Chiến tranh biên giới Việt - Trung 1979-1989

Chiến tranh Việt Nam - Trung Quốc, 1979 hay thường được gọi là Chiến tranh biên giới Việt - Trung năm 1979 là một cuộc chiến ngắn nhưng khốc liệt giữa Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa và Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, nổ ra vào ngày 17 tháng 2 năm 1979 khi Trung Quốc xua quân tấn công Việt Nam trên toàn tuyến biên giới trên bộ giữa hai nước.

Chiến tranh biên giới Việt - Trung bắt nguồn từ quan hệ căng thẳng kéo dài giữa hai quốc gia, kéo dài trong chừng một tháng với thiệt hại nặng nề về người và tài sản cho cả hai phía. Cuộc chiến kết thúc khi Trung Quốc hoàn thành rút quân vào ngày 18 tháng 3 năm 1979, sau khi chiếm được các thị xã Lạng Sơn, Lào Cai, Cao Bằng, và một số thị trấn vùng biên. Mục tiêu của Trung Quốc buộc Việt Nam rút quân khỏi Campuchia không thành, nhưng cuộc chiến để lại hậu quả lâu dài đối với nền kinh tế Việt Nam và quan hệ căng thẳng giữa hai nước. Xung đột vũ trang tại biên giới còn tiếp diễn thêm 10 năm. Hơn 13 năm sau, quan hệ ngoại giao Việt-Trung chính thức được bình thường hóa.
Dùng không quân chuyển quân từ chiến trường K ra tiếp viện cho biên giới phía Bắc (2-1979)
"Vào ngày này 32 năm trước, quân đội Trung Quốc đã vượt qua biên giới Việt Nam. Bắc Kinh muốn "trừng phạt Hà Nội” vì Việt Nam đã tham gia vào việc lật đổ chế độ diệt chủng Pol Pot ở Campuchia. Lực lượng Trung Quốc xâm lược bao gồm 7 quân đoàn, lên đến 600.000 người. Phía Việt Nam, đối phó với lực lượng này, lúc đó chỉ có một sư đoàn quân chủ lực, một sư đoàn quân địa phương, lính biên phòng và dân quân tự vệ, với số lượng vũ khí không nhiều, gồm có pháo, súng cối và vũ khí chống tăng.

Ngày 18 tháng Hai, chính phủ Xô viết đã đưa ra một tuyên bố, trong đó, ngoài những điều khác, có nêu rõ: "Liên bang Xô viết sẽ thực hiện các cam kết theo Hiệp ước hữu nghị và hợp tác giữa Liên Xô và Việt Nam". Hiệp ước này được ký kết tại Matxcova ba tháng trước đó.

Để biểu thị sự hỗ trợ cho Việt Nam và hướng sự chú ý của quân đội Trung Quốc theo phía nam, 29 sư đoàn bộ binh của quân đội Liên Xô gồm 250 nghìn người, với sự hỗ trợ không quân đã được điều đến khu vực gần Mãn Châu ở biên giới Xô-Trung.  

Đồng thời, lãnh đạo Liên Xô đã gửi bổ sung thêm cho Việt Nam một nhóm cố vấn quân sự.

Một trong những nhà lãnh đạo của Hiệp hội các cựu chiến binh Nga trong chiến tranh Việt Nam, đại tá Gennady Ivanov nhớ lại:

“Sáng 19 tháng 2, vào ngày thứ ba của cuộc xâm lược, một nhóm các cố vấn quân sự của Liên Xô đã bay tới Hà Nội, gồm các vị tướng có kinh nghiệm nhất, đứng đầu là đại tướng Gennady Obaturov. Ngay sau khi đến nơi, họ lập tức gặp tổng tư lệnh tối cao của Quân đội nhân dân Việt Nam”.

Các cố vấn  quân sự Liên Xô không chỉ nắm tình hình thực tế qua cuộc tiếp xúc với bộ trưởng quốc phòng Văn Tiến Dũng và tổng tham mưu trưởng quân đội nhân dân Việt Nam Lê Trọng Tấn, mà còn ra mặt trận, lên tuyến đầu nơi quân đội Việt Nam bảo vệ Tổ Quốc. Tại đó, họ đã rơi (vào - FDDinh bổ xung) trận pháo kích mạnh của quân Trung Quốc, nhưng may mắn thay, không ai bị thương. Tuy nhiên, đoàn chuyên gia quân sự Liên Xô vẫn không tránh được tổn thất.

Tại cuộc họp kéo dài 3 giờ đồng hồ ngày 25 tháng Hai với ông Lê Duẩn, đại tướng Obaturov đề xuất di chuyển lực lượng quân chủ lực được huấn luyện tốt hơn từ Campuchia về mặt trận phía Bắc. Đề xuất này, cũng như một loạt đề xuất khác do đại tướng Liên Xô đưa ra, đã được phía Việt Nam thông qua.

Theo  lệnh của tướng Obaturov, các phi công lái máy bay vận tải quân sự Xô Viết đã chuyển cánh quân Việt Nam từ Campuchia về hướng mặt trận Lạng Sơn, khiến cho tình hình lập tức thay đổi nghiêng theo hướng thuận lợi cho Việt Nam. Đầu tháng Ba năm đó, sáu cố vấn Liên Xô đã hy sinh tại Đà Nẵng trong tai nạn máy bay, khi đang giúp Việt Nam.

Tướng Obaturov cũng đã gửi các lãnh đạo Liên Xô công văn yêu cầu khẩn cấp viện trợ cho Việt Nam vũ khí và trang thiết bị bằng đường hàng không.

“Các tổ chức quân sự Matxcova nhanh chóng và tích cực đáp ứng mọi yêu cầu của nhóm cố vấn Liên Xô tại Việt Nam - Đại tá Gennady Ivanov nói tiếp. -  Trong thời gian ngắn nhất, quân đội nhân dân Việt Nam đã nhận được tất cả mọi thứ cần thiết để chống lại kẻ thù. Việt Nam đã được viện trợ tên lửa "Grad", trang bị kĩ thuật cho các đơn vị thông tin liên lạc, tình báo và các phương tiện hỗ trợ chiến đấu khác, bằng máy bay vận tải quân sự.”

