Các cổng làng.

Ngôi làng truyền thống Việt Nam vào đầu thế kỷ 20 ở vùng đồng bằng sông Hồng thường tập trung gọn vào một phạm vi không gian bao bọc bởi lũy tre. Làng thường có một lối vào chính, gọi là cổng trước hay cổng tiền; và một lối nhỏ hơn gọi là cổng sau. Việc xuất nhập bị hạn chế qua hai lối này. Lối đi từ cổng trước đến cổng sau là con đường chính trong làng.
Cổng là ranh giới ước lệ, biểu hiện quyền uy của làng xã. Có làng còn dựng cả bia với hai chữ Nho 下馬 hạ mã ở bên cổng để nhắc nhở ai qua cổng, ngay cả những người quyền quý cũng phải xuống ngựa để tỏ ý tôn trọng lệ làng.
Thời loạn lạc cổng làng được đóng kín, nhất là ban đêm lại có thêm tuần phu canh gác.
Cổng làng có thể mang dạng cổng tam quan hay còn gọi là tam môn, tức ba lối đi: một lối chính và hai lối ngách. Lối ngách dùng hàng ngày; chỉ khi có nghi lễ mới mở lối giữa. Thông thường thì cổng chỉ làm một lối xây vòm (cuốn tò vò) hoặc vuông góc. Cổng trước xây to lớn hơn, trên trán cửa thì ghi tên làng hoặc một câu liên quan đến địa phương đó, làm như bức hoành phi.Trường hợp làng Nhị Khê, huyện Thường Tín, thuộc Hà Nội nơi có đền thờ đại công thần Nguyễn Trãi thì cổng làng viết bốn chữ 如見大寶 Như kiến đại bảo, nghĩa là "như thấy điều quý báu lớn" nói lên niềm tự hào của làng. Dù cho loại xây chỉ có một lối đi, cổng làng có thể xây thêm hai "cổng mã" hai bên, tức hình dáng như một lối đi nhưng xây bít đặc.Để cân đối, có khi đắp thêm trụ biểu cao ở hai bên như cổng làng Thổ Hà. Làng văn vẻ hoặc trù phú còn làm thêm câu đối vinh danh hoặc ca tụng lịch sử làng.Cổng làng Vân, tỉnh Bắc Giang có truyền thống nấu rượu ngon nên cổng làng viết đôi câu đối:
Vân hương mỹ tửu lừng biển Bắc
Chiến công như nguyệt rạng trời Nam.
Cũng như những công trình xây cất truyền thống khác, phép chọn phương hướng để xây cổng làng bị chi phối bởi học thuật phong thủy. Llý tưởng nhất thì cổng trước nhìn ra hướng đông, cổng sau ra hướng tây.
Vật liệu xây là gạch hoặc đá đắp thêm vữa, trên làm mái. Cầu kỳ thì làm hai tầng mái (chồng diêm) hoặc xây gác giống vọng lâu với mái cong. Nóc mái thì đắp rồng, phượng, cá hóa long, quả bầu v.v. Làng nghèo thì cổng chỉ bằng gỗ tre.
Bố cục thường gắn bó với cổng làng là cây đa nên biểu tượng chung của làng quê Việt Nam miền Bắc là: cây đa, giếng nước, sân đình vì đó là ba nơi tụ họp của mọi tầng lớp xã hội nông thôn.
Cổng làng Ước Lễ - Thanh Oai- Hà Nội, đặc trưng của đồng bằng Bắc Bộ.
Cổng làng là sản phẩm kiến trúc cổ của người Việt Nam. Cổng làng phân chia phần đất thổ cư (đất làm nhà ở, vườn) và phần đất canh tác (đất trồng lúa, trồng khoai, hoa màu). Người sống sau cái cổng làng, người chết chôn bên ngoài cái cổng làng. Cổng làng có vị trí rất quan trọng trong đời sống thực và đời sống tâm linh của con người.
