bệnh viện Bạch Mai do kiến trúc sư Charles Christian thiết kế là một trong những công trình mang đậm dấu ấn Pháp ở Hà Nội.
Sự phát triển mạnh mẽ của Dịch vụ Cứu trợ y tế ở Bắc Kỳ cùng niềm tin của dân chúng bản xứ vào những liệu pháp y tế hiện đại, bên cạnh đó là việc mở rộng giảng dạy ngành y ở Trường Đại học Đông Dương đã dẫn đến nhu cầu thiết lập mạng lưới bệnh viện ở Hà Nội trong những năm 1927-1928.

Bệnh viện Bảo hộ bản xứ (nay là bệnh viện Việt Đức) đã trở nên cũ kỹ và chật chội dù đã được quy hoạch và cải tạo nhiều lần.

Đó là những lý do dẫn đến sự ra đời của Bệnh viện René Robin, tiền thân của Bệnh viện Bạch Mai ngày nay.

Ý tưởng ban đầu:

Mô hình một bệnh viện ở ngoại ô ngay lập tức được thông qua. Đây cũng là ý tưởng khá phổ biến thời bấy giờ.

Dự kiến ban đầu là xây dựng bệnh viện theo mô hình phân tán, các toà nhà rải rác trên không gian rộng, xen kẽ giữa những vườn cây và nối với nhau bằng những hành lang cầu rộng rãi. Khẩu hiệu đặt ra đối với bệnh viện tương lai là: không gian, khí trời và ánh sáng. Địa điểm được lựa chọn là một khu đất rộng nằm bên đường Cái quan (nay là đường Giải Phóng), do Viện Chăn nuôi quản lý.

Gần khu đất đó, Sở Y tế Bắc Kỳ đã cho xây dựng Bệnh viện Lây Cống Vọng gồm khoảng 10 tòa nhà dành cho các bệnh nhân mắc bệnh truyền nhiễm (sởi, đậu mùa, dịch tả, viêm màng não, …). Khoảng trống bên cạnh Bệnh viện Lây, nằm giữa đường cái quan và ô Cầu Dền là nơi được Thống sứ Bắc Kỳ René Robin lựa chọn để xây dựng bệnh viện.

Khu đất nằm bên đường Cái quan và đường sắt, cách ga Hà Nội khoảng 3 cây số, là nơi giao thông thuận tiện và dễ dàng mở rộng sang phía Viện Chăn nuôi. Ở đó có sẵn một trạm bơm, đường dây diện và lưu thông gió rất rốt vào mùa nóng.
Quá trình thực hiện:

Công trình được xây dựng thành nhiều đợt. Đợt 1 bắt đầu vào năm 1929 và kết thúc năm 1934 gồm một tòa nhà điều trị, công trình phụ và khu hành chính. Đồ án thi công đầy đủ bao gồm:

1. Hai tòa nhà nhỏ, mỗi tòa khoảng 200 giường được dùng làm nhà hộ sinh và phòng khám chuyên khoa (khu A và khu B);

2. Hai tòa nhà lớn, mỗi tòa khoảng 300 giường; một là khu kĩ thuật y học (khu C), hai bên là hai phòng thí nghiệm lớn, một hội trường rộng rãi và một bảo tàng-thư viện; tòa nhà còn lại dành cho khoa Ngoại, xoay quanh khối phòng mổ hình tròn (khu D);

3. Một tòa nhà nằm hơi tách biệt, dành cho bệnh nhân tâm thần và tù nhân, từ 70 đến 80 chỗ (khu F);

4. Một tòa nhà dành cho khoa Nhi (khu E). Tòa nhà này đến năm 1944 vẫn chưa xây xong và khoa Nhi được sáp nhập vào Nhà hộ sinh;

5. Một nhà chờ (khu O) nằm ở giữa quần thể kiến trúc và được nối với các khoa bằng hệ thống hành lang cầu, bao gồm toàn bộ các phòng hành chính, phòng làm việc của ban giám đốc, phòng tiếp đón bệnh nhân, phân loại, chia về các khoa và cấp cứu.