Các biện pháp đó đã góp phần làm cho các cuộc tấn công của quân đội Trung Quốc bị sa lầy. Một bộ phận của Quân đội nhân dân Việt Nam đã chiến đấu không cho đối phương tiến lên quá 30 km kể từ biên giới.

Những kẻ xâm lược đã mất hơn 62.000 sĩ quan và binh lính, 280 xe tăng và xe bọc thép, 118 khẩu pháo và súng cối cùng một số máy bay. Ngày 05 tháng Ba năm 1979, Trung Quốc bắt đầu rút quân khỏi các vùng lãnh thổ chiếm đóng. Ngày 18.3, chiến sự đã hoàn toàn chấm dứt

Hải quân Liên Xô đã không bàng quan đứng bên ngoài những sự kiện dữ dội ấy. Đó là nội dung buổi phát thanh ngày mai của chúng tôi. Mời các bạn đón nghe Đài Tiếng nói nước Nga, phát thanh từ Matxcova.
Vào những ngày này 32 năm trước, quân đội Trung Quốc đã tấn công vào miền Bắc Việt Nam. Bắc Kinh muốn "trừng phạt Hà Nội” vì Việt Nam đã tham gia vào việc lật đổ chế độ diệt chủng Pol Pot ở Campuchia.

Trong chương trình lần trước, chúng tôi đã nói về vai trò của các cố vấn quân sự Liên Xô đã giúp cho quân đội nhân dân Việt Nam đối phó với lực lượng Trung Quốc gồm 600.000 người, về các đợt cung cấp vũ khí và kỹ thuật quân sự của Liên Xô. Hồi đó, không chỉ các tỉnh miền Bắc mà cả bờ biển phía Bắc của Việt Nam cũng bị đe dọa bởi Hạm đội Nam Hải của Trung Quốc gồm gần 300 tàu chiến.

Sau đây là ý kiến của nhà Việt Nam học, sử gia Maxim Sunnerberg: “Khi quân đội Trung Quốc vượt qua biên giới Việt Nam, một tàu tuần dương và một tàu khu trục của Hạm Đội Thái Bình Dương đang hiện diện tại các điểm quan trọng của biển Đông để phô trương sự hỗ trợ của Liên Xô cho Việt Nam. Sau mấy ngày chiến sự giữa Việt Nam và Trung Quốc có thêm mấy tàu chiến của Liên Xô tiến tới khu vực. Sau ngày 20 tháng Hai, 13 tàu chiến, kể cả mấy tàu ngầm, đã chờ đợi đoàn tàu mới do tàu tuần dương “Đô đốc Senyavin” và tàu dương hạm tên lửa “Vladivostok” dẫn đầu tới khu vực. Đầu tháng 3, đoàn tàu xô-viết bao gồm 30 tàu chiến”.

Sau đây là đoạn trích từ nhật ký của thuyền trưởng tàu ngàm “B-88” Fedor Gnatusin:

“Đầu năm 1979, tàu chúng tôi đang bảo quản tại xưởng đóng tàu. Rồi vào tháng 2, có lệnh khẩn cấp ra biển. Các quả ngư lôi, lương thực và thiết bị kỹ thuật đã được rất nhanh xếp lên tàu. Đã có mấy tàu chiến khác cũng lên đường đi Việt Nam từ Vladivostok và Nakhodka”.

Còn đây là đoạn trích từ nhật ký của trung tá hải quân Vladimir Glukhov:

“Với tư cách chỉ huy bộ tham mưu của sư đoàn, tôi đã có nhiệm vụ đảm bảo đoàn tàu chiến Liên Xô chuyển đến Việt Nam, cụ thể đảm bảo các tàu chiến ghé vào các cảng Việt Nam. Cần phải kiểm tra độ sâu, hành trình di chuyển, hải lưu, kiểm tra bến tàu. Chúng tôi đã mất một ngày đêm để thực hiện công việc này, và sau 5 ngày nữa đã ghé vào cảng Đà Nẵng.  Rồi chúng tôi hướng tới bán đảo Cam Ranh, nơi đang thành lập căn cứ hải quân Liên Xô. Mọi người đã làm việc khẩn trương để tiếp đón các tàu chiến của Hạm đội Thái Bình Dương”.

Các thủy thủ xô-viết đảm bảo hành trình an toàn cho các tàu vận tải từ Vladivostok, Nakhodka và Odessa chở hàng tiếp tế cho Việt Nam. Trong thời gian chiến sự, 6 tàu thủy Liên Xô đã tới cảng Hải Phòng vận chuyển kỹ thuật quân sự, kể cả tên lửa và thiết bị radar giành cho Việt Nam.

Đoàn tàu Liên Xô đã hiện diện ở vùng biển Đông đến tháng 4 năm 1979. Kết quả là, hạm đội Hải Nam của Trung Quốc không tham gia hoạt động quân sự chống Việt Nam.

Nhà Việt Nam học, sử gia Maxim Sunnerberg nói tiếp: “Trong khi đó, thủy thủ Liên Xô đã phải đối phó đoàn tàu Mỹ do tàu chở máy bay “Constellation” dẫn đầu đã hiện diện ở khu vực Đông Nam Á từ ngày 6 tháng 12 năm 1978. Ngày 25 tháng 2 năm 1979, các tàu chiến Mỹ đã chuyển đến bờ biển Việt Nam như người Mỹ giải thích “để kiểm soát tình hình”. Các tàu ngầm của Liên Xô đã chắn hành trình tiến tới vùng chiến sự không cho tàu chiến Hoa Kỳ đến gần bờ biển Việt Nam. Một số tàu ngầm vẫn ở lại dưới nước, số khác hiện lên trên mặt nước. Hóa ra, hệ thần kinh của các thủy thủ Liên Xô là vững vàng hơn – tàu chiến Mỹ không dám vượt qua tuyến ngăn chặn do các tàu ngầm Liên Xô xây dựng. Ngày 6 tháng 3, các tàu chiến Hoa Kỳ đã rời khỏi vùng biển Đông”.

