Giao tranh Việt-Pháp 1945-1954

Description : Les soldats du 1er RTA (Régiment de Tirailleurs Algériens) progressent en direction du rocher de Ninh-Binh.
Date : Mai 1951
Lieu : Indochine / Tonkin / Ninh-Binh
Photographe : Defives Guy / Liron Georges
Origine : SCA - ECPAD
Référence : TONK-51-72-R18
Description : Les soldats du 1er RTA (Régiment de Tirailleurs Algériens) progressent en direction du rocher de Ninh-Binh.
Date : Mai 1951
Lieu : Indochine / Tonkin / Ninh-Binh
Photographe : Defives Guy / Liron Georges
Origine : SCA - ECPAD
Référence : TONK-51-72-R18
Description : Lors de la contre-attaque du rocher de Ninh-Binh, un sous-lieutenant du 1er RTA (Régiment de Tirailleurs Algériens) suivi de sa section progresse prudemment sur le site repris aux troupes Viêt-Minhs, ils vont découvrir le corps du lieutenant Bernard de Lattre de Tassigny, fils du général.
Date : Mai 1951
Lieu : Indochine / Tonkin / Ninh-Binh
Photographe : Defives Guy / Liron Georges
Origine : SCA - ECPAD
Référence : TONK-51-72-R26
Description : Lors de la contre-attaque du rocher de Ninh-Binh, un sous-lieutenant du 1er RTA (Régiment de Tirailleurs Algériens) suivi de sa section progresse prudemment sur le site repris aux troupes Viêt-Minhs, ils vont découvrir le corps du lieutenant Bernard de Lattre de Tassigny, fils du général.
Date : Mai 1951
Lieu : Indochine / Tonkin / Ninh-Binh
Photographe : Defives Guy / Liron Georges
Origine : SCA - ECPAD
Référence : TONK-51-72-R26
Description : Les derniers défenseurs Viêt-Minhs du rocher de Ninh-Binh sont arrêtés par les tirailleurs du 1er RTA (Régiment de Tirailleurs Algériens).
Date : Mai 1951
Lieu : Indochine / Tonkin / Ninh-Binh
Photographe : Defives Guy / Liron Georges
Origine : SCA - ECPAD
Référence : TONK-51-72-R94
Description : Les derniers défenseurs Viêt-Minhs du rocher de Ninh-Binh sont arrêtés par les tirailleurs du 1er RTA (Régiment de Tirailleurs Algériens).
Date : Mai 1951
Lieu : Indochine / Tonkin / Ninh-Binh
Photographe : Defives Guy / Liron Georges
Origine : SCA - ECPAD
Référence : TONK-51-72-R94
Lính dù Pháp trong giây phút giải lao tại chiến trường.
Lính dù Pháp trong giây phút giải lao tại chiến trường.
Life for the French troops in Dien Bien Phu became a nerve-wracking series of alerts and a physically tiring round rebuilding defenses damaged by artillery fire.

Cuộc sống của những người lính Pháp ở Điện Biên Phủ trở nên căng thẳng do các chuỗi báo động và mệt mỏi do phải sửa chữa hệ thống phòng thủ bị hư hại bởi pháo binh. (Duc Tu chuyển ngữ)

Cuộc sống của lính Pháp ở Điện Biên Phủ là một chuỗi ngày hoảng hồn với những báo động và mệt mỏi xây dựng lại những công sự bị pháo phá hỏng. (Tho Do Duy chuyển ngữ)
Life for the French troops in Dien Bien Phu became a nerve-wracking series of alerts and a physically tiring round rebuilding defenses damaged by artillery fire.

Cuộc sống của những người lính Pháp ở Điện Biên Phủ trở nên căng thẳng do các chuỗi báo động và mệt mỏi do phải sửa chữa hệ thống phòng thủ bị hư hại bởi pháo binh. (Duc Tu chuyển ngữ)

Cuộc sống của lính Pháp ở Điện Biên Phủ là một chuỗi ngày hoảng hồn với những báo động và mệt mỏi xây dựng lại những công sự bị pháo phá hỏng. (Tho Do Duy chuyển ngữ)
Postwar Indochina the land to which French administration returned in 1945. The re-assertion of control by the French was strongly resisted by nationalists in all areas, but especially in the three areas of Vietnam – Cochin China in the south, Annam in the centre and Tonkin in the north. In Cochin China and Annam, communist guerrillas waged a low-level campaign, but in Tonkin the insurgents established strong bases in the mountains of the Viet Bac, and fought a more intensive campaign.

Vùng Đông Dương sau chiến tranh - nơi Pháp tái kiểm soát vào năm 1945. Sự trở lại của Pháp bị phản ứng mạnh mẽ bởi các nhà dân tộc trong khắp khu vực, nhưng đặc biệt là ở 3 vùng của Việt Nam - Nam kì, Trung kì và Bắc kì. Ở miền Nam và miền Trung, các kích mở các chiến dịch quy mô nhỏ, nhưng ở miền Bắc, những người nổi dậy xây dựng một căn cứ địa vững chắc ở vùng rừng núi Việt Bắc, và có các chiến dịch quy mô hơn hẳn. (Duc Tu chuyển ngữ)

Đông Dương sau chiến tranh (Thế giới thứ II), nơi người Pháp quay lại vào năm 1945. Điều này làm những người yêu nước phản đối gay gắt, nhất là ở các vùng Nam Kỳ, Trung Kỳ và Bắc Kỳ của Việt Nam. Ở Trung và Nam Kỳ, quân du kích cộng sản thường tổ chức những trận đánh nhỏ trong khi ở Bắc Kỳ, dựa vào rừng núi hiểm trở ở Việt Bắc, họ xây dựng căn cứ địa rộng lớn và mở những chiến dịch quy mô.(Tho Do Duy chuyển ngữ)
Postwar Indochina the land to which French administration returned in 1945. The re-assertion of control by the French was strongly resisted by nationalists in all areas, but especially in the three areas of Vietnam – Cochin China in the south, Annam in the centre and Tonkin in the north. In Cochin China and Annam, communist guerrillas waged a low-level campaign, but in Tonkin the insurgents established strong bases in the mountains of the Viet Bac, and fought a more intensive campaign.

