Đạo Công giáo ngày xưa ở Việt nam

Một gia đình Công giáo sùng đạo ở Miền Nam Việt Nam (1970), với 3 người con làm linh mục, 3 người con làm nữ tu.
(vi.wikipedia.org)
Một gia đình Công giáo sùng đạo ở Miền Nam Việt Nam (1970), với 3 người con làm linh mục, 3 người con làm nữ tu.
(vi.wikipedia.org)
Sự tử đạo của thánh Gioan Tân"- miêu tả cuộc xử tử giáo sĩ Pháp Jean-Charles Cornay , thời Nguyễn.

Jean Charles Cornay, được biết với tên Việt là Gioan Tân, là 1 vị nhà truyền giáo thuộc Hội Thừa sai Paris. Ông sinh năm 1809 tại Loudun, trong một gia đình khá giả làm nghề bán vải của nước Pháp. Ông bị xử lăng trì ngày 20 tháng 9 năm 1837 tại Sơn Tây dưới thời vua Minh Mạng[1]. Ông được phong Chân phước ngày 27/5 năm 1900 bởi Giáo hoàng Lêô XIII. Ngày 19/06 năm 1988, Giáo hoàng Gioan Phaolô II tôn phong ông lên bậc Hiển thánh.
Sự tử đạo của thánh Gioan Tân"- miêu tả cuộc xử tử giáo sĩ Pháp Jean-Charles Cornay , thời Nguyễn.

Jean Charles Cornay, được biết với tên Việt là Gioan Tân, là 1 vị nhà truyền giáo thuộc Hội Thừa sai Paris. Ông sinh năm 1809 tại Loudun, trong một gia đình khá giả làm nghề bán vải của nước Pháp. Ông bị xử lăng trì ngày 20 tháng 9 năm 1837 tại Sơn Tây dưới thời vua Minh Mạng[1]. Ông được phong Chân phước ngày 27/5 năm 1900 bởi Giáo hoàng Lêô XIII. Ngày 19/06 năm 1988, Giáo hoàng Gioan Phaolô II tôn phong ông lên bậc Hiển thánh.
Cân cảnh bức tranh "Sự tử đạo của thánh Gioan Tân"- 

Sau khi học xong trung học, Jean Charles Cornay xin vào chủng viện Saumur, sau đó vào đại chủng viện Thừa Sai Paris năm 1830. Sau khi nhận chức phó tế, ông đến Việt Nam sau đó được thụ phong linh mục năm 1834 và chọn tên Việt là Tân. Khi chọn Việt Nam là quê hương thứ hai, có lúc ông bị bệnh nặng do thời tiết khắc nghiệt của vùng nhiệt đới, nhiều người bảo ông về Pháp chữa trị, ông nói: "Được Chúa sai đến đây, tôi sẽ không chịu bỏ về, dù phải chết đi nữa".
Cân cảnh bức tranh "Sự tử đạo của thánh Gioan Tân"-

Sau khi học xong trung học, Jean Charles Cornay xin vào chủng viện Saumur, sau đó vào đại chủng viện Thừa Sai Paris năm 1830. Sau khi nhận chức phó tế, ông đến Việt Nam sau đó được thụ phong linh mục năm 1834 và chọn tên Việt là Tân. Khi chọn Việt Nam là quê hương thứ hai, có lúc ông bị bệnh nặng do thời tiết khắc nghiệt của vùng nhiệt đới, nhiều người bảo ông về Pháp chữa trị, ông nói: "Được Chúa sai đến đây, tôi sẽ không chịu bỏ về, dù phải chết đi nữa".
Chặt đầu Thánh Pierre Borie ngày 24 tháng 11 năm 1838, Việt Nam, Thời Nguyễn.
*
Pierre-Rose-Ursule Dumoulin-Borie (20 tháng 2 năm 1808 – 24 tháng 11 năm 1838) là một linh mục Công giáo người Pháp, là thành viên của Hội Thừa sai Paris. Ông là một vị thánh Công giáo, được phong thánh vào năm 1988 cùng với các Thánh tử đạo Việt Nam khác. Pierre Borie là người con thứ sáu trong mười hai người con của ông Guillaume Borie và vợ là Rose Labrunie. Đây là một gia đình trung lưu ở Beynat ở Bas-Limousin.

ông được phong chân phước vào 27 tháng 5 năm 1900 bởi Leo XIII & tuyên thành 
19 tháng 6 năm 1988 bởi John-Paul II
Chặt đầu Thánh Pierre Borie ngày 24 tháng 11 năm 1838, Việt Nam, Thời Nguyễn.
*
Pierre-Rose-Ursule Dumoulin-Borie (20 tháng 2 năm 1808 – 24 tháng 11 năm 1838) là một linh mục Công giáo người Pháp, là thành viên của Hội Thừa sai Paris. Ông là một vị thánh Công giáo, được phong thánh vào năm 1988 cùng với các Thánh tử đạo Việt Nam khác. Pierre Borie là người con thứ sáu trong mười hai người con của ông Guillaume Borie và vợ là Rose Labrunie. Đây là một gia đình trung lưu ở Beynat ở Bas-Limousin.