36 thủy thủ của Hạm đội Thái Bình Dương đã được tặng huân huy chương của Chính phủ Liên Xô vì lòng  dũng cảm  và chủ nghĩa anh hùng trong thời gian Việt Nam đối phó với cuộc xâm lược của Trung Quốc."
HIỆP ƯỚC VIỆT NAM - LIÊN XÔ 1978:
(tên đầy đủ: Hiệp ước hữu nghị và hợp tác giữa Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Liên bang Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Xô Viết), hiệp ước kí 3.11.1978 tại Matxcơva giữa một bên là tổng bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam Lê Duẩn, thủ tướng Phạm Văn Đồng, thay mặt nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam, và một bên là tổng bí thư Uỷ ban Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô, chủ tịch Đoàn Chủ tịch Xô Viết tối cao Liên Xô Brêgiơnep L. I. (L. I. Brezhnev), chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Kôxưghin A. N. (A. N. Kosygin), thay mặt Liên bang Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Xô Viết. Hiệp ước có 9 điều, trong đó hai bên cam kết không ngừng phát triển quan hệ mọi mặt, mở rộng hợp tác kinh tế, văn hoá, khoa học - kĩ thuật giữa hai nước, cam kết làm hết sức mình để củng cố hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới. Đặc biệt, trong điều 6, hai bên thoả thuận: trong trường hợp một trong hai bên bị tiến công hoặc bị đe doạ tiến công, thì hai bên kí hiệp ước sẽ lập tức trao đổi ý kiến với nhau, nhằm loại trừ mối đe doạ đó và áp dụng các biện pháp thích đáng có hiệu lực, để bảo đảm hoà bình và an ninh của hai nước. Hiệp ước có giá trị trong 25 năm
http://www.vnmilitaryhistory.net/index.php?topic=20435.0
Dùng không quân chuyển quân từ chiến trường K ra tiếp viện cho biên giới phía Bắc (2-1979)
"Vào ngày này 32 năm trước, quân đội Trung Quốc đã vượt qua biên giới Việt Nam. Bắc Kinh muốn "trừng phạt Hà Nội” vì Việt Nam đã tham gia vào việc lật đổ chế độ diệt chủng Pol Pot ở Campuchia. Lực lượng Trung Quốc xâm lược bao gồm 7 quân đoàn, lên đến 600.000 người. Phía Việt Nam, đối phó với lực lượng này, lúc đó chỉ có một sư đoàn quân chủ lực, một sư đoàn quân địa phương, lính biên phòng và dân quân tự vệ, với số lượng vũ khí không nhiều, gồm có pháo, súng cối và vũ khí chống tăng.

Ngày 18 tháng Hai, chính phủ Xô viết đã đưa ra một tuyên bố, trong đó, ngoài những điều khác, có nêu rõ: "Liên bang Xô viết sẽ thực hiện các cam kết theo Hiệp ước hữu nghị và hợp tác giữa Liên Xô và Việt Nam". Hiệp ước này được ký kết tại Matxcova ba tháng trước đó.

Để biểu thị sự hỗ trợ cho Việt Nam và hướng sự chú ý của quân đội Trung Quốc theo phía nam, 29 sư đoàn bộ binh của quân đội Liên Xô gồm 250 nghìn người, với sự hỗ trợ không quân đã được điều đến khu vực gần Mãn Châu ở biên giới Xô-Trung.

Đồng thời, lãnh đạo Liên Xô đã gửi bổ sung thêm cho Việt Nam một nhóm cố vấn quân sự.

Một trong những nhà lãnh đạo của Hiệp hội các cựu chiến binh Nga trong chiến tranh Việt Nam, đại tá Gennady Ivanov nhớ lại:

“Sáng 19 tháng 2, vào ngày thứ ba của cuộc xâm lược, một nhóm các cố vấn quân sự của Liên Xô đã bay tới Hà Nội, gồm các vị tướng có kinh nghiệm nhất, đứng đầu là đại tướng Gennady Obaturov. Ngay sau khi đến nơi, họ lập tức gặp tổng tư lệnh tối cao của Quân đội nhân dân Việt Nam”.

Các cố vấn quân sự Liên Xô không chỉ nắm tình hình thực tế qua cuộc tiếp xúc với bộ trưởng quốc phòng Văn Tiến Dũng và tổng tham mưu trưởng quân đội nhân dân Việt Nam Lê Trọng Tấn, mà còn ra mặt trận, lên tuyến đầu nơi quân đội Việt Nam bảo vệ Tổ Quốc. Tại đó, họ đã rơi (vào - FDDinh bổ xung) trận pháo kích mạnh của quân Trung Quốc, nhưng may mắn thay, không ai bị thương. Tuy nhiên, đoàn chuyên gia quân sự Liên Xô vẫn không tránh được tổn thất.

Tại cuộc họp kéo dài 3 giờ đồng hồ ngày 25 tháng Hai với ông Lê Duẩn, đại tướng Obaturov đề xuất di chuyển lực lượng quân chủ lực được huấn luyện tốt hơn từ Campuchia về mặt trận phía Bắc. Đề xuất này, cũng như một loạt đề xuất khác do đại tướng Liên Xô đưa ra, đã được phía Việt Nam thông qua.

Theo lệnh của tướng Obaturov, các phi công lái máy bay vận tải quân sự Xô Viết đã chuyển cánh quân Việt Nam từ Campuchia về hướng mặt trận Lạng Sơn, khiến cho tình hình lập tức thay đổi nghiêng theo hướng thuận lợi cho Việt Nam. Đầu tháng Ba năm đó, sáu cố vấn Liên Xô đã hy sinh tại Đà Nẵng trong tai nạn máy bay, khi đang giúp Việt Nam.

Tướng Obaturov cũng đã gửi các lãnh đạo Liên Xô công văn yêu cầu khẩn cấp viện trợ cho Việt Nam vũ khí và trang thiết bị bằng đường hàng không.

“Các tổ chức quân sự Matxcova nhanh chóng và tích cực đáp ứng mọi yêu cầu của nhóm cố vấn Liên Xô tại Việt Nam - Đại tá Gennady Ivanov nói tiếp. - Trong thời gian ngắn nhất, quân đội nhân dân Việt Nam đã nhận được tất cả mọi thứ cần thiết để chống lại kẻ thù. Việt Nam đã được viện trợ tên lửa "Grad", trang bị kĩ thuật cho các đơn vị thông tin liên lạc, tình báo và các phương tiện hỗ trợ chiến đấu khác, bằng máy bay vận tải quân sự.”

Các biện pháp đó đã góp phần làm cho các cuộc tấn công của quân đội Trung Quốc bị sa lầy. Một bộ phận của Quân đội nhân dân Việt Nam đã chiến đấu không cho đối phương tiến lên quá 30 km kể từ biên giới.