Trong khi cổng trước mang nhiệm vụ nghênh tiếp, cổng sau hàm ý tiễn đưa. Ví dụ như người chết thì sẽ được đưa ra tha ma bằng cổng sau. Người bị làng phạt vạ cũng phải đi cổng sau.[6]
Cổng tiền: tức cổng trước thường trổ về hướng Đông Nam, hướng của gió lành, hướng của mặt trời mọc. Cổng tiền là Cổng chính, cổng trước của làng, thường dành cho người sống; Cổng tiền là nơi đón người đi làm đồng về, đón khách lạ, đón quan kinh ký, đón người đăng khoa đỗ đạt, đón kẻ tha hương cầu thực trở về bản quán và quan trọng nhất là đón dâu mới nhập làng. Nghĩa là đón nhận những gì tốt đẹp nhất - Đón sự sống, đón phúc lộc vào ngôi làng.
Cổng hậu: tức cổng sau thường trổ ra hướng Tây, hướng mặt trời lặn. Cổng hậu là cổng phụ, cổng sau của làng, thường dành cho người chết; Cổng hậu dành để tiễn người chết ra nghĩa trang, tống khứ kẻ xấu ra khỏi làng. Kẻ nào bị làng phạt vạ đuổi khỏi làng bao giờ cũng phải đi ra bằng cổng hậu. Nghĩa là cái cổng hậu có chức năng tống tiễn những gì không xứng đáng được tồn tại trong làng - Ma quỷ, trộm cắp, bất lương... ra khỏi cõi sống, xua đuổi chúng vào cõi chết.
Cổng làng Ước Lễ - Thanh Oai- Hà Nội, đặc trưng của đồng bằng Bắc Bộ.
Cổng làng là sản phẩm kiến trúc cổ của người Việt Nam. Cổng làng phân chia phần đất thổ cư (đất làm nhà ở, vườn) và phần đất canh tác (đất trồng lúa, trồng khoai, hoa màu). Người sống sau cái cổng làng, người chết chôn bên ngoài cái cổng làng. Cổng làng có vị trí rất quan trọng trong đời sống thực và đời sống tâm linh của con người.
Trong khi cổng trước mang nhiệm vụ nghênh tiếp, cổng sau hàm ý tiễn đưa. Ví dụ như người chết thì sẽ được đưa ra tha ma bằng cổng sau. Người bị làng phạt vạ cũng phải đi cổng sau.[6]
Cổng tiền: tức cổng trước thường trổ về hướng Đông Nam, hướng của gió lành, hướng của mặt trời mọc. Cổng tiền là Cổng chính, cổng trước của làng, thường dành cho người sống; Cổng tiền là nơi đón người đi làm đồng về, đón khách lạ, đón quan kinh ký, đón người đăng khoa đỗ đạt, đón kẻ tha hương cầu thực trở về bản quán và quan trọng nhất là đón dâu mới nhập làng. Nghĩa là đón nhận những gì tốt đẹp nhất - Đón sự sống, đón phúc lộc vào ngôi làng.
Cổng hậu: tức cổng sau thường trổ ra hướng Tây, hướng mặt trời lặn. Cổng hậu là cổng phụ, cổng sau của làng, thường dành cho người chết; Cổng hậu dành để tiễn người chết ra nghĩa trang, tống khứ kẻ xấu ra khỏi làng. Kẻ nào bị làng phạt vạ đuổi khỏi làng bao giờ cũng phải đi ra bằng cổng hậu. Nghĩa là cái cổng hậu có chức năng tống tiễn những gì không xứng đáng được tồn tại trong làng - Ma quỷ, trộm cắp, bất lương... ra khỏi cõi sống, xua đuổi chúng vào cõi chết.
cổng làng Ước Lễ nhìn từ phía trong: 
Giống như một số cổng làng khác,  có bốn mảng kiến trúc: vòm cổng, mặt cổng, trụ cổng và mái cổng. Những thành phần kiến trúc này không rời rẽ mà cấu kết với nhau, tạo sự bền vững, hài hòa, có giá trị thẩm mỹ.

