Các nghề nghiệp xưa

Bán đồ gốm, Hà Nội
Bán đồ gốm, Hà Nội
Bán trầu cau
Bán trầu cau
Lấy ráy tai dạo, Hà Nội
Lấy ráy tai dạo, Hà Nội
Hớt tóc dạo, Sài Gòn
Hớt tóc dạo, Sài Gòn
Thợ mộc
Thợ mộc
Thợ vẽ
Thợ vẽ
Nghề khảm trai
Nghề khảm trai
Dệt tơ
Dệt tơ
Người thu tiền
Người thu tiền
Làm dầu ăn
Làm dầu ăn
Làm giấy, Hà Nội
Làm giấy, Hà Nội
Làm giấy, Hà Nội
Làm giấy, Hà Nội
Thợ săn Nam kỳ
Thợ săn Nam kỳ
Bán phở gánh, Nam kỳ
Bán phở gánh, Nam kỳ
Dàn nhạc lưu động, Hà Nội
Dàn nhạc lưu động, Hà Nội
Họa sĩ tranh dân gian Hàng Trống.
Họa sĩ tranh dân gian Hàng Trống.
Thợ điêu khắc gỗ, Trung kỳ
Thợ điêu khắc gỗ, Trung kỳ
Bán trà
Bán trà
Thợ rèn
Thợ rèn
Nấu rượu, Nam Định
Nấu rượu, Nam Định
Xem bói
Xem bói
Nhạc sĩ, Nam Kỳ
Nhạc sĩ, Nam Kỳ
Gánh hát rong của trẻ em, Nam kỳ
Gánh hát rong của trẻ em, Nam kỳ
Một đoàn xe chở thơ Saigon Can-Tho
Một đoàn xe chở thơ Saigon Can-Tho
Ðoàn vận tải thơ bằng chân!
Ðoàn vận tải thơ bằng chân!
Xe phát thơ Saigon Tay Ninh
Xe phát thơ Saigon Tay Ninh
Chỗ trú đêm trong rừng cho mấy người phát thơ
Chỗ trú đêm trong rừng cho mấy người phát thơ
Cắt tóc
Cắt tóc
Thợ in tranh
Thợ in tranh
Thợ làm lọng, Hà Nội

