Giáo dục xưa

Sự cải cách quan trọng nhất trong nền giáo dục của người Pháp đã đem tới cho Việt Nam là các bộ môn khoa học. Trong nhiều thế kỷ, dân Việt Nam chỉ dựa trên nền triết lý Khổng Mạnh để tổ chức gia đình và xã hội, tất cả đều dựa trên chữ nghĩa.

Admin: DDGV, LT và DTT
Ông đồ và học trò
Ông đồ và học trò
Giờ lịch sử
Giờ lịch sử
Giờ sinh vật học thời Pháp thuộc
Giờ sinh vật học thời Pháp thuộc
Giờ hóa học
Giờ hóa học
Giờ địa lý
Giờ địa lý
Học sinh Việt học giờ sinh vật dạy trong phòng chuyên Sinh với thầy giáo người Pháp.
Học sinh Việt học giờ sinh vật dạy trong phòng chuyên Sinh với thầy giáo người Pháp.
Giờ toán học
Giờ toán học
Giờ thể thao, Trường Chasseloup-Lauba, nay là trường Lê Quý Đôn.
Giờ thể thao, Trường Chasseloup-Lauba, nay là trường Lê Quý Đôn.
Giờ thực hành học bơi
Giờ thực hành học bơi
Trường tỉnh
Trường tỉnh
Trường làng
Trường làng
Trường thi.
Trường thi.
Sĩ tử lều chõng đi thi.
Sĩ tử lều chõng đi thi.
Nho sĩ
Nho sĩ
Thầy đồ và học trò
Thầy đồ và học trò
Thầy đồ, Nam Kỳ
Thầy đồ, Nam Kỳ
Đèn, sách, bút lông.
Đèn, sách, bút lông.
Tập viết chữ Nho, 1908
Tập viết chữ Nho, 1908
Nữ sinh tập hát đồng ca
Nữ sinh tập hát đồng ca
Nam sinh tập hát
Nam sinh tập hát
Nữ sinh một trường dòng
Nữ sinh một trường dòng
Một lớp tiểu học, Hà Nội 1926
Một lớp tiểu học, Hà Nội 1926
Một ngày hội của học sinh trường Bảo hộ (trường Bưởi, nay là trường Chu Văn An, Hà Nội)
Một ngày hội của học sinh trường Bảo hộ (trường Bưởi, nay là trường Chu Văn An, Hà Nội)
Lều và chõng tre cho thí sinh ngồi làm bài thi (thời Nguyễn)

ad NH
Lều và chõng tre cho thí sinh ngồi làm bài thi (thời Nguyễn)

ad NH
Quang cảnh trường thi Nam Định khoa thi năm Nhâm Tý (1912) với chòi canh và lều chõng của thí sinh.

ad NH
Quang cảnh trường thi Nam Định khoa thi năm Nhâm Tý (1912) với chòi canh và lều chõng của thí sinh.

ad NH
Học sinh thời Pháp thuộc trong đồng phục trắng.
Học sinh thời Pháp thuộc trong đồng phục trắng.
Công bố tên người trúng tuyển kỳ thi Hương, Nam Định năm 1897.

 Người có nhiệm vụ xướng danh các sĩ tử đỗ đạt sẽ cầm một chiếc loa, đứng trên cao và đọc to họ tên, quê quán của từng người.

Nguồn: Nhiếp ảnh gia người Pháp Firmin André Salles (1860-1929).
Công bố tên người trúng tuyển kỳ thi Hương, Nam Định năm 1897.

Người có nhiệm vụ xướng danh các sĩ tử đỗ đạt sẽ cầm một chiếc loa, đứng trên cao và đọc to họ tên, quê quán của từng người.