Những kẻ xâm lược đã mất hơn 62.000 sĩ quan và binh lính, 280 xe tăng và xe bọc thép, 118 khẩu pháo và súng cối cùng một số máy bay. Ngày 05 tháng Ba năm 1979, Trung Quốc bắt đầu rút quân khỏi các vùng lãnh thổ chiếm đóng. Ngày 18.3, chiến sự đã hoàn toàn chấm dứt

Hải quân Liên Xô đã không bàng quan đứng bên ngoài những sự kiện dữ dội ấy. Đó là nội dung buổi phát thanh ngày mai của chúng tôi. Mời các bạn đón nghe Đài Tiếng nói nước Nga, phát thanh từ Matxcova.
Vào những ngày này 32 năm trước, quân đội Trung Quốc đã tấn công vào miền Bắc Việt Nam. Bắc Kinh muốn "trừng phạt Hà Nội” vì Việt Nam đã tham gia vào việc lật đổ chế độ diệt chủng Pol Pot ở Campuchia.

Trong chương trình lần trước, chúng tôi đã nói về vai trò của các cố vấn quân sự Liên Xô đã giúp cho quân đội nhân dân Việt Nam đối phó với lực lượng Trung Quốc gồm 600.000 người, về các đợt cung cấp vũ khí và kỹ thuật quân sự của Liên Xô. Hồi đó, không chỉ các tỉnh miền Bắc mà cả bờ biển phía Bắc của Việt Nam cũng bị đe dọa bởi Hạm đội Nam Hải của Trung Quốc gồm gần 300 tàu chiến.

Sau đây là ý kiến của nhà Việt Nam học, sử gia Maxim Sunnerberg: “Khi quân đội Trung Quốc vượt qua biên giới Việt Nam, một tàu tuần dương và một tàu khu trục của Hạm Đội Thái Bình Dương đang hiện diện tại các điểm quan trọng của biển Đông để phô trương sự hỗ trợ của Liên Xô cho Việt Nam. Sau mấy ngày chiến sự giữa Việt Nam và Trung Quốc có thêm mấy tàu chiến của Liên Xô tiến tới khu vực. Sau ngày 20 tháng Hai, 13 tàu chiến, kể cả mấy tàu ngầm, đã chờ đợi đoàn tàu mới do tàu tuần dương “Đô đốc Senyavin” và tàu dương hạm tên lửa “Vladivostok” dẫn đầu tới khu vực. Đầu tháng 3, đoàn tàu xô-viết bao gồm 30 tàu chiến”.

Sau đây là đoạn trích từ nhật ký của thuyền trưởng tàu ngàm “B-88” Fedor Gnatusin:

“Đầu năm 1979, tàu chúng tôi đang bảo quản tại xưởng đóng tàu. Rồi vào tháng 2, có lệnh khẩn cấp ra biển. Các quả ngư lôi, lương thực và thiết bị kỹ thuật đã được rất nhanh xếp lên tàu. Đã có mấy tàu chiến khác cũng lên đường đi Việt Nam từ Vladivostok và Nakhodka”.

Còn đây là đoạn trích từ nhật ký của trung tá hải quân Vladimir Glukhov:

“Với tư cách chỉ huy bộ tham mưu của sư đoàn, tôi đã có nhiệm vụ đảm bảo đoàn tàu chiến Liên Xô chuyển đến Việt Nam, cụ thể đảm bảo các tàu chiến ghé vào các cảng Việt Nam. Cần phải kiểm tra độ sâu, hành trình di chuyển, hải lưu, kiểm tra bến tàu. Chúng tôi đã mất một ngày đêm để thực hiện công việc này, và sau 5 ngày nữa đã ghé vào cảng Đà Nẵng. Rồi chúng tôi hướng tới bán đảo Cam Ranh, nơi đang thành lập căn cứ hải quân Liên Xô. Mọi người đã làm việc khẩn trương để tiếp đón các tàu chiến của Hạm đội Thái Bình Dương”.

Các thủy thủ xô-viết đảm bảo hành trình an toàn cho các tàu vận tải từ Vladivostok, Nakhodka và Odessa chở hàng tiếp tế cho Việt Nam. Trong thời gian chiến sự, 6 tàu thủy Liên Xô đã tới cảng Hải Phòng vận chuyển kỹ thuật quân sự, kể cả tên lửa và thiết bị radar giành cho Việt Nam.

Đoàn tàu Liên Xô đã hiện diện ở vùng biển Đông đến tháng 4 năm 1979. Kết quả là, hạm đội Hải Nam của Trung Quốc không tham gia hoạt động quân sự chống Việt Nam.

Nhà Việt Nam học, sử gia Maxim Sunnerberg nói tiếp: “Trong khi đó, thủy thủ Liên Xô đã phải đối phó đoàn tàu Mỹ do tàu chở máy bay “Constellation” dẫn đầu đã hiện diện ở khu vực Đông Nam Á từ ngày 6 tháng 12 năm 1978. Ngày 25 tháng 2 năm 1979, các tàu chiến Mỹ đã chuyển đến bờ biển Việt Nam như người Mỹ giải thích “để kiểm soát tình hình”. Các tàu ngầm của Liên Xô đã chắn hành trình tiến tới vùng chiến sự không cho tàu chiến Hoa Kỳ đến gần bờ biển Việt Nam. Một số tàu ngầm vẫn ở lại dưới nước, số khác hiện lên trên mặt nước. Hóa ra, hệ thần kinh của các thủy thủ Liên Xô là vững vàng hơn – tàu chiến Mỹ không dám vượt qua tuyến ngăn chặn do các tàu ngầm Liên Xô xây dựng. Ngày 6 tháng 3, các tàu chiến Hoa Kỳ đã rời khỏi vùng biển Đông”.