ông được phong chân phước vào 27 tháng 5 năm 1900 bởi Leo XIII & tuyên thành
19 tháng 6 năm 1988 bởi John-Paul II
cận cảnh bức tranh chặt đầu Saint Pierre Borie ngày 24 tháng 11 năm 1838, Bắc Kỳ, Việt Nam
cận cảnh bức tranh chặt đầu Saint Pierre Borie ngày 24 tháng 11 năm 1838, Bắc Kỳ, Việt Nam
Các nhà truyền giáo trên một bãi biển ở Bắc Kỳ (Tonkin)- 1875

images-missions.net
Các nhà truyền giáo trên một bãi biển ở Bắc Kỳ (Tonkin)- 1875

images-missions.net
Nhà thờ ngói cổ La Vang (1901 -1923)

Tương truyền, Đức Mẹ hiện ra tại La Vang năm 1798. Vào thời gian đó, vua Cảnh Thịnh (Tây Sơn – con thứ Vua Nguyễn Huệ – Quang Trung) ra chiếu chỉ cấm đạo ngày 17 tháng 8 năm 1798, một số các tín hữu ở gần đồi Dinh Cát (nay là thị xã Quảng Trị) phải tìm nơi trốn ẩn tại núi rừng La Vang, và thường tụ tập nhau dưới gốc cây đa cổ thụ, cùng nhau cầu nguyện, an ủi và giúp đỡ nhau.

Một hôm đang khi cùng nhau lần hạt kính Đức Mẹ, bỗng họ nhìn thấy một người phụ nữ xinh đẹp, mặc áo choàng rộng, tay bồng Chúa Hài Đồng Giêsu, có hai thiên thần cầm đèn chầu hai bên. Mẹ bày tỏ lòng nhân từ, âu yếm, và an ủi giáo dân. Mẹ dạy hái một loại lá cây có sẵn chung quanh đó, đem nấu nước uống sẽ lành các chứng bệnh. Mẹ lại ban lời hứa: “Mẹ đã nhận lời các con kêu xin. Từ nay về sau, hễ ai chạy đến cầu khẩn Mẹ tại chốn này, Mẹ sẽ nhận lời ban ơn theo ý nguyện”.

Sự kiện xảy ra trên thảm cỏ gần gốc cây đa cổ thụ nơi giáo dân đang cầu nguyện. Sau đó, Mẹ còn hiện ra nhiều lần như vậy để nâng đỡ và an ủi con cái Mẹ trong cơn hoạn nạn.
Từ đó đến nay sự kiện Đức Mẹ hiện ra tại núi rừng La Vang, qua các thế hệ được loan truyền khắp nơi, và nhiều người chân thành tin tưởng, đến cầu khấn Đức Mẹ. Đức Mẹ La Vang thường được biểu tượng bằng một phụ nữ mặc áo dài Việt Nam bế con cũng mặc trang phục truyền thống Việt Nam.
Nhà thờ ngói cổ La Vang (1901 -1923)

Tương truyền, Đức Mẹ hiện ra tại La Vang năm 1798. Vào thời gian đó, vua Cảnh Thịnh (Tây Sơn – con thứ Vua Nguyễn Huệ – Quang Trung) ra chiếu chỉ cấm đạo ngày 17 tháng 8 năm 1798, một số các tín hữu ở gần đồi Dinh Cát (nay là thị xã Quảng Trị) phải tìm nơi trốn ẩn tại núi rừng La Vang, và thường tụ tập nhau dưới gốc cây đa cổ thụ, cùng nhau cầu nguyện, an ủi và giúp đỡ nhau.

Một hôm đang khi cùng nhau lần hạt kính Đức Mẹ, bỗng họ nhìn thấy một người phụ nữ xinh đẹp, mặc áo choàng rộng, tay bồng Chúa Hài Đồng Giêsu, có hai thiên thần cầm đèn chầu hai bên. Mẹ bày tỏ lòng nhân từ, âu yếm, và an ủi giáo dân. Mẹ dạy hái một loại lá cây có sẵn chung quanh đó, đem nấu nước uống sẽ lành các chứng bệnh. Mẹ lại ban lời hứa: “Mẹ đã nhận lời các con kêu xin. Từ nay về sau, hễ ai chạy đến cầu khẩn Mẹ tại chốn này, Mẹ sẽ nhận lời ban ơn theo ý nguyện”.

