Di cư vào miền Nam 1954 (Operation Passage to Freedom)

Cuộc di cư năm 1954 (tiếng Anh: Operation Passage to Freedom, Chiến dịch Con đường đến Tự do) là một cuộc di cư của gần một triệu người Việt từ miền Bắc Việt Nam trong những năm 1954–1955.

Di cư năm 1954 là sự kiện xảy ra sau Hiệp định Genève tại Việt Nam, bao gồm gần một triệu người "di cư vào Nam" (đa số là người Công giáo) và khoảng 150.000 người "tập kết ra Bắc" (đa số là cán bộ, binh sĩ Việt Minh từng tham gia chiến tranh chống Pháp).

Bối cảnh

Sau trận Điện Biên Phủ, Hiệp định Genève được ký kết giữa Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Pháp, tạm thời chia đôi Việt Nam thành hai vùng tập trung quân sự tại vĩ tuyến 17. Hệ thống bộ máy dân sự và lực lượng quân sự của chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được tập trung ở miền Bắc và hệ thống bộ máy dân sự và lực lượng quân sự của chính quyền Liên hiệp Pháp được tập trung ở miền Nam, chờ ngày tổng tuyển cử tự do dự kiến sẽ xảy ra vào ngày 20 tháng 7 năm 1956. Điều 14 phần (d) của Hiệp định cho phép người dân ở mỗi phía di cư đến phía kia và yêu cầu phía quản lý tạo điều kiện cho họ di cư trong vòng 300 ngày sau thoả hiệp đình chiến (Điều 2), tức chấm dứt vào ngày 19 tháng 5, 1955. Dân Hà Nội có 80 ngày, Hải Dương có 100 ngày, còn Hải Phòng, điểm cuối cùng tập trung để di cư có 300 ngày.

Để giám sát thực thi hiệp định, Uỷ hội Quốc tế Kiểm soát Đình chiến được thành lập theo điều 34 của hiệp định với đại diện của ba nước Ấn Độ, Ba Lan, và Canada.

Nguyên nhân

Theo tuần báo Time, những người di cư vào miền Nam, đặc biệt những người Công giáo Việt Nam, cho rằng họ đã bị đàn áp tôn giáo dưới chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Nhiều người thật sự ra đi vì lý do kinh tế và chính trị: họ là những người làm việc cho Pháp, hay giới tư sản không có cảm tình với chính phủ Cộng sản. Một số người là nạn nhân của cải cách ruộng đất tại miền Bắc Việt Nam, bị lấy mất tài sản nên phải bỏ ra đi.

Tuy nhiên, chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hoà thì cho rằng những người Công giáo Việt Nam đã bị chính quyền Pháp, Mỹ và thân Mỹ cưỡng bức hay "dụ dỗ di cư". Khẳng định này không mâu thuẫn với các tài liệu của Mỹ về hoạt động của Edward Lansdale, chuyên gia tình báo Mỹ hoạt động tại miền Bắc Việt Nam trong thời gian này, với nhiệm vụ làm suy yếu Việt Nam Dân chủ Cộng hòa bằng mọi cách có thể. Theo đó, các linh mục miền Bắc giục giã giáo dân vào Nam với lời giảng rằng Đức Mẹ Đồng Trinh đã vào Nam nên họ phải đi theo.

Lansdale và nhóm của ông đã thực hiện một chiến dịch tuyên truyền miêu tả rằng các điều kiện sắp tới dưới chính quyền Việt Minh sẽ ác nghiệt hết mức có thể. Trước tiên là chiến dịch tung tin đồn: tung ra câu chuyện một tiểu đoàn Trung hoa tại Bắc Kỳ đã trả thù một làng Việt Nam, phụ nữ bị hãm hiếp... điều đó làm cho người Việt lo sợ về một cuộc chiếm đóng của quân Trung Quốc. Nhóm này còn phân tán các tờ truyền đơn được giả mạo là của chính phủ Việt Minh, tạo các tin đồn về những chính sách khắc nghiệt, thuê các thầy bói tiên đoán về các tai họa sắp tới. Bản tường trình mật của Lansdale về nhiệm vụ của ông đã ghi nhận số người đăng ký di cư vào Nam tăng lên gấp 3 lần sau khi một tờ truyền đơn giả mạo được phát tán[6]. Bernard Fall, nhà sử học nhận xét: "Mọi người phải công nhận rằng cuộc di cư hàng loạt như thế chủ yếu là kết quả một cuộc hành quân chiến tranh tâm lý của Mỹ (và của cả quân đội Pháp).
Ngược lại, có những cáo buộc rằng những tờ bích chương và tờ bướm do Uỷ hội Quốc tế Kiểm soát Đình chiến in và trao cho hai bên phổ biến cho dân chúng biết về quyền tự do di tản thì không được chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hoà phân phát. Hơn nữa chính Uỷ hội Quốc tế Kiểm soát Đình chiến đã mở cuộc điều tra đơn khiếu nại của Việt Nam Dân chủ Cộng hoà về hành động cưỡng bách di cư. Trong số 25.000 người Uỷ hội tiếp xúc, không có ai nhận là họ bị "cưỡng bách di cư" hay muốn trở về Bắc cả.