Vùng Đông Dương sau chiến tranh - nơi Pháp tái kiểm soát vào năm 1945. Sự trở lại của Pháp bị phản ứng mạnh mẽ bởi các nhà dân tộc trong khắp khu vực, nhưng đặc biệt là ở 3 vùng của Việt Nam - Nam kì, Trung kì và Bắc kì. Ở miền Nam và miền Trung, các kích mở các chiến dịch quy mô nhỏ, nhưng ở miền Bắc, những người nổi dậy xây dựng một căn cứ địa vững chắc ở vùng rừng núi Việt Bắc, và có các chiến dịch quy mô hơn hẳn. (Duc Tu chuyển ngữ)

Đông Dương sau chiến tranh (Thế giới thứ II), nơi người Pháp quay lại vào năm 1945. Điều này làm những người yêu nước phản đối gay gắt, nhất là ở các vùng Nam Kỳ, Trung Kỳ và Bắc Kỳ của Việt Nam. Ở Trung và Nam Kỳ, quân du kích cộng sản thường tổ chức những trận đánh nhỏ trong khi ở Bắc Kỳ, dựa vào rừng núi hiểm trở ở Việt Bắc, họ xây dựng căn cứ địa rộng lớn và mở những chiến dịch quy mô.(Tho Do Duy chuyển ngữ)
Revolutionary warfare was the method chosen by the Viet Minh as the best route to their goal of an independent communist Vietnam. Based upon the theories and practice of Mao Tse-tung, revolutionary  warfare was, in essence, a means of converting ones weaknesses into strength. Small forces could secure a strong base in a remote area; could then gradually extend their control over the population and attack enemy weak spots; finally, sufficient forces could be gathered to meet the enemy in open battle.

Việt Minh chọn khởi nghĩa vũ trang là con đường tốt nhất để đạt được mục tiêu một nước việt nam cộng sản độc lập. Dựa trên lí thuyết và thực hành của Mao Trạch Đông, khởi nghĩa vũ trang, nói ngắn gọn, là phương pháp biến điểm yếu thành điểm mạnh. Lực lượng nhỏ có thể bảo vệ căn cứ to lớn trong khu vực hẻo lánh, có thể dần dần mở rộng ảnh hưởng sang dân chúng và tấn công các yếu điểm của kẻ thù, cuối cùng, khi lực lượng đầy đủ sẽ được tập trung để chiến đấu sòng phẳng với quân địch. (translated by Duc Tu)
Revolutionary warfare was the method chosen by the Viet Minh as the best route to their goal of an independent communist Vietnam. Based upon the theories and practice of Mao Tse-tung, revolutionary warfare was, in essence, a means of converting ones weaknesses into strength. Small forces could secure a strong base in a remote area; could then gradually extend their control over the population and attack enemy weak spots; finally, sufficient forces could be gathered to meet the enemy in open battle.

Việt Minh chọn khởi nghĩa vũ trang là con đường tốt nhất để đạt được mục tiêu một nước việt nam cộng sản độc lập. Dựa trên lí thuyết và thực hành của Mao Trạch Đông, khởi nghĩa vũ trang, nói ngắn gọn, là phương pháp biến điểm yếu thành điểm mạnh. Lực lượng nhỏ có thể bảo vệ căn cứ to lớn trong khu vực hẻo lánh, có thể dần dần mở rộng ảnh hưởng sang dân chúng và tấn công các yếu điểm của kẻ thù, cuối cùng, khi lực lượng đầy đủ sẽ được tập trung để chiến đấu sòng phẳng với quân địch. (translated by Duc Tu)
The actual military tactics of the Viet Minh were like those of all guerrilla armies. The ambush was a classic manoeuvre. A French convoy (A) would be stopped and forced to seek cover by a combination of mines (B) and small arms fire (C). The mortars and light artillery (D) could be bought to hear on static targets until the coup de grâce was administered by waves of infantry.

Thực ra chiến thuật của Việt Minh giống chiến thuật của quân du kích. Mai phục là một dạng tập trận cổ điển. Đoàn xe của Pháp (A) sẽ bị dừng lại và buộc phải tìm nơi trú ẩn do trận địa mìn (B) và hỏa lực nhỏ (C). Súng phóng lựu và pháo hạng nhẹ (D) sẽ tấn công mục tiêu cho đến khi "coup de grâce" được kiểm soát bởi bộ binh. (Duc Tu dịch)
The actual military tactics of the Viet Minh were like those of all guerrilla armies. The ambush was a classic manoeuvre. A French convoy (A) would be stopped and forced to seek cover by a combination of mines (B) and small arms fire (C). The mortars and light artillery (D) could be bought to hear on static targets until the coup de grâce was administered by waves of infantry.

Thực ra chiến thuật của Việt Minh giống chiến thuật của quân du kích. Mai phục là một dạng tập trận cổ điển. Đoàn xe của Pháp (A) sẽ bị dừng lại và buộc phải tìm nơi trú ẩn do trận địa mìn (B) và hỏa lực nhỏ (C). Súng phóng lựu và pháo hạng nhẹ (D) sẽ tấn công mục tiêu cho đến khi "coup de grâce" được kiểm soát bởi bộ binh. (Duc Tu dịch)
The defeat of the French along the Cao Bang-Lang Son ridge in 1950 was the most obvious sign that they could not come to grips with the strategy of the Viet Minh. After mounting pressure, Dong Khe fell to the communists, and all attempts to retrieve the situation met with failure.

Sự thất bại của quân Pháp ở Cao Bằng- Lạng Sơn năm 1950 là bằng chứng rõ ràng nhất cho thấy Pháp không thể đối phó với chiến thuật của Việt Minh. Sau áp lực tăng cao, Đông Khê rơi vào tay những người cộng sản, và mọi nỗ lực để cứu vãn tình thế đều thất bại. (translated by Duc Tu)

Thiệt hại phía Pháp: 
6000 lính; 13 pháo; 125 cối; 450 xe tải; 940 súng máy; 1200 tiểu liên; 8000 súng trường. (translated by Tho Do Duy)
The defeat of the French along the Cao Bang-Lang Son ridge in 1950 was the most obvious sign that they could not come to grips with the strategy of the Viet Minh. After mounting pressure, Dong Khe fell to the communists, and all attempts to retrieve the situation met with failure.