Trên mặt trước cổng, đắp nổi ba chữ Ước Lễ môn (Cổng làng Ước Lễ). Ước Lễ không chỉ là tên làng mà còn là triết lý của Nho Giáo được dân làng tiếp nhận. Ước, Lễ là chữ dùng xuất phát từ lời của Khổng Tử (Bác học dĩ văn, ước chi dĩ lễ), ý nói muốn học rộng thì phải dựa vào văn (tức văn hóa); học đã rộng rồi thì phải chế định (Ước) bằng Lễ, ấy là điều cần thiết của người học rộng. Lấy Ước Lễ đặt tên làng thể hiện quan niệm trong cuộc sống phải luôn luôn giữ lễ. 

ở mặt sau cổng làng Ước Lễ và ở nhiều cổng làng khác có chữ Thiểu cao đại. Ba chữ này là một điển tích trong Hán thư, nói về ông quan đời Hán tên là Vu Định Quốc, làm quan trong triều. Khi về quê ông thấy con cháu đang làm nhà, bèn dặn con cháu, làm cửa phải cao hơn một chút (thiểu cao đại). Có ý mong cho sau này con cháu làm quan to, thì xe ngựa mới đi vừa. Dùng điển tích xưa đắp trên cổng nơi dân làng thường qua lại, cũng là nhắc nhở mọi người phải có chí học hành, tiến thủ để được thành đạt trong cuộc sống.

Cổng làng Ước Lễ được xây dựng ở đầu làng, mở lối đi lại trên con đường chính vào làng. Do vậy, thành phần kiến trúc thứ hai, phần rất quan trọng của cổng là vòm cổng (lối cổng). Vòm cổng làng Ước Lễ xây cuốn hình vòm parapol, đây chính là sự phối hợp của hình vuông và hình tròn theo triết lý âm dương của người Việt. Vòm cổng được ghép bằng gạch viên và chít bằng vữa tạo thành vòm cong với đường lượn khéo léo. Trước đây, dưới vòm cổng còn có cửa làm bằng gỗ lim kiên cố, do tuần đinh đóng mở theo giờ quy định. Vòm cổng có tỷ lệ khá đẹp, vừa vặn với tỷ lệ của cả cổng, chiều cao 2,2m, chiều rộng 1,5m. Tỷ lệ này không chỉ hợp với nhu cầu đi lại của người dân mà có tác dụng cản những xe quá lớn vào làng để giữ cho không gian của làng được yên tĩnh và sự vững bền của các công trình trong làng không bị ảnh hưởng.

Xét về tính chất tạo hình, có lẽ trụ cổng và mái mới chính là bộ phận tạo nên bộ mặt thẩm mỹ, tạo nên sự khác biệt về hình thức giữa các cổng làng. Nếu trụ phía dưới được xây nằm lẫn vào mảng tường cổng thì các trụ bên trên lại góp thêm phần làm đẹp dáng cho cổng. Hai bên trụ cổng dưới còn được trang trí hình cá chép như nhắc đến tích cá vượt vũ môn nhắc nhở con cháu trong làng luôn phải chăm lo cho việc học hành. Phía trên vòm và mặt cổng được xây một vọng lâu có mái che cong vút.

Những trụ cổng bên trên vút lên cùng đầu đao của mái cổng tạo nên sự thanh thoát. Đây cũng là một thành phần không thể thiếu ở các cổng thành và cả cổng làng mang tính chất quân sự, ta có thể tìm thấy sự tương đồng này ở một vài kiến trúc xưa hiện còn, ví dụ như ở Ô Quan Chưởng.

Vọng lâu trước đây có tác dụng như chòi canh gác những kẻ xấu hay địch xâm nhập làng. Ngày nay, nó chỉ còn tác dụng làm đẹp cho cổng làng và để trong những ngày hội, làng treo cờ trên đó. Mái của vọng lâu cổng làng Ước Lễ gồm hai tầng, tám mái, được lợp bằng ngói ống lưu li. Mái cổng có mang đôi chút đặc điểm của Trung Hoa nhưng bật lên vẫn mang đặc trưng của Việt Nam với mái thẳng và hếch cong ở góc mái tạo nên sự thanh thoát của đầu đao, lấy từ cảm hứng mũi thuyền của nền văn hóa sông nước. 

Phía trên cùng là bờ nóc có đặt gạch hoa chanh, đỉnh mái tạo hình đầu rồng nhìn chính diện, trên cùng là hình mặt trời với những tia lửa. Trang trí cầu kỳ trên mái đã thực sự trở thành điểm nhấn của nghệ thuật tạo hình cho kiến trúc cổng.