Ad DTT
Thợ làm lọng, Hà Nội

Ad DTT
Thợ xẻ, Bắc Kỳ

Ad DTT
Thợ xẻ, Bắc Kỳ

Ad DTT
Thợ thuộc da

Ad DTT
Thợ thuộc da

Ad DTT
Cửa hàng bán cân tiểu ly

Ad DTT
Cửa hàng bán cân tiểu ly

Ad DTT
Cửa hàng bán đồ thiếc, Hà Nội

Ad DTT
Cửa hàng bán đồ thiếc, Hà Nội

Ad DTT
Cửa hàng bán đồ đồng thau (lư hương, chân nến, mâm, nồi...), Bắc kỳ

Ad DTT
Cửa hàng bán đồ đồng thau (lư hương, chân nến, mâm, nồi...), Bắc kỳ

Ad DTT
Thợ đan nón rơm, Bắc kỳ

Ad DTT
Thợ đan nón rơm, Bắc kỳ

Ad DTT
Thợ khảm, Bắc kỳ

Ad DTT
Thợ khảm, Bắc kỳ

Ad DTT
Thợ làm mành, Hà Nội

Ad DTT
Thợ làm mành, Hà Nội

Ad DTT
Thợ sửa và bán giầy dép

Ad DTT
Thợ sửa và bán giầy dép

Ad DTT
Thơ xe tơ, Bắc kỳ

Ad DTT
Thơ xe tơ, Bắc kỳ

Ad DTT
Trường dạy nghề Hà Nội - Lớp dạy nghề khảm

Ad DTT
Trường dạy nghề Hà Nội - Lớp dạy nghề khảm

Ad DTT
Người bán trứng, Bắc kỳ 1904

Ad DTT
Người bán trứng, Bắc kỳ 1904

Ad DTT
Người bán gạo, Bắc kỳ

Ad DTT
Người bán gạo, Bắc kỳ

Ad DTT
Bà thầy bói, 1921

Ad DTT
Bà thầy bói, 1921

Ad DTT
Đan phên trên phố Hàng Mành, Hà Nội

Ad DTT
Đan phên trên phố Hàng Mành, Hà Nội

Ad DTT
Thợ đan mây tre, Bắc kỳ

Ad DTT
Thợ đan mây tre, Bắc kỳ

Ad DTT
Nhà nuôi tằm, Trung kỳ 

Ad DTT
Nhà nuôi tằm, Trung kỳ

Ad DTT
Thợ làm tượng gỗ, Bắc kỳ

Ad DTT
Thợ làm tượng gỗ, Bắc kỳ

Ad DTT
Thợ tiện, Hà Nội

Ad DTT
Thợ tiện, Hà Nội

Ad DTT
Thợ tiện làm chân nến, Bắc kỳ

Ad DTT
Thợ tiện làm chân nến, Bắc kỳ

Ad DTT
Thợ rèn, Hà Nội

Ad DTT
Thợ rèn, Hà Nội

Ad DTT
Thợ kim hoàn, Hà Nội

Ad DTT
Thợ kim hoàn, Hà Nội

Ad DTT
Làm bánh đa, Bắc kỳ

Ad DTT
Làm bánh đa, Bắc kỳ

Ad DTT
Thợ rèn, Bắc kỳ

Ad DTT
Thợ rèn, Bắc kỳ

Ad DTT
Hàng nước, Hà Nội

Ad DTT
Hàng nước, Hà Nội

Ad DTT
Nghề chạm gỗ, khảm trai

Ad DTT
Nghề chạm gỗ, khảm trai

Ad DTT
Thợ thêu lụa, Hà Nội

Ad DTT
Thợ thêu lụa, Hà Nội

Ad DTT
Phơi gạch, Hà Nội

Ad DTT
Phơi gạch, Hà Nội

Ad DTT
Thợ thêu và thợ vẽ, Bắc kỳ

Ad DTT
Thợ thêu và thợ vẽ, Bắc kỳ

Ad DTT
Thợ thêu, Bắc kỳ

Ad DTT
Thợ thêu, Bắc kỳ

Ad DTT
Thầy bói

Ad DTT
Thầy bói

Ad DTT
Thợ mộc, Hà Nội

Ad DTT
Thợ mộc, Hà Nội

Ad DTT
Sản xuất giấy, Hà Nội

Ad DTT
Sản xuất giấy, Hà Nội

Ad DTT
Thợ hàn nồi

Ad DTT
Thợ hàn nồi

Ad DTT
Mua bán đồng nát ở Hà Nội

Ad DTT
Mua bán đồng nát ở Hà Nội

Ad DTT
Vận chuyển hàng hóa bằng xe bù ệch (brouette) trên đường phố Hà Nội năm 1896.
Vận chuyển hàng hóa bằng xe bù ệch (brouette) trên đường phố Hà Nội năm 1896.
Các cô gái đi bán hoa bèo Nhật (Hà Nội 1894-1896).

Người chụp: Hocquard, bác sĩ phục vụ trong quân đội Pháp.
Các cô gái đi bán hoa bèo Nhật (Hà Nội 1894-1896).

Người chụp: Hocquard, bác sĩ phục vụ trong quân đội Pháp.
Nghề lấy ráy tai ở Hà Nội, năm 1884-1886.

Người chụp: Bác sĩ Hocquard mô tả: “Người thợ cạo thành Seville và khách hàng của mình ngồi trên một chiếc ghế dài để hai chân hai bên, mỗi người một đầu. Họ ngồi đối diện với nhau trong khi dao cạo lướt trên mặt… Anh ta bắt đầu ngoáy tai một cách tỉ mẩn… và kết thúc bằng cách đưa cái hạt tròn cắm đầu que vào tận màng nhĩ rồi xoay tròn một cách nhẹ nhàng; đây là giai đoạn thú vị nhất, nếu ta nhìn nét mặt của khách hàng, hai mắt lim dim và bày tỏ khoái cảm tột độ".
Nghề lấy ráy tai ở Hà Nội, năm 1884-1886.