Sự thất bại của quân Pháp ở Cao Bằng- Lạng Sơn năm 1950 là bằng chứng rõ ràng nhất cho thấy Pháp không thể đối phó với chiến thuật của Việt Minh. Sau áp lực tăng cao, Đông Khê rơi vào tay những người cộng sản, và mọi nỗ lực để cứu vãn tình thế đều thất bại. (translated by Duc Tu)

Thiệt hại phía Pháp:
6000 lính; 13 pháo; 125 cối; 450 xe tải; 940 súng máy; 1200 tiểu liên; 8000 súng trường. (translated by Tho Do Duy)
The most effective weapons in guerrilla warfare were those that gave small groups of infantry maximum fire power: light machine guns, sub-machine guns and rifle-launched grenades or light mortars.

Trong chiến tranh du kích những vũ khí hiệu quả nhất là những thứ tạo ra cho các nhóm nhỏ bộ binh hỏa lực tối đa: súng máy hạng nhẹ, súng máy xách tay, súng phóng lựu hoặc cối hạng nhẹ. (translated by Tron Xoay)
The most effective weapons in guerrilla warfare were those that gave small groups of infantry maximum fire power: light machine guns, sub-machine guns and rifle-launched grenades or light mortars.

Trong chiến tranh du kích những vũ khí hiệu quả nhất là những thứ tạo ra cho các nhóm nhỏ bộ binh hỏa lực tối đa: súng máy hạng nhẹ, súng máy xách tay, súng phóng lựu hoặc cối hạng nhẹ. (translated by Tron Xoay)
The events of 1950 certainly did much to boost Viet Minh morale and to weaken that of the French; but they also had l very clear strategic importance. The easiest way to supply the Vietnamese insurgents from communist China was through Cao Bang and Lang Son from the railhead at Nanning; and henceforth Viet Minh stockpiles of armaments would continue to grow.

Sự kiện năm 1950 rõ ràng đã tăng khí thế cho Việt Minh và làm quân Pháp mất tinh thần; thế nhưng chúng cũng rất quan trọng về chiến lược. Con dường dễ dàng nhất để cộng sản Trung Quốc viện trợ cho quân nổi dậy Việt Nam là qua Cao Bằng và Lạng Sơn từ Nam Ninh; và từ đó dự trữ vũ khí của quân Việt Minh càng ngày càng tăng. (translated by Duc Tu)

mũi tên cam : Côn Minh - Hokow xe lửa
Howkow - Bắc Cạn xe tải
mũi tên đỏ : Nam Ninh - Lạng Sơn - Cao Bằng - Bắc Cạn xe tải
Nam Ninh - Cao Bằng - Bắc Cạn xe tải
mũi tên xanh: Di tản khỏi Bắc Cạn bằng xe tải, xe đạp và xe thồ
mũi tên vàng: Xâm nhập bằng xuồng
(by Duc Tu)

Các sự kiện năm 1950 dĩ nhiên đã nâng cao tinh thần Việt Minh và suy yếu tinh thần lính Pháp; nhưng chúng cũng có ý nghĩa chiến lược quan trọng. Con đường dễ dành nhất để cung cấp hậu cần cho Việt Minh từ Trung Hoa cộng sản thông qua Cao Bằng và Lạng Sơn với đầu đường ray xe lửa ở Nam Ninh (Quảng Tây); và kể từ đó kho đạn dược của Viêt Minh càng ngày càng nhiều lên. (translated by Trung Nguyen)
The events of 1950 certainly did much to boost Viet Minh morale and to weaken that of the French; but they also had l very clear strategic importance. The easiest way to supply the Vietnamese insurgents from communist China was through Cao Bang and Lang Son from the railhead at Nanning; and henceforth Viet Minh stockpiles of armaments would continue to grow.

Sự kiện năm 1950 rõ ràng đã tăng khí thế cho Việt Minh và làm quân Pháp mất tinh thần; thế nhưng chúng cũng rất quan trọng về chiến lược. Con dường dễ dàng nhất để cộng sản Trung Quốc viện trợ cho quân nổi dậy Việt Nam là qua Cao Bằng và Lạng Sơn từ Nam Ninh; và từ đó dự trữ vũ khí của quân Việt Minh càng ngày càng tăng. (translated by Duc Tu)

mũi tên cam : Côn Minh - Hokow xe lửa
Howkow - Bắc Cạn xe tải
mũi tên đỏ : Nam Ninh - Lạng Sơn - Cao Bằng - Bắc Cạn xe tải
Nam Ninh - Cao Bằng - Bắc Cạn xe tải
mũi tên xanh: Di tản khỏi Bắc Cạn bằng xe tải, xe đạp và xe thồ
mũi tên vàng: Xâm nhập bằng xuồng
(by Duc Tu)

Các sự kiện năm 1950 dĩ nhiên đã nâng cao tinh thần Việt Minh và suy yếu tinh thần lính Pháp; nhưng chúng cũng có ý nghĩa chiến lược quan trọng. Con đường dễ dành nhất để cung cấp hậu cần cho Việt Minh từ Trung Hoa cộng sản thông qua Cao Bằng và Lạng Sơn với đầu đường ray xe lửa ở Nam Ninh (Quảng Tây); và kể từ đó kho đạn dược của Viêt Minh càng ngày càng nhiều lên. (translated by Trung Nguyen)
In 1951 Giap made a major miscalculation, an moved over to his third stage of warfare (conventional) too soon. The attacks on the Red River Delta showed that the French still had an advantage in open battle.

Chú thích: Năm 1951, tướng Giáp đã tính toán sai lầm khi chuyển sang giai đoạn ba của chiến thuật (chiến tranh qui ước) quá sớm. Các cuộc tấn công ở Đồng bằng Sông Hồng cho thấy quân Pháp vẫn còn lợi thế trong các trận chiến trực diện. (translated by Trung Nguyen)

 Năm 1951, tướng Giáp đã có một tính toán sai sót, đó là chuyển sang bước thứ 3 của chiến tranh (cổ điển) hơi sớm. Cuộc tấn công ở đồng bằng sông Hồng cho thấy Pháp vẫn có lợi thế trong chiến tranh trực diện. (translated by Duc Tu)

HỒNG : khu vực Việt minh kiểm soát
XANH : khu vực Pháp kiểm soát
|_|_| : thành lũy De Lattre
ĐỎ : Việt Minh tấn công
(by Duc Tu)
In 1951 Giap made a major miscalculation, an moved over to his third stage of warfare (conventional) too soon. The attacks on the Red River Delta showed that the French still had an advantage in open battle.