36 thủy thủ của Hạm đội Thái Bình Dương đã được tặng huân huy chương của Chính phủ Liên Xô vì lòng dũng cảm và chủ nghĩa anh hùng trong thời gian Việt Nam đối phó với cuộc xâm lược của Trung Quốc."
HIỆP ƯỚC VIỆT NAM - LIÊN XÔ 1978:
(tên đầy đủ: Hiệp ước hữu nghị và hợp tác giữa Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Liên bang Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Xô Viết), hiệp ước kí 3.11.1978 tại Matxcơva giữa một bên là tổng bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam Lê Duẩn, thủ tướng Phạm Văn Đồng, thay mặt nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam, và một bên là tổng bí thư Uỷ ban Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô, chủ tịch Đoàn Chủ tịch Xô Viết tối cao Liên Xô Brêgiơnep L. I. (L. I. Brezhnev), chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Kôxưghin A. N. (A. N. Kosygin), thay mặt Liên bang Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Xô Viết. Hiệp ước có 9 điều, trong đó hai bên cam kết không ngừng phát triển quan hệ mọi mặt, mở rộng hợp tác kinh tế, văn hoá, khoa học - kĩ thuật giữa hai nước, cam kết làm hết sức mình để củng cố hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới. Đặc biệt, trong điều 6, hai bên thoả thuận: trong trường hợp một trong hai bên bị tiến công hoặc bị đe doạ tiến công, thì hai bên kí hiệp ước sẽ lập tức trao đổi ý kiến với nhau, nhằm loại trừ mối đe doạ đó và áp dụng các biện pháp thích đáng có hiệu lực, để bảo đảm hoà bình và an ninh của hai nước. Hiệp ước có giá trị trong 25 năm
http://www.vnmilitaryhistory.net/index.php?topic=20435.0
Quân Trung Quốc đánh chiếm doanh trại của bộ đội Việt Nam
Quân Trung Quốc đánh chiếm doanh trại của bộ đội Việt Nam
Xe tăng và bộ binh Trung Quốc vượt sông
Xe tăng và bộ binh Trung Quốc vượt sông
Quân Trung Quốc tiến sâu vào lãnh thổ Việt Nam
Quân Trung Quốc tiến sâu vào lãnh thổ Việt Nam
THẢM SÁT TẠI TỔNG CHÚP, HUYỆN HÒA AN, CAO BẰNG.

 9-3-1979, quân Trung Quốc giết 43 thường dân Việt Nam.

 "Bọn giặc Trung Quốc giết rồi vứt xuống giếng này 43 người toàn là phụ nữ và trẻ em, trong đó có 7 người đang có chửa và 7 cháu nhỏ đang được địu trên lưng mẹ. Chúng vứt xuống giếng cả cái gậy mà chúng đã dùng đánh chết các nạn nhân này."
THẢM SÁT TẠI TỔNG CHÚP, HUYỆN HÒA AN, CAO BẰNG.

9-3-1979, quân Trung Quốc giết 43 thường dân Việt Nam.