Nguồn: Nhiếp ảnh gia người Pháp Firmin André Salles (1860-1929).
Các sĩ tử lên tàu đi thi (cuối thế kỷ 19 đầu 20).
Các sĩ tử lên tàu đi thi (cuối thế kỷ 19 đầu 20).
Bảng vàng có tên những người trúng tuyển tại trường thi Nam Định năm 1897.
Bảng vàng có tên những người trúng tuyển tại trường thi Nam Định năm 1897.
Kỳ thi Hương - Nam Định 1897. Thí sinh trúng tuyển diễn hành qua các khảo quan.
Photo by Salles, Firmin André (1860-1929)

(NAM DINH 1897 - Concours triennal, défilé des lauréats devant les examinateurs)
Nguồn: https://www.flickr.com/photos/13476480@N07/12513313614/
Kỳ thi Hương - Nam Định 1897. Thí sinh trúng tuyển diễn hành qua các khảo quan.
Photo by Salles, Firmin André (1860-1929)

(NAM DINH 1897 - Concours triennal, défilé des lauréats devant les examinateurs)
Nguồn: https://www.flickr.com/photos/[email protected]/12513313614/
Quán hàng ăn rong gần trường thi trong khoa thi hương cuối cùng tại Nam Định năm 1915 

- Ảnh: EFEO (Viện Viễn Đông Bác Cổ Pháp)
Quán hàng ăn rong gần trường thi trong khoa thi hương cuối cùng tại Nam Định năm 1915

- Ảnh: EFEO (Viện Viễn Đông Bác Cổ Pháp)
Bia mộ Alexandre de Rhodes(1591-1660) - người có công lớn trong việc tạo ra chữ Quốc ngữ (tiếng Việt).

Ông là nhà truyền giáo dòng Tên. Ông đến Hội An (Việt Nam) đầu năm 1625, khi 34 tuổi, đi suốt Bắc - Nam truyền đạo và chỉ rời Việt Nam khi bị chúa Nguyễn trục xuất vĩnh viễn vào năm 1645.
Ông đã có công tổng hợp, chỉnh lý những công trình của các giáo sĩ trước đó để hình thành chữ quốc ngữ Việt Nam hiện đại với tác phẩm “Tự điển Việt-Bồ-La” in năm 1651 tại Roma -Cuốn sách hệ thống hóa cách ghi âm tiếng Việt bằng mẫu tự La tinh.
Ông mất ngày 5 tháng 11 năm 1660 ở Isfahan, Nước Cộng hòa Hồi giáo Iran.
Bia mộ Alexandre de Rhodes(1591-1660) - người có công lớn trong việc tạo ra chữ Quốc ngữ (tiếng Việt).

Ông là nhà truyền giáo dòng Tên. Ông đến Hội An (Việt Nam) đầu năm 1625, khi 34 tuổi, đi suốt Bắc - Nam truyền đạo và chỉ rời Việt Nam khi bị chúa Nguyễn trục xuất vĩnh viễn vào năm 1645.
Ông đã có công tổng hợp, chỉnh lý những công trình của các giáo sĩ trước đó để hình thành chữ quốc ngữ Việt Nam hiện đại với tác phẩm “Tự điển Việt-Bồ-La” in năm 1651 tại Roma -Cuốn sách hệ thống hóa cách ghi âm tiếng Việt bằng mẫu tự La tinh.
Ông mất ngày 5 tháng 11 năm 1660 ở Isfahan, Nước Cộng hòa Hồi giáo Iran.
Trung tâm trường thi Nam Định năm 1900 (The Exam Center of Nam Định - 1900).

Kỳ thi này có 2 kỷ lục là sĩ tử cao tuổi nhất và sĩ tử đỗ cao tuổi nhất:
- Sĩ tử cao tuổi nhất là Vũ Đình Thự dự khoa Canh Tý, Thành Thái thứ 12 (năm 1900) khi đã 84 tuổi. Cụ đỗ Cử nhân, đứng thứ 62 trong số 90 Cử nhân của trường Hà Nội - Nam Định  Nguồn: Quốc triều hương khoa lục, Cao Xuân Dục, Nhà xuất bản Lao Động, 2011.
- Sĩ tử đỗ cao tuổi nhất là Đoàn Tử Quang đỗ thứ 29 trong 30 cử nhân năm 1900 đời Thành Thái khi đã 82 tuổi. Sau này ông mất năm 1928, thọ 110 tuổi.
Trong khoa thi này cụ Phan bội Châu đỗ Giải nguyên và cụ Đoàn Tử Quang đỗ Á nguyên, nhưng vì phạm trường quy, theo lệ phải đánh hỏng. May nhờ chủ khảo là Khiếu Năng Tĩnh có lòng nhân từ thấy ông tuổi tác cao mà bị trượt nên họp bàn với các quan trường, đệ quyển thi về kinh, và dâng sớ xin cho ông đỗ cử nhân. Vua Thành Thái ban chỉ đặc cách cho Đoàn Tử Quang đỗ cử nhân thứ 21.