Các kiểu thức kết hợp chạm khắc, trang trí với kiến trúc cổng làng Ước Lễ đã có sự thay đổi. Thực tế, đây là một vấn đề khó nhận định bởi các chạm khắc, trang trí trên cổng có số lượng ít. Hầu hết tất cả các phù điêu, chạm khắc trên cổng đều là sản phẩm của các thế kỷ sau, không mang dấu ấn, đặc điểm của chạm khắc thời Mạc. ở đây, ngoài ý nghĩa làm đẹp, chúng là những thành phần thêm vào, làm tăng thêm yếu tố biểu hiện cũng như ý nghĩa tượng trưng của cổng. 

Thường xuất hiện nhiều ở các cánh cửa, nghi môn... là hình tượng dơi dưới dạng ngậm chữ phước, gắn với yếu tố cầu phúc. ở cổng làng Ước Lễ, dơi được thể hiện trong tư thế bám vào cạnh mặt cổng có ghi đại tự, đầu lộn xuống hướng về câu đối cạnh cổng. Dơi được tạo hình gần với thực nhưng cánh mảnh và dài hơn, đầu cánh được cuộn tròn lại và phần nào trông giống như hoa lá cách điệu. Hai con dơi chạm trên cổng này ít nhiều đã được khái quát hóa, hình thức mảnh mai và được vũ trụ hóa bằng vân xoắn trên thân để mang nhiều ý nghĩa thiêng liêng. Như thế, nó không chỉ mang tư cách trang trí đơn thuần mà còn chứa đựng một ý nghĩa cao xa hơn: con đường, lối cổng vào làng chính là cánh cửa đến nơi hạnh phúc.

Hình ảnh cá chép thể hiện trên cổng gần gũi với thực tế, có đường nét sinh động mà cách giải quyết lại hết sức đơn giản. Khúc đuôi của cá được uốn nhẹ chút ít, tạo nên thế cong vừa đủ để phá đi cái nặng, tĩnh của đầu và thân. Từ trên hai trụ cổng, đôi cá lao xuống chầu vào mặt và vòm cổng, giống như hình ảnh của tranh dân gian Lý ngư vọng nguyệt. Ở nhiều di tích kiến trúc, lân là một linh vật khá phổ biến. Lân có nhiệm vụ đứng ở cửa đình, đền với tư cách là thú chầu hai bên linh đạo. 

ở cổng làng Ước Lễ, lân được chạm khắc cũng với ý nghĩa như vậy. Lân được chạm tròn và xử lý khéo về hình thức khiến nó hòa nhập hoàn toàn với mảng chạm đại tự trên mặt cổng, làm cho phần mặt cổng trở nên sinh động hơn. ở đây, lân được chạm đi đôi với rùa trong hình thức đắp nổi. Biểu tượng muôn thủa mà rùa thường mang theo là sự bền vững, tượng trưng cho sự trường tồn và cao quý, thể hiện cho mong muốn những lời dạy bảo của người xưa dành cho con cháu sẽ được giữ mãi

Nhiều và phủ dày đặc nhất trên kiến trúc cổng là các đồ án trang trí hoa thị chạy dọc trên diềm mái vọng lâu và thành lan can phía trên cổng làm thay đổi cảm giác về những đường thẳng đơn điệu trên kiến trúc cổng, tạo nên một nhịp điệu lên xuống nhịp nhàng của những cánh hoa. Sự có mặt của các đồ án hoa văn này đã phần nào làm thay đổi diện mạo của kiến trúc cổng làng Ước Lễ, làm cho nó duyên dáng hơn, nhẹ nhàng hơn cái kết cấu kiểu cổng thành vốn bề thế, chắc chắn nhưng nặng nề.
Cổng làng Ước Lễ hơi thiên về chất hoành tráng và điêu khắc nhưng trên nguyên tắc không thiên về tính đồ sộ, đối chọi hay lấn át thiên nhiên.
cổng làng Ước Lễ nhìn từ phía trong:
Giống như một số cổng làng khác, có bốn mảng kiến trúc: vòm cổng, mặt cổng, trụ cổng và mái cổng. Những thành phần kiến trúc này không rời rẽ mà cấu kết với nhau, tạo sự bền vững, hài hòa, có giá trị thẩm mỹ.