Người chụp: Bác sĩ Hocquard mô tả: “Người thợ cạo thành Seville và khách hàng của mình ngồi trên một chiếc ghế dài để hai chân hai bên, mỗi người một đầu. Họ ngồi đối diện với nhau trong khi dao cạo lướt trên mặt… Anh ta bắt đầu ngoáy tai một cách tỉ mẩn… và kết thúc bằng cách đưa cái hạt tròn cắm đầu que vào tận màng nhĩ rồi xoay tròn một cách nhẹ nhàng; đây là giai đoạn thú vị nhất, nếu ta nhìn nét mặt của khách hàng, hai mắt lim dim và bày tỏ khoái cảm tột độ".
Đi nơm bắt cá, thời Pháp thuộc.
Đi nơm bắt cá, thời Pháp thuộc.
Nhổ mạ, thời Pháp thuộc.
Nhổ mạ, thời Pháp thuộc.
Những người ăn mày ở đất Bắc (thời Pháp thuộc).
Những người ăn mày ở đất Bắc (thời Pháp thuộc).
Một người bán mũ ở Nam Kỳ năm 1901 (Un marchand de chapeau ).
Một người bán mũ ở Nam Kỳ năm 1901 (Un marchand de chapeau ).
Làm đường mật, năm 1911. 

Fabrication des pains de sucre : mise en moules du sirop
Làm đường mật, năm 1911.

Fabrication des pains de sucre : mise en moules du sirop
Khu dân cư trong một đồn điền cao su năm 1926 ở Phú Thứ (Biên Hòa?).
Plantation de Phu Thu ; le personnel de la plantation
Khu dân cư trong một đồn điền cao su năm 1926 ở Phú Thứ (Biên Hòa?).
Plantation de Phu Thu ; le personnel de la plantation
Những vũ công ở thành Vinh (Nghệ An) năm 1903.

Danseuses Annamites à Vinh 
http://belleindochine.free.fr/images/Brossard/DanseusesAnnamitesBrossard.jpg
Những vũ công ở thành Vinh (Nghệ An) năm 1903.

Danseuses Annamites à Vinh
http://belleindochine.free.fr/images/Brossard/DanseusesAnnamitesBrossard.jpg
Xe cút kít (bù ệch-brouette) năm 1951.

Cấu tạo xe cút kít gồm một cái bánh xe bằng gỗ có đường kính 0,6m, dày 0,1m, trung điểm bánh xe có một cái lỗ tròn có đường kính 2cm để cho một cây trục xuyên qua. Người ta làm một cái sườn bằng tre, gồm có 2 đoạn tre dài hơn 1m gọi là càng xe, một bộ phận dùng làm chỗ cầm để kéo hay đẩy xe. Đầu trước của 2 cái càng đặt gần nhau khoảng 0,1m, hai đầu sau cách nhau 0,6m. Để cho 2 càng xe vững chắc, người ta đóng ngang qua 3 thanh tre, một thanh ở trước đầu cáng, cách 0,3m đóng qua ngang qua thanh thứ hai và lùi ra sau 0,3m đóng ngang thanh thứ ba. Khoảng trống giữa 2 thanh thứ 2 và thứ 3, ngang qua 2 càng xe, người ta đặt lên một cái ky lớn để đựng hàng. Người ta còn đóng vào 2 cái càng cách đầu sau 0,2m hai chân xe cao khoảng 0,6m để chống đỡ xe khi xe không di chuyển.
Người ta dùng đoạn tre già dài khoảng 0,35m, đào lấy luôn phần gốc ở dưới đất (gọi là cù tre), chẻ ra thành 2 phần đều nhau, gọt sạch rễ tre ở phần cù tre và vót bào cho trơn láng. Ngay giữa mỗi cù tre đục một cái lỗ to bằng ngón tay cái để tra vào bánh xe làm trục cốt. Trục cốt đục lỗ ở cù tre sẽ không bị nứt ra. Hai mảnh tre có cù tre này tiếng địa phương gọi là cái càng mỏ. Đầu trên của càng mỏ đóng vào phía trước của đầu càng xe mỗi bên. Đầu 2 cù tre dưới ở vị trí 2 bên tâm của bánh xe. Dùng một cây tròn thật chắc nhỏ hơn lỗ tâm bánh xe xuyên qua và đóng chặt, chịu vào 2 lỗ phía dưới càng mỏ ở hai bên. Thế là hình thành một cái xe cút kít.
Người ta thường đặt cái ky trên xe cút kít, chứa đất đá chuyển đi. Hai càng xe ở phía sau, gần chỗ tay nắm, người ta còn cột vào một sợi dây gánh phụ, tròng lên vai người đẩy xe đất khi xe di chuyển, đỡ gánh nặng cho đôi tay.

http://belleindochine.free.fr/images/Vietnam1951/0008.JPG
Xe cút kít (bù ệch-brouette) năm 1951.

