Hải chiến Trường Sa 14/03/1988

Hải chiến Trường Sa 1988 là tên gọi của cuộc chiến trên biển Đông năm 1988 khi Hải quân Quân giải phóng Nhân dân Trung Hoa đưa quân chiếm đóng bãi đá Cô Lin, bãi đá Len Đao và bãi đá Gạc Ma thuộc quần đảo Trường Sa, do ba bãi đá này không có quân đội đồn trú nên Hải quân Nhân dân Việt Nam phải đưa quân ra bảo vệ, đánh trả và cuộc chiến nổ ra vào ngày 14 tháng 3 năm 1988. Phía Việt Nam mất ba tàu vận tải của hải quân Việt Nam, 64 thủy binh Việt Nam đã thiệt mạng. Trung Quốc bị hư hại tàu chiến, thương vong hai mươi tư thủy binh. Kể từ đó Trung Quốc đã chiếm đóng bãi đá Gạc Ma và hai nước cùng cho hải quân ra đóng giữ một số đá ngầm khác mà hai bên cùng tuyên bố chủ quyền. Trong các tài liệu của Hải Quân Việt Nam, sự kiện này được biết đến với tên gọi CQ-88 (Chủ quyền-88).ự kiện ngày 14/3/1988, cùng với sự kiện 19/01/1974, là những dấu mốc lịch sử quan trọng trong quá trình dân tộc Việt Nam, Nhà nước Viêt Nam qua các thời kỳ đã chiến đấu bảo vệ sự toàn vẹn lãnh thổ của mình trong Biển Đông, là dấu ấn không bao giờ phai mờ trong tâm khảm của mỗi con dân đất Việt. Đây là sự kiện cần được quan tâm nghiên cứu đầy đủ và phải rút ra được những bài học quý giá nhằm phục vụ cho sự nghiệp đấu tranh bảo vệ chủ quyền thiêng liêng của Đất nước hiện tại và tương lai. Thực ra, thời điểm ngày 14/3 chỉ là đỉnh điểm của cả một chiến dịch theo kịch bản đã được Trung Quốc tính toán, triển khai nhằm thực hiện quyết tâm đặt được chân lên khu vực quần đảo Trường Sa. Thời điểm trước đó, CHND Trung Hoa chưa từng chiếm đóng được vị trí nào trên quần đảo Trường Sa của Việt Nam (trừ Đài Loan đã chiếm đóng trái phép đảo Ba Bình từ năm 1956), trong khi hầu hết các đảo nổi chủ yếu của quần đảo Trường Sa đều đã do các lực lượng Việt Nam đóng giữ, bảo vệ với tư cách những chủ nhân thật sự, ngoài ra còn có sự chiếm đóng của Philippinnes, Malaysia trên một số đảo ở phía Đông và Nam của quần đảo này. Việt Nam đã tiếp quản các đảo nổi trong chiến dịch Hồ Chí Minh và tiếp tục thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước đối với các đảo nổi, còn các đảo chìm, bãi cạn, bãi đá phụ thuộc, lúc đó Việt Nam chỉ tiến hành bảo vệ, quản lý bằng biện pháp quan sát, tuần tra định kỳ mà chưa có điều kiện xây dựng các công trình như hiện nay. Hơn nữa, ngay cả việc tuần tra kiểm soát đó trong điều kiện lúc bấy giờ cũng không phải lúc nào cũng thực hiện được… Đây là một tình thế mà Trung Quốc đã lợi dụng triển khai chiến dịch đánh chiếm các đảo chìm, các bãi đá…nhằm biến các bãi cạn này thành các căn cứ quân sự, các điểm đóng quân, để “đặt được chân” vào khu vực Trường Sa của Viêt Nam. Trung Quốc đã triển khai chiến dịch “đặt chân” này ngay từ đầu năm 1988, đồng thời với một loạt các động thái trên phương diện thông tin tuyên truyền, ngoại giao, pháp lý… diễn ra trước, trong và sau chiến dịch này nhằm biện minh cho hành động xâm chiếm băng vũ lực của họ… Cụ thể là: ngày 31/1/1988, họ đã chiếm đá Chữ Thập, ngày 18/2, chiếm đá Châu Viên, ngày 26/2/1988, chiếm đá Gaven, ngày 28/2, chiếm đá Huy gơ, ngày 23/3 chiếm đá Xu bi… Việt Nam xây dựng, bảo vệ chủ quyền hòa bình Trước tình hình đó, trong tình thế hết sức khó khăn về nhiều mặt, Việt Nam vẫn cố gắng tìm mọi cách xây dựng, củng cố các khu vực, các vị trí của quần đảo Trường Sa mà Việt Nam đang quản lý, bằng việc đưa tàu vận tải chở vật liệu xây dựng ra các đảo chìm, bãi đá theo một kề hoạch mang tên CQ-88: Ngày 