Trên mặt trước cổng, đắp nổi ba chữ Ước Lễ môn (Cổng làng Ước Lễ). Ước Lễ không chỉ là tên làng mà còn là triết lý của Nho Giáo được dân làng tiếp nhận. Ước, Lễ là chữ dùng xuất phát từ lời của Khổng Tử (Bác học dĩ văn, ước chi dĩ lễ), ý nói muốn học rộng thì phải dựa vào văn (tức văn hóa); học đã rộng rồi thì phải chế định (Ước) bằng Lễ, ấy là điều cần thiết của người học rộng. Lấy Ước Lễ đặt tên làng thể hiện quan niệm trong cuộc sống phải luôn luôn giữ lễ.

ở mặt sau cổng làng Ước Lễ và ở nhiều cổng làng khác có chữ Thiểu cao đại. Ba chữ này là một điển tích trong Hán thư, nói về ông quan đời Hán tên là Vu Định Quốc, làm quan trong triều. Khi về quê ông thấy con cháu đang làm nhà, bèn dặn con cháu, làm cửa phải cao hơn một chút (thiểu cao đại). Có ý mong cho sau này con cháu làm quan to, thì xe ngựa mới đi vừa. Dùng điển tích xưa đắp trên cổng nơi dân làng thường qua lại, cũng là nhắc nhở mọi người phải có chí học hành, tiến thủ để được thành đạt trong cuộc sống.

Cổng làng Ước Lễ được xây dựng ở đầu làng, mở lối đi lại trên con đường chính vào làng. Do vậy, thành phần kiến trúc thứ hai, phần rất quan trọng của cổng là vòm cổng (lối cổng). Vòm cổng làng Ước Lễ xây cuốn hình vòm parapol, đây chính là sự phối hợp của hình vuông và hình tròn theo triết lý âm dương của người Việt. Vòm cổng được ghép bằng gạch viên và chít bằng vữa tạo thành vòm cong với đường lượn khéo léo. Trước đây, dưới vòm cổng còn có cửa làm bằng gỗ lim kiên cố, do tuần đinh đóng mở theo giờ quy định. Vòm cổng có tỷ lệ khá đẹp, vừa vặn với tỷ lệ của cả cổng, chiều cao 2,2m, chiều rộng 1,5m. Tỷ lệ này không chỉ hợp với nhu cầu đi lại của người dân mà có tác dụng cản những xe quá lớn vào làng để giữ cho không gian của làng được yên tĩnh và sự vững bền của các công trình trong làng không bị ảnh hưởng.

Xét về tính chất tạo hình, có lẽ trụ cổng và mái mới chính là bộ phận tạo nên bộ mặt thẩm mỹ, tạo nên sự khác biệt về hình thức giữa các cổng làng. Nếu trụ phía dưới được xây nằm lẫn vào mảng tường cổng thì các trụ bên trên lại góp thêm phần làm đẹp dáng cho cổng. Hai bên trụ cổng dưới còn được trang trí hình cá chép như nhắc đến tích cá vượt vũ môn nhắc nhở con cháu trong làng luôn phải chăm lo cho việc học hành. Phía trên vòm và mặt cổng được xây một vọng lâu có mái che cong vút.

Những trụ cổng bên trên vút lên cùng đầu đao của mái cổng tạo nên sự thanh thoát. Đây cũng là một thành phần không thể thiếu ở các cổng thành và cả cổng làng mang tính chất quân sự, ta có thể tìm thấy sự tương đồng này ở một vài kiến trúc xưa hiện còn, ví dụ như ở Ô Quan Chưởng.

Vọng lâu trước đây có tác dụng như chòi canh gác những kẻ xấu hay địch xâm nhập làng. Ngày nay, nó chỉ còn tác dụng làm đẹp cho cổng làng và để trong những ngày hội, làng treo cờ trên đó. Mái của vọng lâu cổng làng Ước Lễ gồm hai tầng, tám mái, được lợp bằng ngói ống lưu li. Mái cổng có mang đôi chút đặc điểm của Trung Hoa nhưng bật lên vẫn mang đặc trưng của Việt Nam với mái thẳng và hếch cong ở góc mái tạo nên sự thanh thoát của đầu đao, lấy từ cảm hứng mũi thuyền của nền văn hóa sông nước.