Cấu tạo xe cút kít gồm một cái bánh xe bằng gỗ có đường kính 0,6m, dày 0,1m, trung điểm bánh xe có một cái lỗ tròn có đường kính 2cm để cho một cây trục xuyên qua. Người ta làm một cái sườn bằng tre, gồm có 2 đoạn tre dài hơn 1m gọi là càng xe, một bộ phận dùng làm chỗ cầm để kéo hay đẩy xe. Đầu trước của 2 cái càng đặt gần nhau khoảng 0,1m, hai đầu sau cách nhau 0,6m. Để cho 2 càng xe vững chắc, người ta đóng ngang qua 3 thanh tre, một thanh ở trước đầu cáng, cách 0,3m đóng qua ngang qua thanh thứ hai và lùi ra sau 0,3m đóng ngang thanh thứ ba. Khoảng trống giữa 2 thanh thứ 2 và thứ 3, ngang qua 2 càng xe, người ta đặt lên một cái ky lớn để đựng hàng. Người ta còn đóng vào 2 cái càng cách đầu sau 0,2m hai chân xe cao khoảng 0,6m để chống đỡ xe khi xe không di chuyển.
Người ta dùng đoạn tre già dài khoảng 0,35m, đào lấy luôn phần gốc ở dưới đất (gọi là cù tre), chẻ ra thành 2 phần đều nhau, gọt sạch rễ tre ở phần cù tre và vót bào cho trơn láng. Ngay giữa mỗi cù tre đục một cái lỗ to bằng ngón tay cái để tra vào bánh xe làm trục cốt. Trục cốt đục lỗ ở cù tre sẽ không bị nứt ra. Hai mảnh tre có cù tre này tiếng địa phương gọi là cái càng mỏ. Đầu trên của càng mỏ đóng vào phía trước của đầu càng xe mỗi bên. Đầu 2 cù tre dưới ở vị trí 2 bên tâm của bánh xe. Dùng một cây tròn thật chắc nhỏ hơn lỗ tâm bánh xe xuyên qua và đóng chặt, chịu vào 2 lỗ phía dưới càng mỏ ở hai bên. Thế là hình thành một cái xe cút kít.
Người ta thường đặt cái ky trên xe cút kít, chứa đất đá chuyển đi. Hai càng xe ở phía sau, gần chỗ tay nắm, người ta còn cột vào một sợi dây gánh phụ, tròng lên vai người đẩy xe đất khi xe di chuyển, đỡ gánh nặng cho đôi tay.

http://belleindochine.free.fr/images/Vietnam1951/0008.JPG
Diêm dân thu gom muối ven bờ biển thời Pháp thuộc.
Diêm dân thu gom muối ven bờ biển thời Pháp thuộc.
Cọp mò vào nhà dân tìm mồi.
Cọp mò vào nhà dân tìm mồi.
Bẫy cọp
Bẫy cọp
Chuẩn bị làm thịt
Chuẩn bị làm thịt
Con cọp bị bắt
Con cọp bị bắt
Đồ nghề của người dân đi đánh giậm (thời Pháp thuộc).

Nguồn: http://belleindochine.free.fr/images/IndochineProfonde/0023.JPG
Đồ nghề của người dân đi đánh giậm (thời Pháp thuộc).

Nguồn: http://belleindochine.free.fr/images/IndochineProfonde/0023.JPG
NGHỀ THÊU
 
Về bản chất nghệ thuật thêu tay là vô cùng tinh tế. Thêu thùa là công việc được nhắc đến và gắn với hình ảnh người phụ nữ, thế nhưng nghề thêu được nhắc đến từ ông tổ nghề thêu Lê Công Hành, là Quan thượng thư triều Lê, cũng là người làng Quất Động. Sau khi kháng chiến chống quân Minh thắng lợi.Ông được vua Lê Thái Tổ chọn dẫn đầu sứ đoàn sang Trung Hoa, trong thời gian này Ông được học cách làm lọng và nghề thêu truyền thống đặc sắc của người Trung Hoa, sau khi về nước ông đem những kiến thức đã học được dạy cho người làng Quất Động và vùng lân cận