Sự kiện xảy ra trên thảm cỏ gần gốc cây đa cổ thụ nơi giáo dân đang cầu nguyện. Sau đó, Mẹ còn hiện ra nhiều lần như vậy để nâng đỡ và an ủi con cái Mẹ trong cơn hoạn nạn.
Từ đó đến nay sự kiện Đức Mẹ hiện ra tại núi rừng La Vang, qua các thế hệ được loan truyền khắp nơi, và nhiều người chân thành tin tưởng, đến cầu khấn Đức Mẹ. Đức Mẹ La Vang thường được biểu tượng bằng một phụ nữ mặc áo dài Việt Nam bế con cũng mặc trang phục truyền thống Việt Nam.
Nhà thờ La Vang giai đoạn 1923 -1961
Nhà thờ La Vang giai đoạn 1923 -1961
Các Sơ Dòng Chúa Quan Phòng chăm sóc trẻ mồ côi tại một trại mồ côi Cù Lao Giêng (An Giang). Ảnh được chụp vào khoảng năm 1900.
Một chi tiết thú vị là, Hội dòng này cũng là nơi cưu mang phó thủ tướng Đức Philipp Rösler (sinh ngày 24 tháng 2 năm 1973).
Có nhiều thông tin cho rằng ông Philipp Rösler là một trong những cậu bé được không vận bằng chiến dịch babylift vào tháng Tư-1975.
Tháng 9.2012, ông đã về thăm lại hội dòng này. Cũng từ chuyến thăm này, nhiều đất đai của Hội Dòng bị thu hồi trước đây, được trả lại. 

---
Trước ngày lên đường viếng thăm Việt Nam, Phó thủ tướng Philipp Rösler đã trả lời phỏng vấn của tuần báo Spiegel, trong đó ông có nhắc đến người Công Gáo Việt Nam.

Spiegel Online: Tại Việt Nam, cộng sản vẫn còn cai trị với một hệ thống độc đảng. Trong chuyến đi này ông có để ý đến việc tôn trọng về nhân quyền?

Philipp Rösler: Tôi đang dấn thân trong Ủy ban Trung ương của người Công giáo Đức, do đó điều này cũng quan trọng đối với tôi để mời đại diện của Giáo hội Công giáo (VN) tham dự một buổi tiếp tân tại Đại sứ quán Đức ở Hà Nội. Người Công giáo tiếp tục gặp khó khăn tại Việt Nam. Lời mời trên như thế là một xác nhận rõ ràng từ phía của tôi.

Spiegel Online: Ông đã được rửa tội vào năm 2000. Có phải quyết định này liên quan cùng với thực tế rằng các nữ tu Công Giáo đã cứu sống ông?

Philipp Rösler: Đó không phải là yếu tố quyết định. Nhưng ai đã cảm nghiệm được sự nguy hiểm và nghèo túng trong cuộc chiến tranh Việt Nam mà các Nữ Tu đã dấn thân cưu mang các trẻ em mồ côi, thì người đó sẽ gìn giữ nó mãi trong tâm trí của mình.
Các Sơ Dòng Chúa Quan Phòng chăm sóc trẻ mồ côi tại một trại mồ côi Cù Lao Giêng (An Giang). Ảnh được chụp vào khoảng năm 1900.
Một chi tiết thú vị là, Hội dòng này cũng là nơi cưu mang phó thủ tướng Đức Philipp Rösler (sinh ngày 24 tháng 2 năm 1973).
Có nhiều thông tin cho rằng ông Philipp Rösler là một trong những cậu bé được không vận bằng chiến dịch babylift vào tháng Tư-1975.
Tháng 9.2012, ông đã về thăm lại hội dòng này. Cũng từ chuyến thăm này, nhiều đất đai của Hội Dòng bị thu hồi trước đây, được trả lại.

---
Trước ngày lên đường viếng thăm Việt Nam, Phó thủ tướng Philipp Rösler đã trả lời phỏng vấn của tuần báo Spiegel, trong đó ông có nhắc đến người Công Gáo Việt Nam.

Spiegel Online: Tại Việt Nam, cộng sản vẫn còn cai trị với một hệ thống độc đảng. Trong chuyến đi này ông có để ý đến việc tôn trọng về nhân quyền?

Philipp Rösler: Tôi đang dấn thân trong Ủy ban Trung ương của người Công giáo Đức, do đó điều này cũng quan trọng đối với tôi để mời đại diện của Giáo hội Công giáo (VN) tham dự một buổi tiếp tân tại Đại sứ quán Đức ở Hà Nội. Người Công giáo tiếp tục gặp khó khăn tại Việt Nam. Lời mời trên như thế là một xác nhận rõ ràng từ phía của tôi.

Spiegel Online: Ông đã được rửa tội vào năm 2000. Có phải quyết định này liên quan cùng với thực tế rằng các nữ tu Công Giáo đã cứu sống ông?

Philipp Rösler: Đó không phải là yếu tố quyết định. Nhưng ai đã cảm nghiệm được sự nguy hiểm và nghèo túng trong cuộc chiến tranh Việt Nam mà các Nữ Tu đã dấn thân cưu mang các trẻ em mồ côi, thì người đó sẽ gìn giữ nó mãi trong tâm trí của mình.

Xem Thêm