Một khu điều trị khác nằm trong một dự án đặc biệt cũng chưa thể hoàn thành vào năm 1944 bởi lý do chiến tranh. Khu này có kiến trúc tương tự như khoa Ngoại, chỉ khác nhau ở phần thiết kế nội thất.

Các tòa nhà đều quay về hướng đông, nhìn ra đường cái quan, luôn có ánh sáng tự nhiên và có gió đông nam thổi suốt mùa hè.

Đầu năm 1940, do các tòa nhà của Bệnh viện Bảo hộ đã trở nên tối tăm và chật chội, tất cả các phòng ban trừ khoa Ngoại đã được chuyển sang Bệnh viện Bạch Mai.

Bố cục chung:

Trên một hành lang cầu theo trục Bắc-Nam, khối điều trị nằm ở phía đông bố trí theo kiểu răng lược. Giữa các răng lược là vườn cây, các bậc thềm với đường dốc dành cho xe cấp cứu. Những tòa nhà lớn gồm nhiều phòng 40 giường, trong đó có 16 giường cách ly. Những tòa nhà nhỏ hơn gồm các phòng 20 giường với 2 hoặc 6 giường cách ly.

Nhiều đường hầm rộng rãi được quy hoạch dọc theo đường trục để vận chuyển cáng cứu thương, phía trên đường hầm xây dựng nhiều phòng kín, để chứa đồ hoặc dụng cụ y tế.

Phòng thí nghiệm và hội trường:

Các kiến trúc sư không chỉ muốn xây dựng một bệnh viện rộng rãi, tiện nghi mà còn muốn mở một cơ sở thực hành cho các sinh viên ngành y và y tá trường Nữ hộ sinh.

Họ đã thiết kế nhiều giảng đường và phòng thí nghiệm. Mỗi tòa nhà đều có một giảng đường. Mỗi khoa có một phòng thí nghiệm riêng.

Khu kĩ thuật y học (khu C) là nơi đặt hai phòng thí nghiệm trung tâm: phòng chụp X-quang và phòng Vi sinh và Phẫu thuật. Giữa hai phòng thí nghiệm là một hội trường lớn và một bảo tàng-thư viện.

Đáng tiếc là những yêu cầu về mặt kiến trúc không cho phép thêm vào quần thể này một phòng thí nghiệm Sinh hóa, một yếu tố quan trọng trong chẩn đoán y khoa. Phòng thí nghiệm Sinh hóa được đặt ở cuối tòa nhà phụ của khối Dược phẩm.

Công trình phụ trợ:

Phòng khử trùng - mỗi khoa có các dụng cụ khử trùng chuyên biệt.

Khoa Tai-Mũi-Họng và Nhà hộ sinh có các tủ khử trùng nước và dụng cụ mổ.

Nhà hộ sinh có hai phòng mổ hiện đại và một phòng làm việc rộng rãi, tiện nghi có thể tiếp nhận 10 đến 15 ca đẻ mỗi ngày.

Nước: Nước được phân phối rộng rãi trong toàn bệnh viện. Nước được lấy từ trạm bơm và các bể lọc của Viện Chăn nuôi, sân bay Bạch Mai và khu học xá.

Giếng: Để đảm bảo mục tiêu xây dựng một bệnh viện hiện đại, các kiến trúc sư đã tạo ra một hệ thống giếng riêng biệt. Rác thải y tế ở các ao hồ lân cận được vớt lên bằng một hệ thống phức tạp và hoàn thiện và đều được khử trùng.
Cơ quan quản lý:

Ban đầu, bệnh viện Bạch Mai cũng như tất cả các bệnh viện Đông Dương ở Hà Nội đều trực thuộc Phủ Thống sứ Bắc Kỳ.

Từ tháng 1/1943, bệnh viện Bạch Mai nằm trong Nhóm các bệnh viện kiêm nhiệm công tác giảng dạy, trực thuộc Tổng thanh tra Vệ sinh và Y tế công cộng.