Ngoài những người di cư vào Nam vì lý do tôn giáo (chiếm 2/3 tổng số), số còn lại là những người thuộc khuynh hướng chính trị chống cộng sản, những người có liên hệ với chính quyền Pháp hay chính phủ quốc gia, thành phần tư sản thành thị và những gia đình nông thôn lo ngại vì chính sách cải cách ruộng đất và đấu tố. Thêm vào đó là những người thuộc dân tộc thiểu số đã từng theo quân đội Pháp chống Việt Minh. Trong đó có khoảng 45.000 người Nùng vùng Móng Cái và 2.000 người Thái và Mèo từ Sơn La và Điện Biên.

Tiến trình

Ngày 9 tháng 8 năm 1954, chính phủ Quốc gia Việt Nam của tân Thủ tướng Ngô Đình Diệm lập Phủ Tổng ủy Di cư Tỵ nạn ở cấp một bộ trong nội các với ba nha đại diện, một ở miền Bắc, một ở miền Trung và một ở miền Nam để xúc tiến định cư. Thêm vào đó là Uỷ ban Hỗ trợ Định cư, một tổ chức cứu trợ tư nhân giúp sức.

Đối với sinh viên đại học, Bộ Tư lệnh Pháp dành 12 chuyến bay trong hai ngày 12 và 13 Tháng Tám đưa khoảng 1200 sinh viên miền Bắc vào Nam. Ước tính chỉ khoảng 1/3 ở lại còn 2/3 chọn di cư.

Vì không có đủ phương tiện cho những người di cư vào Nam nên chính quyền Pháp và Bảo Đại phải kêu gọi các nước khác giúp chuyên chở và định cư. Các chính phủ Anh, Ba Lan, Tây Đức, Nam Hàn, Hoa Kỳ, Nhật, Philippines, New Zealand, Trung Hoa Dân quốc, Úc và Ý hưởng ứng cùng các tổ chức UNICEF, Hồng Thập Tự, Catholic Relief Services (CRS), Church World Services (CWS), Mennonite Central Committee (MCC), International Rescue Committee (IRC), CARE và Thanh thương Hội Quốc tế.

Ngày 4 tháng 8 năm 1954 cầu hàng không nối phi trường Tân Sơn Nhứt, Sài Gòn trong Nam với các sân bay Gia Lâm, Bạch Mai, Hà Nội và Cát Bi, Hải Phòng ngoài Bắc được thiết lập. Nỗ lực đó được coi là cầu không vận dài nhất thế giới lúc bấy giờ (khoảng 1.200 km đường chim bay). Phi cảng Tân Sơn Nhứt trở nên đông nghẹt; tính trung bình mỗi 6 phút một là một máy bay hạ cánh và mỗi ngày có từ 2000 đến 4200 người di cư tới. Tổng kết là 4280 lượt hạ cánh, đưa vào 213.635 người.

Ngoài ra, một hình ảnh quen thuộc với người dân tỵ nạn là "tàu há mồm" (tiếng Anh: landing ship, tank viết tắt là LST) đón người ở gần bờ rồi chuyển ra tàu lớn neo ngoài hải phận miền Bắc. Các tàu thủy vừa hạ xuống, hàng trăm người đã giành lên. Các tàu của Việt Nam, Pháp, Anh, Hoa Kỳ, Trung Hoa, Ba Lan... giúp được 555.037 người "vô Nam". "Nam" được hiểu là cả dải duyên hải miền Nam Việt Nam, từ Đà Nẵng tới Vũng Tàu. Vì số người di cư quá đông Cao uỷ Pháp đã xin gia hạn thêm ba tháng và phía Hà Nội đã thoả thuận nên ngày cuối cùng thay vì là ngày 19 tháng 5 được đổi thành ngày 19 tháng 8. Trong thời gian gia hạn thêm 3.945 người đã vượt tuyến vào Nam.

Chuyến tàu thuỷ cuối cùng của cuộc di cư cập bến Sài Gòn vào ngày 16 tháng 8.

Thêm vào đó, còn tới 102.861 người tự tìm đường bộ hoặc ghe thuyền và phương tiện riêng.

Tính đến giữa năm 1954 và 1956, trên 1 triệu người đã di cư từ Bắc vào Nam, trong đó có khoảng 800.000 người Công giáo, tức khoảng 2/3 số người Công giáo ở miền Bắc đã bỏ vào Nam.