"Bọn giặc Trung Quốc giết rồi vứt xuống giếng này 43 người toàn là phụ nữ và trẻ em, trong đó có 7 người đang có chửa và 7 cháu nhỏ đang được địu trên lưng mẹ. Chúng vứt xuống giếng cả cái gậy mà chúng đã dùng đánh chết các nạn nhân này."
17/02/1979 quân Trung Quốc tràn qua biên giới đã giết chết 3.240  người dân  Hà Giang
17/02/1979 quân Trung Quốc tràn qua biên giới đã giết chết 3.240 người dân Hà Giang
chống tăng
chống tăng
Lính Việt Nam bị Trung Quốc bắt
Lính Việt Nam bị Trung Quốc bắt
lên đường ra tiền tuyến
lên đường ra tiền tuyến
Tiếng súng tháng Hai
Pháo binh Việt Nam đang pháo quân đội tấn công Trung Quốc vào ngày 23 tháng 2 năm 1979, sáu ngày sau khi Bắc Kinh đã phát động một cuộc xâm lược quy mô và tốn kém vào các tỉnh phía Bắc Việt Nam. Cuộc chiến ngắn ngủi nhưng đẫm máu, ngày nay được gọi là Chiến tranh Đông Dương Thứ Ba, đã làm thiệt mạng hàng chục ngàn người trong thời gian chưa tới một tháng.
Hình của AFP/Getty Images
Posted by Admin ĐN
Tiếng súng tháng Hai
Pháo binh Việt Nam đang pháo quân đội tấn công Trung Quốc vào ngày 23 tháng 2 năm 1979, sáu ngày sau khi Bắc Kinh đã phát động một cuộc xâm lược quy mô và tốn kém vào các tỉnh phía Bắc Việt Nam. Cuộc chiến ngắn ngủi nhưng đẫm máu, ngày nay được gọi là Chiến tranh Đông Dương Thứ Ba, đã làm thiệt mạng hàng chục ngàn người trong thời gian chưa tới một tháng.
Hình của AFP/Getty Images
Posted by Admin ĐN
trả giá
trả giá
quỳ gối
quỳ gối
Quân đội Việt Nam đang canh tù binh Trung Quốc bị bắt vào ngày 26 tháng hai năm 1979. Dày dạn bởi nhiều thập kỷ chiến tranh du kích và được trang bị các vũ khí mới nhất của Liên Xô, quân đội Việt Nam đã chứng tỏ sức lực quá mạnh mẽ chống lại một quân đội Trung Quốc vẫn còn theo chiến lược lỗi thời "biển người” với lính mang vũ khí thô sơ, một chiến thuật Trung Quốc đã từng sử dụng gần ba thập kỷ trước trong chiến tranh Triều Tiên.
Hình của Zentralbild/AFP/Getty Images
Posted by Admin ĐN
Quân đội Việt Nam đang canh tù binh Trung Quốc bị bắt vào ngày 26 tháng hai năm 1979. Dày dạn bởi nhiều thập kỷ chiến tranh du kích và được trang bị các vũ khí mới nhất của Liên Xô, quân đội Việt Nam đã chứng tỏ sức lực quá mạnh mẽ chống lại một quân đội Trung Quốc vẫn còn theo chiến lược lỗi thời "biển người” với lính mang vũ khí thô sơ, một chiến thuật Trung Quốc đã từng sử dụng gần ba thập kỷ trước trong chiến tranh Triều Tiên.
Hình của Zentralbild/AFP/Getty Images
Posted by Admin ĐN
Hàng binh Trung Quốc
Hàng binh Trung Quốc
hạ tăng
hạ tăng
lính Trung Quốc tải thương
lính Trung Quốc tải thương
lính Trung Quốc tấn công
lính Trung Quốc tấn công
lính Trung Quốc tấn công
lính Trung Quốc tấn công
lính Trung Quốc tải thương
lính Trung Quốc tải thương
cẩm nang hội thoại của lính Trung Quốc
cẩm nang hội thoại của lính Trung Quốc
sơ tán
sơ tán
Trên đường Di Tản
Người dân Việt di tản trước các lực lượng xâm lăng của Trung Quốc tại tỉnh biên giới Lạng Sơn. Ngày 05 tháng ba  Bắc Kinh tuyên bố bắt đầu rút lui khỏi lãnh thổ Việt Nam.
Hình của AFP/Getty Images
Posted by Admin ĐN
Trên đường Di Tản
Người dân Việt di tản trước các lực lượng xâm lăng của Trung Quốc tại tỉnh biên giới Lạng Sơn. Ngày 05 tháng ba Bắc Kinh tuyên bố bắt đầu rút lui khỏi lãnh thổ Việt Nam.
Hình của AFP/Getty Images
Posted by Admin ĐN
cầu trên sông Kỳ Cùng bị quân Trung Quốc phá
cầu trên sông Kỳ Cùng bị quân Trung Quốc phá
Tomb Sino arm-people died in pre-1979 conflict!
Tomb Sino arm-people died in pre-1979 conflict!
Bia mộ của Liệt Sĩ quân đội nhân dân Việt Nam Vàng Văn Nhị, hi sinh 17.02.1970 tại Lai Châu
Bia mộ của Liệt Sĩ quân đội nhân dân Việt Nam Vàng Văn Nhị, hi sinh 17.02.1970 tại Lai Châu
battle map
battle map
quân Trung Quốc tử trận 1987
quân Trung Quốc tử trận 1987
Quân lính Trung Quốc tử trận tại Laoshan 1984!
Quân lính Trung Quốc tử trận tại Laoshan 1984!
tù binh Việt Nam -1984!
tù binh Việt Nam -1984!
Lính Trung Quốc  1984
Lính Trung Quốc 1984
quân trung quốc trên mặt trận năm 1984
quân trung quốc trên mặt trận năm 1984
máy phóng tên lửa của trung quốc(1984)
máy phóng tên lửa của trung quốc(1984)
lính liên lạc trung quốc với máy bộ đàm 1984
lính liên lạc trung quốc với máy bộ đàm 1984
lính trung quốc chiếm cao điểm 1080 tại Vĩ Xuyên- Hà Giang 1984
lính trung quốc chiếm cao điểm 1080 tại Vĩ Xuyên- Hà Giang 1984
lính trung quốc chiếm cao điểm 1080 tại Vĩ Xuyên- Hà Giang (1984)! họ gọi cao điểm này là "cổ sơn- Lào Sản"
lính trung quốc chiếm cao điểm 1080 tại Vĩ Xuyên- Hà Giang (1984)! họ gọi cao điểm này là "cổ sơn- Lào Sản"
Lính Trung Quốc tại LaoShan1984
Lính Trung Quốc tại LaoShan1984
pháo binh trung quốc (1984)
pháo binh trung quốc (1984)
PLA LaoShan 1984
PLA LaoShan 1984
Real combat pics of an 1986 ! PLA rocket!
Real combat pics of an 1986 ! PLA rocket!
PLA calling for arty support 7:40 1986!
PLA calling for arty support 7:40 1986!
11h30 quân trung quốc bị thương năm 1986
11h30 quân trung quốc bị thương năm 1986
PLA soldiers! 1986
PLA soldiers! 1986
On the border 1984s!
On the border 1984s!
1984s!
1984s!
1984s
1984s
Other camouflage- arm police!
Other camouflage- arm police!
With camouflage 1991s!
With camouflage 1991s!
The highest peak in Laoshan range
The highest peak in Laoshan range
Field
No Admittance
mine Sweeping Office of Wenshan Autonomous State, 1999
Field
No Admittance
mine Sweeping Office of Wenshan Autonomous State, 1999
Motherland remembers me
remember yesterday, ponder tomorrow, work hard today
love Laosha, build Laoshan, guard Laoshan
Motherland remembers me
remember yesterday, ponder tomorrow, work hard today
love Laosha, build Laoshan, guard Laoshan
POW PLA 1984!
POW PLA 1984!
PVA paratroop border 1984s!
PVA paratroop border 1984s!
PVA on the HG 1984s!
PVA on the HG 1984s!
PLA mountain soldier 1986-87 Laoshan!
You can look the different in the uniform of PLA 3 times 1979,1979-1985,1986-1987!
PLA mountain soldier 1986-87 Laoshan!
You can look the different in the uniform of PLA 3 times 1979,1979-1985,1986-1987!
PLA POW soldier!
PLA POW soldier!
Bộ đội và công an Việt Nam gần biên giới  1987!
Bộ đội và công an Việt Nam gần biên giới 1987!
A map in vietnamese!
A map in vietnamese!
Wounded PLA - Laoshan 1984
Wounded PLA - Laoshan 1984
PLA soldiers in the trench 1984!
PLA soldiers in the trench 1984!
POW PLA 1979
POW PLA 1979
Border-soldiers both-side 1991s!
Border-soldiers both-side 1991s!
Before retake HG 1986!
Before retake HG 1986!
Người Quyết Định
Cộng sản Trung Quốc từng hỗ trợ Việt Nam trong các cuộc chiến tranh chống lại Pháp và Mỹ, nhưng Hà Nội sau đó quyết định đi theo Liên Xô, đối thủ của Bắc Kinh. Sau khi Việt Nam tấn công vào Campuchia, một nước đồng minh với Trung Quốc, nhà lãnh đạo Trung Quốc Đặng Tiểu Bình tuyên bố ông muốn dạy Việt Nam “một bài học. "
Hình của Bettmann/Corbis
Posted by Admin ĐN
Người Quyết Định
Cộng sản Trung Quốc từng hỗ trợ Việt Nam trong các cuộc chiến tranh chống lại Pháp và Mỹ, nhưng Hà Nội sau đó quyết định đi theo Liên Xô, đối thủ của Bắc Kinh. Sau khi Việt Nam tấn công vào Campuchia, một nước đồng minh với Trung Quốc, nhà lãnh đạo Trung Quốc Đặng Tiểu Bình tuyên bố ông muốn dạy Việt Nam “một bài học. "
Hình của Bettmann/Corbis
Posted by Admin ĐN
Dân quân Trung Quốc triệu tập từ quận Giang Tây thuộc tỉnh Quảng Tây đang xếp hàng theo từng toán mang căng vong để hỗ trợ cuộc chiến xâm lăng trên khắp biên giới dài 1.400km giữa Trung Quốc và Việt Nam.  Ước tính rằng khoảng 4000 binh sĩ Trung Quốc đã chết trong chỉ hai ngày đầu tiên của cuôc chiến.
Hình của AFP/Getty Images
Posted by Admin ĐN
Dân quân Trung Quốc triệu tập từ quận Giang Tây thuộc tỉnh Quảng Tây đang xếp hàng theo từng toán mang căng vong để hỗ trợ cuộc chiến xâm lăng trên khắp biên giới dài 1.400km giữa Trung Quốc và Việt Nam. Ước tính rằng khoảng 4000 binh sĩ Trung Quốc đã chết trong chỉ hai ngày đầu tiên của cuôc chiến.
Hình của AFP/Getty Images
Posted by Admin ĐN
Mộ của Người Lính Không Được Tưởng Nhớ
Một "nghĩa trang liệt sĩ" ở tỉnh Vân Nam của Trung Quốc. Mặc dù con số thương vong vẫn còn chưa rõ ràng, con số ước tính ít nhất 20.000 binh sĩ Trung Quốc đã tử trận, trong khi số lượng chết bên phía Việt Nam thì vào khoảng 10.000. Phương tiện truyền thông nhà nước của cả hai bên vẫn im lăng, trong dịp kỷ niệm 30 năm của cuộc chiến.  Mặc dù có những trận đánh tranh chấp biên giới trong những năm tiếp theo, nhưng những người hàng xóm Cộng sản này, qua sự liên hệ lịch sử suốt nhiều thế kỷ lịch, đã đồng ý chôn vùi quá khứ và bây giờ quan hệ kinh tế chặc chẽ với nhau.
Hình của Mark Ralston/AFP/Getty Images
Posted by Admin ĐN
Mộ của Người Lính Không Được Tưởng Nhớ
Một "nghĩa trang liệt sĩ" ở tỉnh Vân Nam của Trung Quốc. Mặc dù con số thương vong vẫn còn chưa rõ ràng, con số ước tính ít nhất 20.000 binh sĩ Trung Quốc đã tử trận, trong khi số lượng chết bên phía Việt Nam thì vào khoảng 10.000. Phương tiện truyền thông nhà nước của cả hai bên vẫn im lăng, trong dịp kỷ niệm 30 năm của cuộc chiến. Mặc dù có những trận đánh tranh chấp biên giới trong những năm tiếp theo, nhưng những người hàng xóm Cộng sản này, qua sự liên hệ lịch sử suốt nhiều thế kỷ lịch, đã đồng ý chôn vùi quá khứ và bây giờ quan hệ kinh tế chặc chẽ với nhau.
Hình của Mark Ralston/AFP/Getty Images
Posted by Admin ĐN
Đặng Tiểu Bình và Tổng thống Hoa Kỳ Jimmy Carter:
Ngay trong khi Trung Quốc bắt đầu xâm lăng Việt Nam, Hoa Kỳ tuyên bố rằng ta đây "trung lập", kêu gọi chung chung, phát biểu nước đôi, ba phải, áp dụng tiêu chuẩn kép, chơi trò hai mặt. Họ thường xuyên kêu gào về "sự rút quân lập tức của Việt Nam khỏi Campuchia và Trung Quốc khỏi Việt Nam", ngụ ý ám chỉ rằng "việc Trung Quốc xâm lược Việt Nam là sự tiếp nối của việc Việt Nam xâm lược Campuchia", họ đánh tráo khái niệm, đánh đồng bản chất 2 cuộc chiến tranh, vàng thau lẫn lộn, xuyên tạc bóp méo.