Chú thích: Năm 1951, tướng Giáp đã tính toán sai lầm khi chuyển sang giai đoạn ba của chiến thuật (chiến tranh qui ước) quá sớm. Các cuộc tấn công ở Đồng bằng Sông Hồng cho thấy quân Pháp vẫn còn lợi thế trong các trận chiến trực diện. (translated by Trung Nguyen)

Năm 1951, tướng Giáp đã có một tính toán sai sót, đó là chuyển sang bước thứ 3 của chiến tranh (cổ điển) hơi sớm. Cuộc tấn công ở đồng bằng sông Hồng cho thấy Pháp vẫn có lợi thế trong chiến tranh trực diện. (translated by Duc Tu)

HỒNG : khu vực Việt minh kiểm soát
XANH : khu vực Pháp kiểm soát
|_|_| : thành lũy De Lattre
ĐỎ : Việt Minh tấn công
(by Duc Tu)
If the Red River Delta in 1951 had shown that Giap was capable of making mistakes, so Operation Lorraine in 1952 showed that the French commanders still found offensive action outside safe areas an almost impossible proposition.

 Nếu trận đồng bằng sông Hồng năm 1951 cho thấy tướng Giáp vẫn có thể sai sót, thì chiến dịch Lorraine năm 1952 cho thấy các tướng lĩnh của Pháp vẫn nghĩ rằng bị tấn công bên ngoài khu vực an toàn là ý nghĩ gần như không tưởng. (By Duc Tu)

 Nếu như các cuộc tấn công ở Đồng Bằng Sông Hồng vào năm 1951 cho thấy tướng Giáp có khả năng mắc sai lầm, thì Chiến dịch Lorraine năm 1952 lại cho thấy các tư lệnh quân Pháp vẫn cho rằng hành động tấn công ngoài khu vực an toàn họ đã chiếm giữ là một giả thuyết hầu như bất khả. (by Trung Nguyen)
If the Red River Delta in 1951 had shown that Giap was capable of making mistakes, so Operation Lorraine in 1952 showed that the French commanders still found offensive action outside safe areas an almost impossible proposition.

Nếu trận đồng bằng sông Hồng năm 1951 cho thấy tướng Giáp vẫn có thể sai sót, thì chiến dịch Lorraine năm 1952 cho thấy các tướng lĩnh của Pháp vẫn nghĩ rằng bị tấn công bên ngoài khu vực an toàn là ý nghĩ gần như không tưởng. (By Duc Tu)

Nếu như các cuộc tấn công ở Đồng Bằng Sông Hồng vào năm 1951 cho thấy tướng Giáp có khả năng mắc sai lầm, thì Chiến dịch Lorraine năm 1952 lại cho thấy các tư lệnh quân Pháp vẫn cho rằng hành động tấn công ngoài khu vực an toàn họ đã chiếm giữ là một giả thuyết hầu như bất khả. (by Trung Nguyen)
The French position at Dine Bien Phu was a series of strongpoints (all given girls’ names and supposedly named after the mistresses of one of the French commander) protecting an airstrip, while to the south of the main position was a further strongpoint (‘Isabelle’) and an airstrip. The French command had, however, underestimated the weight of artillery which the communists had available; and this artillery that Giap deployed, dug into hillsides and practically immune to air attack, was the key factor. The rapid fall of three strongpoints (‘Anne-Marie’, ‘Cabrielle’ and ‘Beatrice’) practically doomed the whole garrison, but resistance was fierce as the Viet Minh pounded the defences until surrender was inevitable.

Chú thích (caption): Vị trí của quân Pháp ở Điện Biên Phủ là một loạt các cứ điểm (tất cả đều đặt theo tên phụ nữ và có lẽ là đặt theo tên các nhân tình của một trong các tư lệnh Pháp ở đây) bảo vệ đường băng máy bay, trong khi xa về phía Nam của vị trí chính cũng có một cứ điểm (Isabelle) và một đường băng. Tuy nhiên, chỉ huy Pháp đã đánh giá thấp sức mạnh của pháo mà cộng sản (Việt Minh) có; và chính pháo cối mà tướng Giáp triển khai đào sâu vào các đồi để tránh bị dội bom là nhân tố chính. Việc ba cứ điểm (Anne-Marie, Cabrielle, và Beatrice) sụp đổ nhanh chóng đã hầu như kết thúc trận chiến, nhưng quân Pháp vẫn kháng cự mãnh liệt cho trước sự dội pháo của Việt Minh cho đến khi không tránh khỏi phải đầu hàng.
(by Trung Nguyen)
The French position at Dine Bien Phu was a series of strongpoints (all given girls’ names and supposedly named after the mistresses of one of the French commander) protecting an airstrip, while to the south of the main position was a further strongpoint (‘Isabelle’) and an airstrip. The French command had, however, underestimated the weight of artillery which the communists had available; and this artillery that Giap deployed, dug into hillsides and practically immune to air attack, was the key factor. The rapid fall of three strongpoints (‘Anne-Marie’, ‘Cabrielle’ and ‘Beatrice’) practically doomed the whole garrison, but resistance was fierce as the Viet Minh pounded the defences until surrender was inevitable.