(Theo Wikipedia)

Admin: DTT
Người dân Công Giáo ỡ Bắc cầu nguyện trước Chuá, trước khi di cư vào Nam
Người dân Công Giáo ỡ Bắc cầu nguyện trước Chuá, trước khi di cư vào Nam
người dân trên đường đi di cư
người dân trên đường đi di cư
Những người Công giáo di cư vào Nam
Những người Công giáo di cư vào Nam
Quang cảnh đồng bào miền Bắc lên tàu di cư từ Hải Phòng vào Nam (1954).
Quang cảnh đồng bào miền Bắc lên tàu di cư từ Hải Phòng vào Nam (1954).
Con bồng con bế
Con bồng con bế
Hàng chữ trên tường: "Ra đi là sự lựa chọn tự do"
Hàng chữ trên tường: "Ra đi là sự lựa chọn tự do"
Chăm sóc người di cư trên tàu
Chăm sóc người di cư trên tàu
Tàu há mồm
Tàu há mồm
Cầu nguyện trước khi vào Nam
Cầu nguyện trước khi vào Nam
Khoảng 130.000 người theo cộng sản tập kết do tầu Ba Lan và Sô Viết chở ra Bắc
Khoảng 130.000 người theo cộng sản tập kết do tầu Ba Lan và Sô Viết chở ra Bắc
A helping hand
A helping hand
Tháng 7-1954, tại quảng trường trước Nhà hát Lớn Hà Nội, nhiều người dân mít tinh phản đối việc chia cắt đất nước theo Hiệp định ký giữa Pháp và Việt Minh sau khi Hiệp định này được công bố
Tháng 7-1954, tại quảng trường trước Nhà hát Lớn Hà Nội, nhiều người dân mít tinh phản đối việc chia cắt đất nước theo Hiệp định ký giữa Pháp và Việt Minh sau khi Hiệp định này được công bố
Các gia đình lo bán đồ đạc để chuẩn bị di cư vào Nam sau khi ký Hiệp định Geneva
Các gia đình lo bán đồ đạc để chuẩn bị di cư vào Nam sau khi ký Hiệp định Geneva
Các gia đình lo bán đồ đạc để chuẩn bị di cư vào Nam sau khi ký Hiệp định Geneva
Các gia đình lo bán đồ đạc để chuẩn bị di cư vào Nam sau khi ký Hiệp định Geneva
Đồng bào Công giáo ở miền Bắc đi cư vào Nam - 1954
Đồng bào Công giáo ở miền Bắc đi cư vào Nam - 1954
Một y tá đang tiêm chủng cho các trẻ em trước khi lên tàu di cư vào Nam
Một y tá đang tiêm chủng cho các trẻ em trước khi lên tàu di cư vào Nam
Có khoảng 45.000 người Nùng vùng Móng Cái và 2.000 người Thái và Mèo từ Sơn La và Điện Biên cũng di cư vào Nam.
Có khoảng 45.000 người Nùng vùng Móng Cái và 2.000 người Thái và Mèo từ Sơn La và Điện Biên cũng di cư vào Nam.
Đồng bào di cư vào Nam tại cảng Hải Phòng, tháng 7/1954
Đồng bào di cư vào Nam tại cảng Hải Phòng, tháng 7/1954
Cảng Hải Phòng, tháng 7/1954
Cảng Hải Phòng, tháng 7/1954
Các thủy thủ Pháp chia phần ăn cho đồng bào miền Bắc di cư (vào Nam) trên tàu USS Bayfield (APA-33) năm 1954.
Các thủy thủ Pháp chia phần ăn cho đồng bào miền Bắc di cư (vào Nam) trên tàu USS Bayfield (APA-33) năm 1954.
Người di cư miền Bắc (vào Nam) rời tàu Bayfield (APA-33) ở cảng Sài Gòn vào tháng 9 năm 1954.
Người di cư miền Bắc (vào Nam) rời tàu Bayfield (APA-33) ở cảng Sài Gòn vào tháng 9 năm 1954.
Khoảng một triệu người dân miền Bắc (khoảng 800,000 người Công giáo di cư đến miền Nam Việt Nam trong những năm 1954–1955 theo những chuyến tàu do Pháp và Mỹ tổ chức.
(Ảnh National Geographic)
Khoảng một triệu người dân miền Bắc (khoảng 800,000 người Công giáo di cư đến miền Nam Việt Nam trong những năm 1954–1955 theo những chuyến tàu do Pháp và Mỹ tổ chức.
(Ảnh National Geographic)
Tạp chí National Geographic gọi cuộc di cư vào Miền Nam 1954 là “một vụ di dân mang tính lịch sử.” 
Stanley Karnow, gọi đây là “một phong trào tị nạn khổng lồ từ Bắc vào Nam" trong cuốn "Việt Nam :Một Lịch sử" (Vietnam: A History)
Tạp chí National Geographic gọi cuộc di cư vào Miền Nam 1954 là “một vụ di dân mang tính lịch sử.”
Stanley Karnow, gọi đây là “một phong trào tị nạn khổng lồ từ Bắc vào Nam" trong cuốn "Việt Nam :Một Lịch sử" (Vietnam: A History)
Đồng bào gồng gánh từ quê chuẩn bị lên Hà Nội hoặc Hải Phòng để chờ di cư vào Nam
Đồng bào gồng gánh từ quê chuẩn bị lên Hà Nội hoặc Hải Phòng để chờ di cư vào Nam
Chờ đợi
Chờ đợi
Chuẩn bị lên tầu
Chuẩn bị lên tầu
Lên tầu