Tính đến năm 1944, bệnh viện Bạch Mai có khoảng 900 giường bệnh, con số này hiện nay đã tăng lên 1400 và bệnh viện Bạch Mai vẫn là một trong những bệnh viện đầu ngành trên phạm vi cả nước.

Bùi Thị Hệ - Trung tâm Lưu trữ quốc gia I

Tài liệu tham khảo

TC828.Indochine hebdomadaire illustré số 182 ra ngày 24/2/1944

http:// bachmaihospital.org

http://ashui.com

Tấm thẻ ngà của học sinh trường Y khoa Đông Dương năm 1902Hiệu trưởng Yersin ký quyết định cho phép học sinh được đeo thẻ bài có khắc dòng chữ Hán

Tấm thẻ ngà của học sinh trường Y khoa Đông Dương năm 1902

Hiệu trưởng Yersin ký quyết định cho phép học sinh được đeo thẻ bài có khắc dòng chữ Hán "Học sinh Y khoa Đông Dương". Đây là một vinh dự rất lớn vì ngày đó, chỉ các quan Nam Triều mới được đeo thẻ bài. Đeo thẻ bài thì phải mặc Nam phục (áo dài may bằng the, đoạn, hoặc gấm, khăn xếp, dép da) để đeo vào khuy áo bên phải ngực. Mới vào học trường Y mà đã ra dáng một vị đường quan rồi. Hiệu trưởng tỏ ra rất hiểu và thông cảm với tâm lý học sinh nên mới có quyết định này. Có lẽ điều đó cũng phản ánh quan niệm của hiệu trưởng: trường sẽ đào tạo ra các trí thức cao cấp cho xã hội, không phải chỉ đơn giản là những anh y sĩ phụ việc như trong quyết định thành lập.

Bệnh viện Quân đội (Hôpital Militaire) nay là bệnh viện Nhi Đồng 2Là một trong những bệnh viện lâu đời nhất Châu Á, được thành lập vào năm 1862 bởi đô đốc Louis - Adolphe Bonard (1805-1867), bệnh viện của quân đội Pháp ban đầu nằm ở góc đông nam ngã tư của đường Nationale [Hai Bà Trưng] và đại lộ Norodom [Lê Duẩn], mà hiện giờ là tòa nhà  Tập đoàn Kumho Asiana Plaza.Chức năng chính của bệnh viện là phục vụ cho lực lượng thủy quân lục chiến, đồn trú tạm thời ở phía bắc của ngả tư. Tuy nhiên, ngay từ đầu bệnh viện điều trị luôn cho công chức thuộc địa cũng như binh sĩ Pháp và Việt. Bệnh viện được điều hành bởi các bác sĩ quân đội Pháp, với sự hỗ trợ điều dưỡng bởi các nữ tu dòng Saint - Paul de Chartres.Cấu trúc các tòa nhà trong khuôn viên đều là sườn sắt tiền chế đem ráp lại trên nền bằng đá. Mọi vật liệu mang từ Pháp sang.Nơi đây trên dãy lầu nhỏ của bệnh viện, Albert Calmette (1863-1933), với nhiệm vụ phát triển vắc-xin chống bệnh dại và bệnh đậu mùa, đã thành lập viện Pasteur đầu tiên bên ngoài nước Pháp vào năm 1891.Trong hồi ký của mình năm 1905, cựu toàn quyền Đông Dương Paul Doumer (1897-1902) mô tả các bệnh viện quân sự như

Bệnh viện Quân đội (Hôpital Militaire) nay là bệnh viện Nhi Đồng 2

Là một trong những bệnh viện lâu đời nhất Châu Á, được thành lập vào năm 1862 bởi đô đốc Louis - Adolphe Bonard (1805-1867), bệnh viện của quân đội Pháp ban đầu nằm ở góc đông nam ngã tư của đường Nationale [Hai Bà Trưng] và đại lộ Norodom [Lê Duẩn], mà hiện giờ là tòa nhà Tập đoàn Kumho Asiana Plaza.