Chú thích (caption): Vị trí của quân Pháp ở Điện Biên Phủ là một loạt các cứ điểm (tất cả đều đặt theo tên phụ nữ và có lẽ là đặt theo tên các nhân tình của một trong các tư lệnh Pháp ở đây) bảo vệ đường băng máy bay, trong khi xa về phía Nam của vị trí chính cũng có một cứ điểm (Isabelle) và một đường băng. Tuy nhiên, chỉ huy Pháp đã đánh giá thấp sức mạnh của pháo mà cộng sản (Việt Minh) có; và chính pháo cối mà tướng Giáp triển khai đào sâu vào các đồi để tránh bị dội bom là nhân tố chính. Việc ba cứ điểm (Anne-Marie, Cabrielle, và Beatrice) sụp đổ nhanh chóng đã hầu như kết thúc trận chiến, nhưng quân Pháp vẫn kháng cự mãnh liệt cho trước sự dội pháo của Việt Minh cho đến khi không tránh khỏi phải đầu hàng.
(by Trung Nguyen)
Núi Dục Thúy , trên đỉnh có chùa Non Nước, cạnh sông Vân, Ninh Bình, gần nơi Bernard de Lattre de Tassigni tử trận 30/5/1951, quân Pháp đã cố gắng phản kích để lấy xác tránh đối phương dùng làm phương tiện tuyên truyền và tìm thấy xác Bernard với gần 100 vết thương trong một hang đá.
Núi Dục Thúy , trên đỉnh có chùa Non Nước, cạnh sông Vân, Ninh Bình, gần nơi Bernard de Lattre de Tassigni tử trận 30/5/1951, quân Pháp đã cố gắng phản kích để lấy xác tránh đối phương dùng làm phương tiện tuyên truyền và tìm thấy xác Bernard với gần 100 vết thương trong một hang đá.
Bernard De Lattre de Tassigni
Bernard De Lattre de Tassigni
Vị trí đồn Pháp dọc đường 5
Vị trí đồn Pháp dọc đường 5
đồn Pháp
đồn Pháp
Đường 5 (không rõ đoạn nào? Đường sắt đắp tương đối cao)
Đường 5 (không rõ đoạn nào? Đường sắt đắp tương đối cao)
Tiêu đề: Lần đầu tiên trong cuộc chiến Đông Dương, một cảnh binh Pháp vai kề vai một chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam trong thời gian diễn ra cuộc đàm phán Trung Giã (Bắc Kỳ)
Số tham chiếu: NVN 54-87 R34
Ngày 4/7/1954
Địa điểm: Đông Dương
Nhiếp ảnh gia: Phéc-năng Giăng-tin
Tiêu đề: Lần đầu tiên trong cuộc chiến Đông Dương, một cảnh binh Pháp vai kề vai một chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam trong thời gian diễn ra cuộc đàm phán Trung Giã (Bắc Kỳ)
Số tham chiếu: NVN 54-87 R34
Ngày 4/7/1954
Địa điểm: Đông Dương
Nhiếp ảnh gia: Phéc-năng Giăng-tin
Tiêu đề: Người ghi hình của hãng SPI (Dịch vụ thông tin báo chí) Lu-xi-ang Mi-lê, máy quay vác vai, và đạo diễn Xô-viết Rô-man Các-men trong thời gian diễn ra đàm phán Trung Giã (Bắc Kỳ)
Mã tham chiếu: NVN 54-87 R48
Ngày 4/7/1954
Địa điểm: Đông Dương
Nhiếp ảnh gia: Phéc-năng Giăng-tin
Tiêu đề: Người ghi hình của hãng SPI (Dịch vụ thông tin báo chí) Lu-xi-ang Mi-lê, máy quay vác vai, và đạo diễn Xô-viết Rô-man Các-men trong thời gian diễn ra đàm phán Trung Giã (Bắc Kỳ)
Mã tham chiếu: NVN 54-87 R48
Ngày 4/7/1954
Địa điểm: Đông Dương
Nhiếp ảnh gia: Phéc-năng Giăng-tin
Tiêu đề: Qua hội đàm giữa phái đoàn quân sự Pháp và phái đoàn QĐNDVN, phiên đàm phán Trung Giã (Bắc Kỳ) xoay quanh phương thức thực thi Hiệp định Giơ-ne-vơ và chủ yếu là về việc trao trả tù binh.
Mã tham chiếu: NVN 54-87 R55
Ngày 4/7/1954
Địa điểm: Đông Dương
Nhiếp ảnh gia: Phéc-năng Giăng-tin
Tiêu đề: Qua hội đàm giữa phái đoàn quân sự Pháp và phái đoàn QĐNDVN, phiên đàm phán Trung Giã (Bắc Kỳ) xoay quanh phương thức thực thi Hiệp định Giơ-ne-vơ và chủ yếu là về việc trao trả tù binh.
Mã tham chiếu: NVN 54-87 R55
Ngày 4/7/1954
Địa điểm: Đông Dương
Nhiếp ảnh gia: Phéc-năng Giăng-tin
Tiêu đề: Trong phiên đàm phán Trung Giã giữa phái đoàn quân sự Pháp và phái đoàn QĐNDVN, đại tá Lăng-nuy-ơ trưởng phái đoàn Pháp đang trình bày quan điểm.
Mã tham chiếu: NVN 54-87 R56
Ngày 4/7/1954
Địa điểm: Đông Dương
Nhiếp ảnh gia: Phéc-năng Giăng-tin
Tiêu đề: Trong phiên đàm phán Trung Giã giữa phái đoàn quân sự Pháp và phái đoàn QĐNDVN, đại tá Lăng-nuy-ơ trưởng phái đoàn Pháp đang trình bày quan điểm.
Mã tham chiếu: NVN 54-87 R56
Ngày 4/7/1954
Địa điểm: Đông Dương
Nhiếp ảnh gia: Phéc-năng Giăng-tin
Tiêu đề: Tướng Văn Tiến Dũng, trưởng phái đoàn QĐNDVN tham dự phiên đàm phán Trung Giã (Bắc Kỳ)
Mã tham chiếu: NVN 54-87 R25
Ngày 4/7/1954
Địa điểm: Đông Dương
Nhiếp ảnh gia: Phéc-năng Giăng-tin
Tiêu đề: Tướng Văn Tiến Dũng, trưởng phái đoàn QĐNDVN tham dự phiên đàm phán Trung Giã (Bắc Kỳ)
Mã tham chiếu: NVN 54-87 R25
Ngày 4/7/1954
Địa điểm: Đông Dương
Nhiếp ảnh gia: Phéc-năng Giăng-tin
Tiêu đề: Bên lề phiên đàm phán Trung Giã (Bắc Kỳ), thông tín viên Mắc Cờ-lô của nhật báo "Thế giới" thường trú tại Đông Dương trao đổi với các phóng viên đưa tin cho phái đoàn QĐNDVN.
Mã tham chiếu: NVN 54-87 R32
Ngày 4/7/1954
Địa điểm: Đông Dương
Nhiếp ảnh gia: Phéc-năng Giăng-tin
Tiêu đề: Bên lề phiên đàm phán Trung Giã (Bắc Kỳ), thông tín viên Mắc Cờ-lô của nhật báo "Thế giới" thường trú tại Đông Dương trao đổi với các phóng viên đưa tin cho phái đoàn QĐNDVN.
Mã tham chiếu: NVN 54-87 R32
Ngày 4/7/1954
Địa điểm: Đông Dương
Nhiếp ảnh gia: Phéc-năng Giăng-tin