Theo giáo sư sử học Nayan Chanda trong sách "Brother Enemy, The War after the War", NXB Harcourt Brace Jovanovich xuất bản năm 1986 và nhiều trí thức, chuyên gia, nhà nghiên cứu khác thì Hoa Kỳ chính là quốc gia duy nhất trên thế giới gần như ủng hộ công khai cuộc xâm lược Việt Nam của Lãnh tụ Trung Quốc Đặng Tiểu Bình và Tổng thống Hoa Kỳ Jimmy Carter.
Trái với lời lên án việc Việt Nam tiến đánh Khmer Đỏ là "một mối đe dọa cho hòa bình và ổn định", tuyên bố của Mỹ về cuộc xâm lăng của Trung Quốc có hàm ý bào chữa rằng "việc Trung Quốc tấn công Việt Nam là kết quả của việc Việt Nam xâm lược Campuchia", "Việt Nam ráng chịu", "Việt Nam gieo gió gặt bão". Ngoài Hoa Kỳ thì đa số các quốc gia trên thế giới đều phản đối mạnh mẽ hành động thô bạo của Trung Quốc, sự cô lập này đã ảnh hưởng khá lớn tới chính sách ngoại giao bước đầu mở cửa của Bắc Kinh khi đó.
Đặng Tiểu Bình và Tổng thống Hoa Kỳ Jimmy Carter:
Ngay trong khi Trung Quốc bắt đầu xâm lăng Việt Nam, Hoa Kỳ tuyên bố rằng ta đây "trung lập", kêu gọi chung chung, phát biểu nước đôi, ba phải, áp dụng tiêu chuẩn kép, chơi trò hai mặt. Họ thường xuyên kêu gào về "sự rút quân lập tức của Việt Nam khỏi Campuchia và Trung Quốc khỏi Việt Nam", ngụ ý ám chỉ rằng "việc Trung Quốc xâm lược Việt Nam là sự tiếp nối của việc Việt Nam xâm lược Campuchia", họ đánh tráo khái niệm, đánh đồng bản chất 2 cuộc chiến tranh, vàng thau lẫn lộn, xuyên tạc bóp méo.