Phía trên cùng là bờ nóc có đặt gạch hoa chanh, đỉnh mái tạo hình đầu rồng nhìn chính diện, trên cùng là hình mặt trời với những tia lửa. Trang trí cầu kỳ trên mái đã thực sự trở thành điểm nhấn của nghệ thuật tạo hình cho kiến trúc cổng.

Các kiểu thức kết hợp chạm khắc, trang trí với kiến trúc cổng làng Ước Lễ đã có sự thay đổi. Thực tế, đây là một vấn đề khó nhận định bởi các chạm khắc, trang trí trên cổng có số lượng ít. Hầu hết tất cả các phù điêu, chạm khắc trên cổng đều là sản phẩm của các thế kỷ sau, không mang dấu ấn, đặc điểm của chạm khắc thời Mạc. ở đây, ngoài ý nghĩa làm đẹp, chúng là những thành phần thêm vào, làm tăng thêm yếu tố biểu hiện cũng như ý nghĩa tượng trưng của cổng.

Thường xuất hiện nhiều ở các cánh cửa, nghi môn... là hình tượng dơi dưới dạng ngậm chữ phước, gắn với yếu tố cầu phúc. ở cổng làng Ước Lễ, dơi được thể hiện trong tư thế bám vào cạnh mặt cổng có ghi đại tự, đầu lộn xuống hướng về câu đối cạnh cổng. Dơi được tạo hình gần với thực nhưng cánh mảnh và dài hơn, đầu cánh được cuộn tròn lại và phần nào trông giống như hoa lá cách điệu. Hai con dơi chạm trên cổng này ít nhiều đã được khái quát hóa, hình thức mảnh mai và được vũ trụ hóa bằng vân xoắn trên thân để mang nhiều ý nghĩa thiêng liêng. Như thế, nó không chỉ mang tư cách trang trí đơn thuần mà còn chứa đựng một ý nghĩa cao xa hơn: con đường, lối cổng vào làng chính là cánh cửa đến nơi hạnh phúc.

Hình ảnh cá chép thể hiện trên cổng gần gũi với thực tế, có đường nét sinh động mà cách giải quyết lại hết sức đơn giản. Khúc đuôi của cá được uốn nhẹ chút ít, tạo nên thế cong vừa đủ để phá đi cái nặng, tĩnh của đầu và thân. Từ trên hai trụ cổng, đôi cá lao xuống chầu vào mặt và vòm cổng, giống như hình ảnh của tranh dân gian Lý ngư vọng nguyệt. Ở nhiều di tích kiến trúc, lân là một linh vật khá phổ biến. Lân có nhiệm vụ đứng ở cửa đình, đền với tư cách là thú chầu hai bên linh đạo.

ở cổng làng Ước Lễ, lân được chạm khắc cũng với ý nghĩa như vậy. Lân được chạm tròn và xử lý khéo về hình thức khiến nó hòa nhập hoàn toàn với mảng chạm đại tự trên mặt cổng, làm cho phần mặt cổng trở nên sinh động hơn. ở đây, lân được chạm đi đôi với rùa trong hình thức đắp nổi. Biểu tượng muôn thủa mà rùa thường mang theo là sự bền vững, tượng trưng cho sự trường tồn và cao quý, thể hiện cho mong muốn những lời dạy bảo của người xưa dành cho con cháu sẽ được giữ mãi