Lê Công Hành sống ở cuối đời Trần, đầu đời Lê (khoảng thế kỷ 14), tên thật là Bùi Công Hành. Cuối đời Trần, ông lên đường dự thi vừa lúc quân Minh sang xâm lược nên khoa thi bị hủy. Ông ẩn náu trong rừng rồi theo Lê Lợi kháng chiến chống quân Minh. Cuộc bình Ngô thành công, ông được Lê Thái Tổ trọng dụng. Đến đời Lê Thái Tông (1423-1442), Bùi Công Hành dẫn đầu đoàn sứ bộ đi sứ. Vua nhà Minh muốn thử trí thông minh của sứ thần nước Việt bèn cho dựng một lầu cao chót vót rồi mời ông lên chơi. Khi ông đã lên lầu, chúng bèn rút thang. Không còn lối xuống nữa, Bùi Công Hành đành ở trên lầu một mình. Đưa mắt nhìn quanh, ông chỉ thấy hai pho tượng sơn son thiếp vàng, một chum nước cùng hai cái lọng cắm trước bàn thờ. Ngoài cửa lầu treo một bức nghi môn thêu nổi ba chữ: "Phật tại tâm". Một ngày rồi hai ngày trôi qua, chỉ có một mình trên lầu vắng, bụng đói mà cơm không có ăn, Bùi Công Hành nghĩ, có chum nước để uống tất phải có cái ăn. Ông quay ra ngắm bức nghi môn rồi lẩm nhẩm: "Phật tại tâm nghĩa là Phật ở trong lòng". Ông gật đầu mỉm cười rồi bẻ tay pho tượng ăn thử xem sao. Thì ra hai pho tượng được nặn bằng bột chè lam. Có thức ăn thức uống, hằng ngày ông quan sát kỹ cách làm lọng. Nhập tâm cách làm rồi, ông hạ bức nghi môn xuống, tháo ra xem cách thêu và đã học được cách làm lọng, thêu nổi. Sau đó, vị sứ thần mạnh bạo dùng cái lọng làm dù nhảy xuống đất an toàn. Trước cách ứng xử thông minh ấy, vua nhà Minh rất khâm phục. 

Sau khi đi sứ về, ông đem nghề thêu dạy cho dân làng Quất Động. Dần dần nghề thêu phát triển sang các làng khác ở tỉnh Hà Đông cũ như Thọ Nam (huyện Hoài Đức), Đại Nghĩa (huyện Thường Tín). Nghề thêu còn lan sang các tỉnh bạn như Bắc Ninh, Hưng Yên. Nhiều người ở những làng thêu thuộc huyện Thường Tín ra Hà Nội hành nghề, lập phường ở các phố Hàng Trống, Hàng Chỉ, Hàng Nón, Hàng Mành, Yên Thái.

Ông Lê Công Hành còn dạy cho dân một số làng nghề làm lọng. Ngày trước, Hà Nội có phố Hàng Lọng (nay thuộc khu vực đường Nam Bộ), ở nơi đây cũng có đền thời ông Lê Công Hành, tổ sư nghề làm lọng (nay không còn).