Chức năng chính của bệnh viện là phục vụ cho lực lượng thủy quân lục chiến, đồn trú tạm thời ở phía bắc của ngả tư. Tuy nhiên, ngay từ đầu bệnh viện điều trị luôn cho công chức thuộc địa cũng như binh sĩ Pháp và Việt.
Bệnh viện được điều hành bởi các bác sĩ quân đội Pháp, với sự hỗ trợ điều dưỡng bởi các nữ tu dòng Saint - Paul de Chartres.
Cấu trúc các tòa nhà trong khuôn viên đều là sườn sắt tiền chế đem ráp lại trên nền bằng đá. Mọi vật liệu mang từ Pháp sang.
Nơi đây trên dãy lầu nhỏ của bệnh viện, Albert Calmette (1863-1933), với nhiệm vụ phát triển vắc-xin chống bệnh dại và bệnh đậu mùa, đã thành lập viện Pasteur đầu tiên bên ngoài nước Pháp vào năm 1891.

Trong hồi ký của mình năm 1905, cựu toàn quyền Đông Dương Paul Doumer (1897-1902) mô tả các bệnh viện quân sự như "với các tòa nhà lớn và các khu vườn lót đầy cây và hoa của nó, cho một ấn tượng của vẻ đẹp thanh bình làm giảm cơn đau, và cái chết ngọt ngào cho những người sẽ chết - quá nhiều, than ôi "

Từ năm 1905 trở đi cơ sở y tế này dưới sự điều hành của bác sĩ Charles Grall, mở cửa chữa trị cho mọi thành phần, quân sự cũng như dân sự kể cả dân bản xứ. Năm 1925 Bệnh viện Quân sự chính thức sang tên "Bệnh viện Grall" để vinh danh Giám đốc Y tế Nam Kỳ, bác sĩ Charles Grall.

Tháng Tư năm 1945 thời Đệ nhị Thế chiến, bệnh viện bị trúng bom của quân Đồng Minh, phá sập mé phía bắc, tiêu hủy các phòng thí nghiệm.

Trong suốt cuối thời kỳ thuộc địa, cơ sở vật chất của bệnh viện tiếp tục mở rộng, và tới những năm đầu thập niên 1950, bệnh viện Grall cung cấp hơn 500 giường bệnh và đã được công nhận là lá cờ đầu của nền y học Pháp ở Đông Nam Á.

Sau sự rút lui của Pháp cuối cùng từ Đông Dương vào tháng Tư năm 1956, một thỏa thuận đã được ký kết giữa Pháp và Bộ Ngoại giao Việt Nam Cộng Hòa, cho phép người Pháp tiếp tục điều hành bệnh viện. Trong những năm 1960, nhân viên y tế Pháp của bệnh viện điều hành các chương trình đào tạo tại các trường đại học và giảng dạy ở các bệnh viện, thiết lập các trung tâm điều trị bệnh phong và bệnh bại liệt, và thực hiện một số dự án nghiên cứu quan trọng về bệnh lý học Đông Nam Á.

Ngày 3-11-1966, quân biệt động tổ chức pháo kích DKZ vào nhiều địa điểm trong thành phố Sài Gòn trong đó có bệnh viện Grall để phá hoại lễ quốc khánh của VNCH, tổng cộng trong ngày có 8 người chết và 37 người bị thương nặng.

Vào cuối Tháng Tư, 1975 trong đợt tấn công cuối cùng vào Sài Gòn, Bệnh viện Grall bị tràn ngập, bệnh nhân trọng thương vì chiến trận lên đến 222 người chỉ trong ba ngày cuối cùng.

Năm 1976 Bệnh viện Grall chuyển giao cho nhà chức trách Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam và người Pháp rút đi. Năm 1978 Bệnh viện Grall đổi tên thành Bệnh viện Nhi đồng 2, chấm dứt thời kỳ bệnh viện tổng quát và trở thành bệnh viện chuyên môn nhi khoa.

Ảnh: Cổng chính bệnh viện của quân đội Pháp đầu thế kỷ 20 (The main entrance to the Military Hospital in the early 20th century)

Xem Thêm