Tiêu đề: Từ trái qua phải, đạo diễn Xô-viết Rô-man Các-men, thông tín viên Hen-ri Li-bờ-man của nhật báo "Thời báo Nữu Ước" Mỹ và nhà nhiếp ảnh M. Xô-chiu-rếch của tạp chí "Đời sống đương đại" Mỹ tham gia đưa tin tại phiên đàm phán Trung Giã (Bắc Kỳ).
Mã tham chiếu: NVN 54-87 R42
Ngày 4/7/1954
Địa điểm: Đông Dương
Nhiếp ảnh gia: Phéc-năng Giăng-tin
Tiêu đề: Từ trái qua phải, đạo diễn Xô-viết Rô-man Các-men, thông tín viên Hen-ri Li-bờ-man của nhật báo "Thời báo Nữu Ước" Mỹ và nhà nhiếp ảnh M. Xô-chiu-rếch của tạp chí "Đời sống đương đại" Mỹ tham gia đưa tin tại phiên đàm phán Trung Giã (Bắc Kỳ).
Mã tham chiếu: NVN 54-87 R42
Ngày 4/7/1954
Địa điểm: Đông Dương
Nhiếp ảnh gia: Phéc-năng Giăng-tin
Tiêu đề: Phái đoàn quân sự Pháp ngồi hàng ghế đầu và phái đoàn quân sự QĐNDVN ngồi hàng ghế thứ hai đang tiến hành hội đàm tại Trung Giã (Bắc Kỳ).
Mã tham chiếu: NVN 54-88 R20
Ngày 6/7/1954
Địa điểm: Đông Dương
Nhiếp ảnh gia: Rên-nê A-đờ-ri-ăng
Tiêu đề: Phái đoàn quân sự Pháp ngồi hàng ghế đầu và phái đoàn quân sự QĐNDVN ngồi hàng ghế thứ hai đang tiến hành hội đàm tại Trung Giã (Bắc Kỳ).
Mã tham chiếu: NVN 54-88 R20
Ngày 6/7/1954
Địa điểm: Đông Dương
Nhiếp ảnh gia: Rên-nê A-đờ-ri-ăng
Tiêu đề: Lính dù Tiểu đoàn 3 dù Việt Nam buộc phải mở cuộc phản công nhằm đẩy bật lực lượng Việt Minh của Đại đoàn 304 đã lọt vào đồn binh Banh-Hine-Siu.
Phông tham chiếu: LAOS 54-7 R178
Thời điểm: 9/1/1954
Địa điểm: Đông Dương
Nhiếp ảnh gia: Pi-e Phe-ra-ri
Tiêu đề: Lính dù Tiểu đoàn 3 dù Việt Nam buộc phải mở cuộc phản công nhằm đẩy bật lực lượng Việt Minh của Đại đoàn 304 đã lọt vào đồn binh Banh-Hine-Siu.
Phông tham chiếu: LAOS 54-7 R178
Thời điểm: 9/1/1954
Địa điểm: Đông Dương
Nhiếp ảnh gia: Pi-e Phe-ra-ri
Tiêu đề: Nấp trong chiến hào, lính dù Tiểu đoàn 3 dù Việt Nam với trang bị gồm súng cạc-bin M1 của Mỹ, tiểu liên MAT 49 và một khẩu cối hạng nhẹ đang đương đầu với Đại đoàn 304 vây quanh đồn binh Banh-Hine-Siu.
Phông tham chiếu: LAOS 54-7 R209
Thời điểm: 9/1/1954
Địa điểm: Đông Dương
Nhiếp ảnh gia: Pi-e Phe-ra-ri
Tiêu đề: Nấp trong chiến hào, lính dù Tiểu đoàn 3 dù Việt Nam với trang bị gồm súng cạc-bin M1 của Mỹ, tiểu liên MAT 49 và một khẩu cối hạng nhẹ đang đương đầu với Đại đoàn 304 vây quanh đồn binh Banh-Hine-Siu.
Phông tham chiếu: LAOS 54-7 R209
Thời điểm: 9/1/1954
Địa điểm: Đông Dương
Nhiếp ảnh gia: Pi-e Phe-ra-ri
Tiêu đề: Lính dù Tiểu đoàn 3 dù Việt Nam bị thương khi phòng thủ đồn binh Banh-Hine-Siu. Người lính bên phải đội mũ trận kiểu 51 của Pháp, trong khi đồng đội kế bên mang mũ quân dù Mỹ là thứ trang bị tương đối rộng rãi ở Đông Dương thời đó.
Phông tham chiếu: LAOS 54-7 R248
Thời điểm: 9/1/1954
Địa điểm: Đông Dương
Nhiếp ảnh gia: Pi-e Phe-ra-ri
Tiêu đề: Lính dù Tiểu đoàn 3 dù Việt Nam bị thương khi phòng thủ đồn binh Banh-Hine-Siu. Người lính bên phải đội mũ trận kiểu 51 của Pháp, trong khi đồng đội kế bên mang mũ quân dù Mỹ là thứ trang bị tương đối rộng rãi ở Đông Dương thời đó.
Phông tham chiếu: LAOS 54-7 R248
Thời điểm: 9/1/1954
Địa điểm: Đông Dương
Nhiếp ảnh gia: Pi-e Phe-ra-ri
Tiêu đề: Sĩ quan phụ trách nghi lễ khai giảng khóa Hoàng-Diệu của Trường võ bị Đà Lạt đang thực hiện nghi thức bắn tên nhằm bố cáo bốn phương rằng những sĩ quan trẻ sẽ sớm trưởng thành ở các đơn vị tiếp nhận.
Phông tham chiếu: ANN 52-103 R23
Thời điểm: 15-28/2/1952
Địa điểm: Đông Dương
Nhiếp ảnh gia: Khuyết danh
Tiêu đề: Sĩ quan phụ trách nghi lễ khai giảng khóa Hoàng-Diệu của Trường võ bị Đà Lạt đang thực hiện nghi thức bắn tên nhằm bố cáo bốn phương rằng những sĩ quan trẻ sẽ sớm trưởng thành ở các đơn vị tiếp nhận.
Phông tham chiếu: ANN 52-103 R23
Thời điểm: 15-28/2/1952
Địa điểm: Đông Dương
Nhiếp ảnh gia: Khuyết danh
Tiêu đề: Lính dù Tiểu đoàn 3 dù Việt Nam đang phòng thủ đồn binh Banh-Hine-Siu. Phía bên trái là xạ thủ khẩu trung liên Vĩnh Cát M cỡ nòng 7,5 ly.
Phông tham chiếu: LAOS 54-7 R212
Thời điểm: 9/1/1954
Địa điểm: Đông Dương
Nhiếp ảnh gia: Pi-e Phe-ra-ri
Tiêu đề: Lính dù Tiểu đoàn 3 dù Việt Nam đang phòng thủ đồn binh Banh-Hine-Siu. Phía bên trái là xạ thủ khẩu trung liên Vĩnh Cát M cỡ nòng 7,5 ly.
Phông tham chiếu: LAOS 54-7 R212
Thời điểm: 9/1/1954
Địa điểm: Đông Dương
Nhiếp ảnh gia: Pi-e Phe-ra-ri
Tiêu đề: Hoàng đế Trung Kỳ Bảo Đại đang duyệt đội cựu học viên Trường võ bị Việt Nam.
Phông tham chiếu: ANN 52-103 R40
Thời điểm: 15-28/2/1952
Địa điểm: Đông Dương
Nhiếp ảnh gia: Khuyết danh
Tiêu đề: Hoàng đế Trung Kỳ Bảo Đại đang duyệt đội cựu học viên Trường võ bị Việt Nam.
Phông tham chiếu: ANN 52-103 R40
Thời điểm: 15-28/2/1952
Địa điểm: Đông Dương
Nhiếp ảnh gia: Khuyết danh
Tiêu đề: Một thiếu sinh quân vừa được Cao ủy kiêm tổng tư lệnh quân Pháp tại Đông Dương tướng Đờ Lát-trờ đờ Tát-xi-nhi trao Bội tinh quân công chiến trường hải ngoại.
Phông tham chiếu: P 51-10 R10
Thời điểm: 11/5/1951