Chủ khảo Khiếu Năng Tĩnh và phó chủ khảo Mai Khắc Đôn viết bài: Nhai sự Ký kể lại việc này như sau: 

"Khoa Canh Tý năm Thành Thái thứ 12, trường thi Hương Nghệ An, sĩ nhân Đoàn Tử Quang 82 tuổi, quê làng Phụng Công, phủ Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh, đã đỗ 2 khóa tú tài, nay đỗ cử nhân thứ 21... Từ khi quốc triều mở khoa thi đến nay, chưa từng thấy có chuyện lạ như thế.
Hôm xướng danh, người đi xem đông hơn đám hội. Xướng đến tên Đoàn Tử Quang đỗ cử nhân thứ 21, một ông già dạ lên, chen đám đông bước vào, râu tóc trắng xóa, phong thái như người tiên. Các quan Tây, quan tỉnh đến cầm tay ông khen ngợi... Thật cảm động. Vào dự yến, không quên lấy phần về cho mẹ già 98 tuổi".
Trung tâm trường thi Nam Định năm 1900 (The Exam Center of Nam Định - 1900).

Kỳ thi này có 2 kỷ lục là sĩ tử cao tuổi nhất và sĩ tử đỗ cao tuổi nhất:
- Sĩ tử cao tuổi nhất là Vũ Đình Thự dự khoa Canh Tý, Thành Thái thứ 12 (năm 1900) khi đã 84 tuổi. Cụ đỗ Cử nhân, đứng thứ 62 trong số 90 Cử nhân của trường Hà Nội - Nam Định Nguồn: Quốc triều hương khoa lục, Cao Xuân Dục, Nhà xuất bản Lao Động, 2011.
- Sĩ tử đỗ cao tuổi nhất là Đoàn Tử Quang đỗ thứ 29 trong 30 cử nhân năm 1900 đời Thành Thái khi đã 82 tuổi. Sau này ông mất năm 1928, thọ 110 tuổi.
Trong khoa thi này cụ Phan bội Châu đỗ Giải nguyên và cụ Đoàn Tử Quang đỗ Á nguyên, nhưng vì phạm trường quy, theo lệ phải đánh hỏng. May nhờ chủ khảo là Khiếu Năng Tĩnh có lòng nhân từ thấy ông tuổi tác cao mà bị trượt nên họp bàn với các quan trường, đệ quyển thi về kinh, và dâng sớ xin cho ông đỗ cử nhân. Vua Thành Thái ban chỉ đặc cách cho Đoàn Tử Quang đỗ cử nhân thứ 21.

Chủ khảo Khiếu Năng Tĩnh và phó chủ khảo Mai Khắc Đôn viết bài: Nhai sự Ký kể lại việc này như sau:

"Khoa Canh Tý năm Thành Thái thứ 12, trường thi Hương Nghệ An, sĩ nhân Đoàn Tử Quang 82 tuổi, quê làng Phụng Công, phủ Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh, đã đỗ 2 khóa tú tài, nay đỗ cử nhân thứ 21... Từ khi quốc triều mở khoa thi đến nay, chưa từng thấy có chuyện lạ như thế.
Hôm xướng danh, người đi xem đông hơn đám hội. Xướng đến tên Đoàn Tử Quang đỗ cử nhân thứ 21, một ông già dạ lên, chen đám đông bước vào, râu tóc trắng xóa, phong thái như người tiên. Các quan Tây, quan tỉnh đến cầm tay ông khen ngợi... Thật cảm động. Vào dự yến, không quên lấy phần về cho mẹ già 98 tuổi".
Một lớp học chữ Nho năm 1895.
Một lớp học chữ Nho năm 1895.
Một giờ học môn Vật lý tại Đại học Đông Dương (ĐH Quốc Gia Hà Nội) những năm 1930 của thế kỷ XX. 
Giảng viên đều là Giáo sư người Pháp từ các cơ sở giáo dục đã có, từ Viện Viễn Đông Bác cổ, và từ Viện Đại học Paris.