Lê Công Hành là tổ nghề thêu và nghề làm lọng không có nghĩa là đời trước ông Lê, người Việt Nam chưa ai biết thêu và làm lọng. Sử sách cũ còn ghi lại ở đời Trần, vua quan ta đã quen dùng đồ thêu và lọng. Năm 1289, trước năm đi sứ của Lê Công Hành khoảng hơn 350 năm, vua Trần đã gửi tặng vua Nguyễn một đệm vóc đỏ thêu chỉ vàng, một tấm thảm gấm viền nhiễu (theo Từ Minh Thiện viết trong tập Thiên nam hành ký). Tháng Giêng năm Quý Tỵ (1293), Trần Phu trong đoàn sứ nhà Nguyên sang ta có nhận xét: “Về phẩm hàm của các quan Đại Việt, ai cao ai thấp cứ nhìn vào lọng mà phân biệt. Hễ là khanh tướng thì đi ba cây lọng xanh, bậc thấp hơn thì đi hai lọng, rồi một lọng. Còn như lọng tía thì chỉ có những người trong hoàng tộc mới được dùng (theo Trần Phu viết trong An- nam tức sự). Như vậy, nghề thêu và nghề làm lọng của ta đã có từ lâu.
Tuy vậy, nghề thêu ở những thế kỷ trước còn đơn sơ, quanh quẩn với những màu chỉ ngũ sắc và chỉ kim tuyến, làm những mặt hàng phục vụ cho vua, quan, cho nhà chùa (thêu mũ, mãng, triều phục, nghi môn, cờ phướn…). Trong ngôi mộ cổ đào được ở Vân Cát, Nam Hà, có niên đại khoảng thế kỷ 18, người ta thấy: bên cạnh cái quạt, có một túi trầu bằng gấm thêu kim tuyến, một túi đựng thuốc lào cũng bằng gấm thêu kim tuyến. 
Đến thế kỷ 20, với chỉ “xoa” (chỉ tơ sợi mềm, “xoa” do từ “soie”, tiếng Pháp, nghĩa là lụa) và thuốc nhuộm, ngành thêu bước sang một giai đoạn mới: dùng những sợi chỉ đủ mọi màu sắc phản ánh hiện thực. 
Ngày nay, nhiều các nghệ nhân có thể thêu được những bức danh hoạ của thế giới, những bức thêu phong cảnh như cảnh chùa Một Cột, cảnh đền Ngọc Sơn, cảnh chùa Thầy… đã là những mặt hàng quen thuộc của khách yêu hàng thêu trong và ngoài nước.
NGHỀ THÊU

Về bản chất nghệ thuật thêu tay là vô cùng tinh tế. Thêu thùa là công việc được nhắc đến và gắn với hình ảnh người phụ nữ, thế nhưng nghề thêu được nhắc đến từ ông tổ nghề thêu Lê Công Hành, là Quan thượng thư triều Lê, cũng là người làng Quất Động. Sau khi kháng chiến chống quân Minh thắng lợi.Ông được vua Lê Thái Tổ chọn dẫn đầu sứ đoàn sang Trung Hoa, trong thời gian này Ông được học cách làm lọng và nghề thêu truyền thống đặc sắc của người Trung Hoa, sau khi về nước ông đem những kiến thức đã học được dạy cho người làng Quất Động và vùng lân cận

Lê Công Hành sống ở cuối đời Trần, đầu đời Lê (khoảng thế kỷ 14), tên thật là Bùi Công Hành. Cuối đời Trần, ông lên đường dự thi vừa lúc quân Minh sang xâm lược nên khoa thi bị hủy. Ông ẩn náu trong rừng rồi theo Lê Lợi kháng chiến chống quân Minh. Cuộc bình Ngô thành công, ông được Lê Thái Tổ trọng dụng. Đến đời Lê Thái Tông (1423-1442), Bùi Công Hành dẫn đầu đoàn sứ bộ đi sứ. Vua nhà Minh muốn thử trí thông minh của sứ thần nước Việt bèn cho dựng một lầu cao chót vót rồi mời ông lên chơi. Khi ông đã lên lầu, chúng bèn rút thang. Không còn lối xuống nữa, Bùi Công Hành đành ở trên lầu một mình. Đưa mắt nhìn quanh, ông chỉ thấy hai pho tượng sơn son thiếp vàng, một chum nước cùng hai cái lọng cắm trước bàn thờ. Ngoài cửa lầu treo một bức nghi môn thêu nổi ba chữ: "Phật tại tâm". Một ngày rồi hai ngày trôi qua, chỉ có một mình trên lầu vắng, bụng đói mà cơm không có ăn, Bùi Công Hành nghĩ, có chum nước để uống tất phải có cái ăn. Ông quay ra ngắm bức nghi môn rồi lẩm nhẩm: "Phật tại tâm nghĩa là Phật ở trong lòng". Ông gật đầu mỉm cười rồi bẻ tay pho tượng ăn thử xem sao. Thì ra hai pho tượng được nặn bằng bột chè lam. Có thức ăn thức uống, hằng ngày ông quan sát kỹ cách làm lọng. Nhập tâm cách làm rồi, ông hạ bức nghi môn xuống, tháo ra xem cách thêu và đã học được cách làm lọng, thêu nổi. Sau đó, vị sứ thần mạnh bạo dùng cái lọng làm dù nhảy xuống đất an toàn. Trước cách ứng xử thông minh ấy, vua nhà Minh rất khâm phục.