Theo giáo sư sử học Nayan Chanda trong sách "Brother Enemy, The War after the War", NXB Harcourt Brace Jovanovich xuất bản năm 1986 và nhiều trí thức, chuyên gia, nhà nghiên cứu khác thì Hoa Kỳ chính là quốc gia duy nhất trên thế giới gần như ủng hộ công khai cuộc xâm lược Việt Nam của Lãnh tụ Trung Quốc Đặng Tiểu Bình và Tổng thống Hoa Kỳ Jimmy Carter.
Trái với lời lên án việc Việt Nam tiến đánh Khmer Đỏ là "một mối đe dọa cho hòa bình và ổn định", tuyên bố của Mỹ về cuộc xâm lăng của Trung Quốc có hàm ý bào chữa rằng "việc Trung Quốc tấn công Việt Nam là kết quả của việc Việt Nam xâm lược Campuchia", "Việt Nam ráng chịu", "Việt Nam gieo gió gặt bão". Ngoài Hoa Kỳ thì đa số các quốc gia trên thế giới đều phản đối mạnh mẽ hành động thô bạo của Trung Quốc, sự cô lập này đã ảnh hưởng khá lớn tới chính sách ngoại giao bước đầu mở cửa của Bắc Kinh khi đó.
Lãnh tụ Trung Quốc Đặng Tiểu Bình và Tổng thống Hoa Kỳ Jimmy Carter:
Trong lúc cuộc chiến còn đang giằng co, thì Hạm đội Thái Bình Dương của Mỹ bất chợt đem một số chiến hạm chở những Đội đặc nhiệm tiến vào Biển Đông để phô trương thanh thế và muốn gián tiếp tiếp ứng cho Trung Quốc bằng cách "xù lông" uy hiếp, gây sức ép quân sự thêm cho VN ở phía Nam, và dùng kế nghi binh khiến VN hoang mang, lo lắng sợ Mỹ quay lại, muốn VN lo ngại không dám điều quân từ miền Nam ra miền Bắc.

Đối với Trung Quốc thì Hoa Kỳ tỏ ra hành động này là "giúp đỡ" gián tiếp cho Trung Quốc, làm theo sự yêu cầu trợ giúp, hậu thuẫn của Trung Quốc, nhưng bên trong thực chất Hoa Kỳ cũng hy vọng nếu như Trung Quốc thắng thì họ sẽ nhảy vào chia chác / tranh giành lợi ích với Trung Quốc, nhưng do hải quân Liên Xô đã triển khai, nhiều tàu chiến Liên Xô, được sự cho phép của Việt Nam, đã tích cực hoạt động ngăn chặn tàu Mỹ ở Biển Đông, hạn chế phần nào hoạt động của tàu chiến Mỹ. Sau đó do sợ leo thang căng thẳng, xung đột với đối thủ Chiến tranh Lạnh Liên Xô, lại thấy tình hình chiến sự ở miền Bắc VN bất lợi cho Trung Quốc, nên Mỹ lảng vảng khoảng 2 tuần rồi đành phải rút đi.

Sự kiện này cho thấy sự giúp đỡ có hiệu quả trong việc giúp Việt Nam bảo vệ Biển Đông của hải quân Liên Xô trong cuộc chiến. Và cho thấy mặc dù Mỹ - Trung cùng chung một chiến tuyến, nhưng hai bên không thật lòng với nhau, mà mỗi bên đều có những dụng ý riêng, toan tính riêng, mưu mô khác nhau, và đều vì cái lợi của chính mình.
Lãnh tụ Trung Quốc Đặng Tiểu Bình và Tổng thống Hoa Kỳ Jimmy Carter:
Trong lúc cuộc chiến còn đang giằng co, thì Hạm đội Thái Bình Dương của Mỹ bất chợt đem một số chiến hạm chở những Đội đặc nhiệm tiến vào Biển Đông để phô trương thanh thế và muốn gián tiếp tiếp ứng cho Trung Quốc bằng cách "xù lông" uy hiếp, gây sức ép quân sự thêm cho VN ở phía Nam, và dùng kế nghi binh khiến VN hoang mang, lo lắng sợ Mỹ quay lại, muốn VN lo ngại không dám điều quân từ miền Nam ra miền Bắc.

Đối với Trung Quốc thì Hoa Kỳ tỏ ra hành động này là "giúp đỡ" gián tiếp cho Trung Quốc, làm theo sự yêu cầu trợ giúp, hậu thuẫn của Trung Quốc, nhưng bên trong thực chất Hoa Kỳ cũng hy vọng nếu như Trung Quốc thắng thì họ sẽ nhảy vào chia chác / tranh giành lợi ích với Trung Quốc, nhưng do hải quân Liên Xô đã triển khai, nhiều tàu chiến Liên Xô, được sự cho phép của Việt Nam, đã tích cực hoạt động ngăn chặn tàu Mỹ ở Biển Đông, hạn chế phần nào hoạt động của tàu chiến Mỹ. Sau đó do sợ leo thang căng thẳng, xung đột với đối thủ Chiến tranh Lạnh Liên Xô, lại thấy tình hình chiến sự ở miền Bắc VN bất lợi cho Trung Quốc, nên Mỹ lảng vảng khoảng 2 tuần rồi đành phải rút đi.

Sự kiện này cho thấy sự giúp đỡ có hiệu quả trong việc giúp Việt Nam bảo vệ Biển Đông của hải quân Liên Xô trong cuộc chiến. Và cho thấy mặc dù Mỹ - Trung cùng chung một chiến tuyến, nhưng hai bên không thật lòng với nhau, mà mỗi bên đều có những dụng ý riêng, toan tính riêng, mưu mô khác nhau, và đều vì cái lợi của chính mình.
Thanh niên Hà Nội sẵn sàng ra trận năm 1979
Thanh niên Hà Nội sẵn sàng ra trận năm 1979
Tập luyện trên đường phố Hà Nội năm 1979
Tập luyện trên đường phố Hà Nội năm 1979
Xe quân sự trên đường phố Hà Nội năm 1979
Xe quân sự trên đường phố Hà Nội năm 1979
Quân Trung Quốc phá trước khi rút về
Quân Trung Quốc phá trước khi rút về
Lạng Sơn bị tàn phá
Lạng Sơn bị tàn phá
Lào Cai bị phá hủy
Lào Cai bị phá hủy
Nơi 1 nhà báo Nhật Bản bị Trung Quốc bắn chết
Nơi 1 nhà báo Nhật Bản bị Trung Quốc bắn chết
Người lính bàng hoàng trước đống đổ nát do quân Trung Quốc.
Người lính bàng hoàng trước đống đổ nát do quân Trung Quốc.

Xem Thêm