Ảnh Tư liệu do TS. Đào Thị Diến - Trung tâm lưu trữ Quốc gia I cung cấp
Một giờ học môn Vật lý tại Đại học Đông Dương (ĐH Quốc Gia Hà Nội) những năm 1930 của thế kỷ XX.
Giảng viên đều là Giáo sư người Pháp từ các cơ sở giáo dục đã có, từ Viện Viễn Đông Bác cổ, và từ Viện Đại học Paris.

Ảnh Tư liệu do TS. Đào Thị Diến - Trung tâm lưu trữ Quốc gia I cung cấp
Giờ học lâm sàng của Trường Y khoa Đông Dương những năm 1921-1935. Nguồn: manhhai flickr 
Trường Y khoa Đông Dương (nay là Đại học Y Hà Nội) do Pháp thành lập năm 1902. Hiệu trưởng đầu tiên của trường là Bác sĩ Alexandre Yersin. 
Bác sĩ Alexandre Yersin (1863-1943) còn là nhà vi khuẩn học, và nhà thám hiểm người Pháp gốc Thụy Sĩ. Ông là người khám phá Cao nguyên Lâm Viên và vạch ra một con đường bộ từ Trung Kỳ sang Cao Miên, Yersin đã tìm ra trực khuẩn gây bệnh dịch hạch, sau này được đặt theo tên ông: Yersinia pestis.
Giờ học lâm sàng của Trường Y khoa Đông Dương những năm 1921-1935. Nguồn: manhhai flickr
Trường Y khoa Đông Dương (nay là Đại học Y Hà Nội) do Pháp thành lập năm 1902. Hiệu trưởng đầu tiên của trường là Bác sĩ Alexandre Yersin.
Bác sĩ Alexandre Yersin (1863-1943) còn là nhà vi khuẩn học, và nhà thám hiểm người Pháp gốc Thụy Sĩ. Ông là người khám phá Cao nguyên Lâm Viên và vạch ra một con đường bộ từ Trung Kỳ sang Cao Miên, Yersin đã tìm ra trực khuẩn gây bệnh dịch hạch, sau này được đặt theo tên ông: Yersinia pestis.
Trường THCS Trưng Vương, Hà Nội.

Được Pháp thành lập năm 1917 ngay bên cạnh Hồ Gươm, trước năm 1945 trường là cơ sở đào tạo dành riêng cho nữ giới.
Lúc đầu có tên là trường nữ sinh Đồng Khánh, học ở Hàng Vôi sau chuyển ra Lò Đúc. Năm 1925, trường đổi thành Nữ Trung học Hà Nội (Collège des Jeunes Filles) ở phố Félix Faure (nay là Bộ Tư pháp ở phố Trần Phú). Địa điểm này Pháp lấy làm Trường Nữ Trung học Pháp, đổi lại cho xây Trường Nữ Trung học Việt Nam ở phố Hàng Bài. Nay là trường THCS Trưng Vương.
Trường THCS Trưng Vương, Hà Nội.

Được Pháp thành lập năm 1917 ngay bên cạnh Hồ Gươm, trước năm 1945 trường là cơ sở đào tạo dành riêng cho nữ giới.
Lúc đầu có tên là trường nữ sinh Đồng Khánh, học ở Hàng Vôi sau chuyển ra Lò Đúc. Năm 1925, trường đổi thành Nữ Trung học Hà Nội (Collège des Jeunes Filles) ở phố Félix Faure (nay là Bộ Tư pháp ở phố Trần Phú). Địa điểm này Pháp lấy làm Trường Nữ Trung học Pháp, đổi lại cho xây Trường Nữ Trung học Việt Nam ở phố Hàng Bài. Nay là trường THCS Trưng Vương.

Xem Thêm