Sau khi đi sứ về, ông đem nghề thêu dạy cho dân làng Quất Động. Dần dần nghề thêu phát triển sang các làng khác ở tỉnh Hà Đông cũ như Thọ Nam (huyện Hoài Đức), Đại Nghĩa (huyện Thường Tín). Nghề thêu còn lan sang các tỉnh bạn như Bắc Ninh, Hưng Yên. Nhiều người ở những làng thêu thuộc huyện Thường Tín ra Hà Nội hành nghề, lập phường ở các phố Hàng Trống, Hàng Chỉ, Hàng Nón, Hàng Mành, Yên Thái.

Ông Lê Công Hành còn dạy cho dân một số làng nghề làm lọng. Ngày trước, Hà Nội có phố Hàng Lọng (nay thuộc khu vực đường Nam Bộ), ở nơi đây cũng có đền thời ông Lê Công Hành, tổ sư nghề làm lọng (nay không còn).

Lê Công Hành là tổ nghề thêu và nghề làm lọng không có nghĩa là đời trước ông Lê, người Việt Nam chưa ai biết thêu và làm lọng. Sử sách cũ còn ghi lại ở đời Trần, vua quan ta đã quen dùng đồ thêu và lọng. Năm 1289, trước năm đi sứ của Lê Công Hành khoảng hơn 350 năm, vua Trần đã gửi tặng vua Nguyễn một đệm vóc đỏ thêu chỉ vàng, một tấm thảm gấm viền nhiễu (theo Từ Minh Thiện viết trong tập Thiên nam hành ký). Tháng Giêng năm Quý Tỵ (1293), Trần Phu trong đoàn sứ nhà Nguyên sang ta có nhận xét: “Về phẩm hàm của các quan Đại Việt, ai cao ai thấp cứ nhìn vào lọng mà phân biệt. Hễ là khanh tướng thì đi ba cây lọng xanh, bậc thấp hơn thì đi hai lọng, rồi một lọng. Còn như lọng tía thì chỉ có những người trong hoàng tộc mới được dùng (theo Trần Phu viết trong An- nam tức sự). Như vậy, nghề thêu và nghề làm lọng của ta đã có từ lâu.
Tuy vậy, nghề thêu ở những thế kỷ trước còn đơn sơ, quanh quẩn với những màu chỉ ngũ sắc và chỉ kim tuyến, làm những mặt hàng phục vụ cho vua, quan, cho nhà chùa (thêu mũ, mãng, triều phục, nghi môn, cờ phướn…). Trong ngôi mộ cổ đào được ở Vân Cát, Nam Hà, có niên đại khoảng thế kỷ 18, người ta thấy: bên cạnh cái quạt, có một túi trầu bằng gấm thêu kim tuyến, một túi đựng thuốc lào cũng bằng gấm thêu kim tuyến.
Đến thế kỷ 20, với chỉ “xoa” (chỉ tơ sợi mềm, “xoa” do từ “soie”, tiếng Pháp, nghĩa là lụa) và thuốc nhuộm, ngành thêu bước sang một giai đoạn mới: dùng những sợi chỉ đủ mọi màu sắc phản ánh hiện thực.
Ngày nay, nhiều các nghệ nhân có thể thêu được những bức danh hoạ của thế giới, những bức thêu phong cảnh như cảnh chùa Một Cột, cảnh đền Ngọc Sơn, cảnh chùa Thầy… đã là những mặt hàng quen thuộc của khách yêu hàng thêu trong và ngoài nước.
Ngư dân kéo cá năm 1925.
Bức ảnh này do nhiếp ảnh gia người Pháp  Jean Manikus chụp.

Pêcheur au carrelet 1925 
© Ecole française d’Extrême-Orient/ Jean Manikus
Ngư dân kéo cá năm 1925.
Bức ảnh này do nhiếp ảnh gia người Pháp Jean Manikus chụp.

Pêcheur au carrelet 1925
© Ecole française d’Extrême-Orient/ Jean Manikus
Một xưởng thợ thêu tại Hà Nội năm 1903.
1903 - Atelier d’un brodeur tonkinois, à Hanoi
Một xưởng thợ thêu tại Hà Nội năm 1903.
1903 - Atelier d’un brodeur tonkinois, à Hanoi

Xem Thêm