Địa điểm: Đông Dương
Nhiếp ảnh gia: Pôn Co-cắp
Tiêu đề: Một thiếu sinh quân vừa được Cao ủy kiêm tổng tư lệnh quân Pháp tại Đông Dương tướng Đờ Lát-trờ đờ Tát-xi-nhi trao Bội tinh quân công chiến trường hải ngoại.
Phông tham chiếu: P 51-10 R10
Thời điểm: 11/5/1951
Địa điểm: Đông Dương
Nhiếp ảnh gia: Pôn Co-cắp
Tiêu đề: Dưới làn mưa đạn của bộ đội Việt Minh, một toán lính dù Tiểu đoàn 5 dù Việt Nam đang cố tìm đường thoát thân khỏi đám cháy thiêu đốt cứ điểm 1145 nằm trên vành đai Pa-vi phía bắc Điện Biên Phủ. Viên chỉ huy có vẻ đang chỉ thị hướng cơ động cho đám thuộc cấp.
Phông tham chiếu: TONK 53-134 R06
Thời điểm: 11-15/12/1953
Địa điểm: Đông Dương
Nhiếp ảnh gia: Giăng Pê-rô
Tiêu đề: Dưới làn mưa đạn của bộ đội Việt Minh, một toán lính dù Tiểu đoàn 5 dù Việt Nam đang cố tìm đường thoát thân khỏi đám cháy thiêu đốt cứ điểm 1145 nằm trên vành đai Pa-vi phía bắc Điện Biên Phủ. Viên chỉ huy có vẻ đang chỉ thị hướng cơ động cho đám thuộc cấp.
Phông tham chiếu: TONK 53-134 R06
Thời điểm: 11-15/12/1953
Địa điểm: Đông Dương
Nhiếp ảnh gia: Giăng Pê-rô
Tiêu đề: Tại vành đai Pa-vi phía bắc Điện Biên Phủ, một toán lính dù Tiểu đoàn 5 dù Việt Nam đang vật lộn trong lửa đạn nhằm thoát thân khỏi đám cháy thiêu đốt cứ điểm 1145 hòng tái phản kích.
Phông tham chiếu: TONK 53-134 R17
Thời điểm: 11-15/12/1953
Địa điểm: Đông Dương
Nhiếp ảnh gia: Giăng Pê-rô
Tiêu đề: Tại vành đai Pa-vi phía bắc Điện Biên Phủ, một toán lính dù Tiểu đoàn 5 dù Việt Nam đang vật lộn trong lửa đạn nhằm thoát thân khỏi đám cháy thiêu đốt cứ điểm 1145 hòng tái phản kích.
Phông tham chiếu: TONK 53-134 R17
Thời điểm: 11-15/12/1953
Địa điểm: Đông Dương
Nhiếp ảnh gia: Giăng Pê-rô
Một người bị thương đang được sơ tán để chăm sóc y tế ( Nghĩa Lộ 10-1951)
Description : Le capitaine-médecin Chataigneau, du 2e BEP (Bataillon Etranger de Parachutistes), gravement blessé lors des combats de Nghia-Lo, est brancardé par des légionnaires (armés de fusils à crosses pliantes MAS 36 CR 39) vers le poste de Gia-Hoi pour son évacuation sanitaire.
Date : Octobre 1951
Lieu : Tonkin / Nghia Lo
Photographe : Inconnu
Origine : SCA - ECPAD
Référence : TONK-51-163-R17
Một người bị thương đang được sơ tán để chăm sóc y tế ( Nghĩa Lộ 10-1951)
Description : Le capitaine-médecin Chataigneau, du 2e BEP (Bataillon Etranger de Parachutistes), gravement blessé lors des combats de Nghia-Lo, est brancardé par des légionnaires (armés de fusils à crosses pliantes MAS 36 CR 39) vers le poste de Gia-Hoi pour son évacuation sanitaire.
Date : Octobre 1951
Lieu : Tonkin / Nghia Lo
Photographe : Inconnu
Origine : SCA - ECPAD
Référence : TONK-51-163-R17
ecpad
ecpad
Đi tuần tra đường sông
Đi tuần tra đường sông
Một bữa ăn trên tàu có hoa quả tráng miệng
Một bữa ăn trên tàu có hoa quả tráng miệng
Lính Pháp đang khám xét nơi chế tạo vũ khí của đối phương
Lính Pháp đang khám xét nơi chế tạo vũ khí của đối phương
Lính Ma rốc
Lính Ma rốc
Luyện tập
Luyện tập
Lính thông tin
Lính thông tin
Lính đánh thuê trong quân đội Pháp ở Lào
Lính đánh thuê trong quân đội Pháp ở Lào
Quân Pháp trong cuộc hành quân "Chim én" ở Lạng Sơn ngày 17.7.1953.
Một người lính đang nhận cốc nước
Quân Pháp trong cuộc hành quân "Chim én" ở Lạng Sơn ngày 17.7.1953.
Một người lính đang nhận cốc nước
quân Pháp đi càn ở địa phận Bùi Chu  ngày 30 - 10 - 1953
quân Pháp đi càn ở địa phận Bùi Chu ngày 30 - 10 - 1953
quân Pháp đi tuần ở vùng Tây Nguyên những năm 1952
quân Pháp đi tuần ở vùng Tây Nguyên những năm 1952
Ngủ bên cạnh đường
Ngủ bên cạnh đường
quân Pháp hỏi cung tù binh ở miền Nam những năm 1949
quân Pháp hỏi cung tù binh ở miền Nam những năm 1949
quân pháp canh gác ở lưu vực sông Đáy những năm 1950
quân pháp canh gác ở lưu vực sông Đáy những năm 1950
Làm thịt trâu bò
Làm thịt trâu bò
miền Bắc năm 1950
miền Bắc năm 1950
Những phụ nữ người Thổ trên cầu Trà Lĩnh tại cửa ngõ Cao Bằng, bên cạnh họ là một lính Trung quốc (Quốc dân Đảng)
Thời gian: Khoảng tháng 7 hoặc 8 năm 1950.
Những phụ nữ người Thổ trên cầu Trà Lĩnh tại cửa ngõ Cao Bằng, bên cạnh họ là một lính Trung quốc (Quốc dân Đảng)
Thời gian: Khoảng tháng 7 hoặc 8 năm 1950.
Một đồn canh cốt thép xung quanh Cao Bằng. Thời gian: Khoảng tháng 7 hoặc 8 năm 1950
Một đồn canh cốt thép xung quanh Cao Bằng. Thời gian: Khoảng tháng 7 hoặc 8 năm 1950
lính Pháp dẫm phải chông của đối phương
lính Pháp dẫm phải chông của đối phương
Xe tăng quân Pháp canh giữ núi Gôi huyện Vụ Bản,
Nam Định để cho quân Pháp rút vào Nam - 1954
Xe tăng quân Pháp canh giữ núi Gôi huyện Vụ Bản,
Nam Định để cho quân Pháp rút vào Nam - 1954
Tướng Võ Nguyên Giáp trong chiến dịch biên giới năm 1950
Tướng Võ Nguyên Giáp trong chiến dịch biên giới năm 1950
Vệ quốc đoàn thành Hà Nội năm 1946
Vệ quốc đoàn thành Hà Nội năm 1946
Một người lính Việt canh gác tại căn cứ Pháp ở Nam Định, 5/1954.