Haiphong, Indo-China --- 8/21/54-Haiphong, Indo-China: There is no sign of abatement in the steady stream of evacuees who have abandoned their homes in northern Vietnam, to flee areas that will fall under Communist domination according to the Geneva Agreement on ndo-China. Almost 2,500 refugees pour into Hanoi and Haiphong daily to beat the deadline. In this photo, a French social worker is shown helping one of the fleeing families to board a transport bound for Saigon in the south. --- Image by © Bettmann/CORBIS
Lên tầu

Haiphong, Indo-China --- 8/21/54-Haiphong, Indo-China: There is no sign of abatement in the steady stream of evacuees who have abandoned their homes in northern Vietnam, to flee areas that will fall under Communist domination according to the Geneva Agreement on ndo-China. Almost 2,500 refugees pour into Hanoi and Haiphong daily to beat the deadline. In this photo, a French social worker is shown helping one of the fleeing families to board a transport bound for Saigon in the south. --- Image by © Bettmann/CORBIS
USS Bayfield (APA-33) docks at Saigon, Indochina, to offload refugees following a trip from Haiphong, September 1954.
USS Bayfield (APA-33) docks at Saigon, Indochina, to offload refugees following a trip from Haiphong, September 1954.
Một bài báo viết về việc di cư vào Nam của đồng bào Công giáo năm 1954. Tác giả là C.B (tức Hồ Chí Minh) đăng trên báo Nhân Dân ngày 29/9 - 1954.
Một bài báo viết về việc di cư vào Nam của đồng bào Công giáo năm 1954. Tác giả là C.B (tức Hồ Chí Minh) đăng trên báo Nhân Dân ngày 29/9 - 1954.
Một nhà thờ mới được dựng lên tại khu định cư của đồng bào miền Bắc di cư năm 1954 tại Cái Sắn, vừa kịp thời để Mừng Chúa Giáng Sinh 1957.
Một nhà thờ mới được dựng lên tại khu định cư của đồng bào miền Bắc di cư năm 1954 tại Cái Sắn, vừa kịp thời để Mừng Chúa Giáng Sinh 1957.
Nỗi lòng người đi, nhạc sĩ Anh Bằng viết về cuộc di cư này.
Nỗi lòng người đi, nhạc sĩ Anh Bằng viết về cuộc di cư này.
Gia tài mang theo của bà mẹ trẻ
là đứa con
Gia tài mang theo của bà mẹ trẻ
là đứa con
Đồng bào Công giáo Phát Diệm chuẩn bị lên tàu di cư vào Nam
Đồng bào Công giáo Phát Diệm chuẩn bị lên tàu di cư vào Nam
Người dân Miền Nam đón tiếp đồng bào Miền Bắc di cư vào Nam,
Sài Gòn tháng 6/1954 

photo by Rufus Philips
Người dân Miền Nam đón tiếp đồng bào Miền Bắc di cư vào Nam,
Sài Gòn tháng 6/1954

photo by Rufus Philips
Đồng bào Sài Gòn đón tiếp đồng bào Miền Bắc di cư vào Nam  ngay từ cầu thang máy bay.
một bức ảnh màu được chụp tại Sài Gòn, 1954.

photo by Rufus Philips
Đồng bào Sài Gòn đón tiếp đồng bào Miền Bắc di cư vào Nam ngay từ cầu thang máy bay.
một bức ảnh màu được chụp tại Sài Gòn, 1954.

photo by Rufus Philips
Một giáo dân Công Giáo nhận hàng tiếp tế của Mỹ trong Chiến dịch "Passage to Freedom"
Một giáo dân Công Giáo nhận hàng tiếp tế của Mỹ trong Chiến dịch "Passage to Freedom"
(LIFE)
(LIFE)

Xem Thêm