Nhiều và phủ dày đặc nhất trên kiến trúc cổng là các đồ án trang trí hoa thị chạy dọc trên diềm mái vọng lâu và thành lan can phía trên cổng làm thay đổi cảm giác về những đường thẳng đơn điệu trên kiến trúc cổng, tạo nên một nhịp điệu lên xuống nhịp nhàng của những cánh hoa. Sự có mặt của các đồ án hoa văn này đã phần nào làm thay đổi diện mạo của kiến trúc cổng làng Ước Lễ, làm cho nó duyên dáng hơn, nhẹ nhàng hơn cái kết cấu kiểu cổng thành vốn bề thế, chắc chắn nhưng nặng nề.
Cổng làng Ước Lễ hơi thiên về chất hoành tráng và điêu khắc nhưng trên nguyên tắc không thiên về tính đồ sộ, đối chọi hay lấn át thiên nhiên.
Cổng làng cổ Đường Lâm-Sơn Tây-Hà Nội
Cổng làng cổ Đường Lâm-Sơn Tây-Hà Nội
Cổng làng Nôm, xã Đại Đồng, huyện Văn Lâm (Hưng Yên) là ngôi làng cổ duy nhất của phố Hiến còn tồn tại cho đến nay
Cổng làng Nôm, xã Đại Đồng, huyện Văn Lâm (Hưng Yên) là ngôi làng cổ duy nhất của phố Hiến còn tồn tại cho đến nay
Làng cổ Thổ Hà thuộc xã Vân Hà, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang.
Làng cổ Thổ Hà thuộc xã Vân Hà, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang.
Một cổng làng cổ ở Yên Thế - Bắc Giang.
Một cổng làng cổ ở Yên Thế - Bắc Giang.
Cổng nhà thờ họ
Cổng nhà thờ họ
Cổng làng Ước Lễ - Hà Nội nhìn từ phía trước.
Cổng làng Ước Lễ - Hà Nội nhìn từ phía trước.
Cổng làng ở Trung Bộ ( huyện Tây Giang -Quảng Nam)
Cổng làng ở Trung Bộ ( huyện Tây Giang -Quảng Nam)
Những nhân chứng của lịch sử bị thời gian, con người tàn phá.
Những nhân chứng của lịch sử bị thời gian, con người tàn phá.
. Cổng làng Cự Đà-Hà Nội
. Cổng làng Cự Đà-Hà Nội
Cổng làng Châu Khê-Hải Dương.
Cổng làng Châu Khê-Hải Dương.
Cổng làng Thanh Liệt - Hà Nội.
Cổng làng Thanh Liệt - Hà Nội.
Quan sát phía trên cổng làng để thấy rõ 4 số: 1947.
Quan sát phía trên cổng làng để thấy rõ 4 số: 1947.
Cổng làng Vân xã Vân Hà huyện Việt Yên - Bắc Giang
Cổng làng Vân xã Vân Hà huyện Việt Yên - Bắc Giang
Cổng làng Lai Xá, Hoài Đức, Hà Nội
Các cụ cao niên và chút hoài vọng nơi cổng làng đang xây mới?
Cổng làng Lai Xá, Hoài Đức, Hà Nội
Các cụ cao niên và chút hoài vọng nơi cổng làng đang xây mới?
Cổ kính, đơn sơ.
Cổ kính, đơn sơ.
Đường làng thay đổi nên cổng làng lạc lõng.
Đường làng thay đổi nên cổng làng lạc lõng.
Nóc cổng làng phải cõng thêm chiếc loa
Nóc cổng làng phải cõng thêm chiếc loa
Cổng làng Vinh Thạnh - Tuy Phước - Bình Định
Cổng làng Vinh Thạnh - Tuy Phước - Bình Định
Cổng làng Đồng Kỵ (P.Đồng Quang, Từ Sơn, Bắc Ninh
Cổng làng Đồng Kỵ (P.Đồng Quang, Từ Sơn, Bắc Ninh
Chiếc cổng làng thuần đá ong hơn 300 tuổi ở làng Chi Quan, huyện Thạch Thất-Hà Nội
Chiếc cổng làng thuần đá ong hơn 300 tuổi ở làng Chi Quan, huyện Thạch Thất-Hà Nội
Cổng làng Vẽ (Đông Ngạc, Từ Liêm, Hà Nội)
Cổng làng Vẽ (Đông Ngạc, Từ Liêm, Hà Nội)
Cổng làng văn hóa các dân tộc Việt Nam tại Đồng Mô - Sơn Tây (Hà Nội)
Cổng làng văn hóa các dân tộc Việt Nam tại Đồng Mô - Sơn Tây (Hà Nội)
Cổng làng Dương Xá - Gia Lâm - Hà Nội
Cổng làng Dương Xá - Gia Lâm - Hà Nội

Xem Thêm