Chụp: Robert Capa
Một người lính Việt canh gác tại căn cứ Pháp ở Nam Định, 5/1954.

Chụp: Robert Capa
Học sinh Hà Nội mặc áo dài, khoanh tay khi đi qua đường, 23/5/1954.

Người chụp: Robert Capa
Học sinh Hà Nội mặc áo dài, khoanh tay khi đi qua đường, 23/5/1954.

Người chụp: Robert Capa
Lính Marốc cầu nguyện ở sân bay Gia Lâm ngày 5.7.1952
Lính Marốc cầu nguyện ở sân bay Gia Lâm ngày 5.7.1952
Ngày 25/5/1954, khi một trung đoàn của Pháp đang băng qua một khu vực nguy hiểm, phóng viên chiến trường Robert Capa quyết định không ngồi trên xe ô tô nữa mà xuống đi bộ để chụp hình. Chỉ 5 phút sau, Capa giẫm phải một quả mìn và bị thương nặng. Vài tiếng sau, ông qua đời tại một bệnh viện dã chiến, trên tay vẫn còn giữ chiếc máy ảnh.

Ảnh chụp ven đường khi Robert Capa cùng quân Pháp di chuyển từ Nam Định tới Thái Bình ngày 25/5/1954. Đây là một trong những bức ảnh cuối cùng mà Robert Capa thực hiện ngay trước khi thiệt mạng.
Ngày 25/5/1954, khi một trung đoàn của Pháp đang băng qua một khu vực nguy hiểm, phóng viên chiến trường Robert Capa quyết định không ngồi trên xe ô tô nữa mà xuống đi bộ để chụp hình. Chỉ 5 phút sau, Capa giẫm phải một quả mìn và bị thương nặng. Vài tiếng sau, ông qua đời tại một bệnh viện dã chiến, trên tay vẫn còn giữ chiếc máy ảnh.

Ảnh chụp ven đường khi Robert Capa cùng quân Pháp di chuyển từ Nam Định tới Thái Bình ngày 25/5/1954. Đây là một trong những bức ảnh cuối cùng mà Robert Capa thực hiện ngay trước khi thiệt mạng.
Người Pháp và người Việt cùng xem chọi gà, giải thưởng đặt trên bàn, năm 1951.
Nguồn: Quoc-Gia Viet Nam Photo Service
Người Pháp và người Việt cùng xem chọi gà, giải thưởng đặt trên bàn, năm 1951.
Nguồn: Quoc-Gia Viet Nam Photo Service

Xem Thêm