26/1, xây dựng đá Tiên Nữ Ngày 5/2 xây dựng Đá Lát Ngày 6/2, xây dựng Đá Lớn. Ngày 18/2, xây dựng Đá Đông. Ngày 27/2, xây dựng Tốc Tan Ngày 2/3, cắm chốt Núi Le... Về phía Trung Quốc, không chỉ dừng lại ở những vị trí chiếm đóng bất hợp pháp nói trên, họ còn tiếp tục tổ chức chiếm thêm 3 đá Cô Lin, Len Đao và Gạc Ma, gây ra sự kiện 14 tháng 3 đẫm máu. Theo các nguồn thông tin đáng tin cậy, trong chiến dịch này, Trung Quốc đã huy động một liên đội tàu chiến gồm 9 đến 12 tàu chiến. Trong đó có 1 tàu khu trục tên lửa, 7 tàu hộ vệ tên lửa, 2 tàu hộ vệ pháo, 2 tàu đổ bộ, 3 tàu vận tải hỗ trợ. Ngoài ra, có tàu đo đạc, tàu kéo... và một Pông-Tông lớn Trong khi đó, Việt Nam chỉ có 3 tàu vận tải, chủ yếu lực lượng Công binh Hải quân ra làm nhiệm vụ xây dựng đảo, đá với 2 phân đội công binh gồm 70 người và 4 tổ chiến đấu. Các tàu vận tải của Việt Nam gồm HQ-604, HQ-505, HQ- 605, đều là những tàu không trang bị vũ khí, ngoại trừ những khẩu AK của các chiến sỹ công binh để tự vệ khi cần thiết. Từ thực trạng nói trên chúng ta thấy rõ một bên là Trung Quốc đã tổ chức một chiến dịch quân sự nhằm tiến hành xâm chiếm lãnh thổ thuộc chủ quyền của Việt Nam; trong khi đó, Việt Nam hoàn toàn không có ý định sử dụng lực lượng quân sự để tiến hành hải chiến theo quy luật chiến tranh thông thường mà chỉ sử dung 3 con tàu vận tải làm nhiệm vụ chi viện cho các đảo thuộc quyền quản lý của mình. Khi buộc phải nổ súng để tự vệ, các chiến sĩ công binh, bằng sức mạnh của lòng yêu nước, không tiếc máu xương, họ đã chiến đấu đến hơi thở cuối cùng để bảo vệ mảnh đất thiêng của cha ông để lại, giữ vững ngọn cờ vẻ vang của Tổ quốc luôn hiên ngang tung bay giữa trùng khơi sóng gió…. Thiên sử anh hùng Theo các tài liệu, trận chiến Trường Sa năm 1988 được ghi lại khá đầy đủ, chi tiết. Tại khu vực đá Gạc Ma, sáng ngày 14 tháng 3, từ tàu HQ-604 đang thả neo tại Gạc Ma làm nhiệm vụ xây dựng, Trần Đức Thông, Lữ đoàn phó Lữ đoàn 146, phát hiện thấy bốn chiếc tàu lớn của Trung Quốc đang tiến lại gần. Tổ 3 người gồm thiếu uý Trần Văn Phương và hai chiến sĩ Nguyễn Văn Tư, Nguyễn Văn Lanh được cử lên đá bảo vệ lá cờ Việt Nam đang tung bay trên đá Gạc Ma. Phía Trung Quốc cử hai xuồng chở tám lính có vũ khí lao thẳng về phía đá. Chỉ huy Trần Đức Thông ra lệnh cho các thủy thủ từ tàu 604 tiến về bảo vệ để hình thành tuyến phòng thủ, không cho đối phương tiến lên. Khoảng 6h sáng, Hải quân Trung Quốc thả ba thuyền nhôm và bốn mươi quân đổ bộ lên đá giật cờ Việt Nam. Hạ sĩ Nguyễn Văn Lanh bị lê đâm và bắn bị thương. Thiếu úy Trần Văn Phương bị bắn tử thương. Lúc 7 giờ 30 phút, Trung Quốc dùng hai chiến hạm bắn pháo 100 mm vào tàu 604, làm tàu bị hỏng nặng. Hải quân Trung Quốc cho quân xông về phía tàu Việt Nam. Thuyền trưởng Vũ Phi Trừ chỉ huy đánh trả quyết liệt, buộc đối phương phải nhảy xuống biển bơi trở về tàu. Hải quân Việt Nam vừa chiến đấu, vừa tổ chức băng bó, cứu chữa thương binh và hỗ trợ các chiến sĩ bảo vệ cờ. Trung Quốc tiếp tục nã pháo, tàu 604 của Việt Nam bị thủng nhiều lỗ và chìm dần xuống biển. Vũ Phi Trừ - thuyền trưởng, Trần Đức Thông - lữ đoàn phó Lữ đoàn 146, cùng một số thủy thủ trên tàu đã hy sinh cùng tàu 604 ở khu vực đá Gạc Ma. Tại đá Cô Lin, 6h, tàu HQ-505 của Việt Nam đã cắm hai lá cờ trên đá. Khi thấy tàu 604 của Việt Nam bị chìm, thuyền trưởng tàu HQ-505, Vũ Huy Lễ ra lệnh nhổ neo cho tàu ủi bãi. Phát hiện tàu 505 đang lên bãi, 2 tàu của Trung Quốc quay sang tiến công tàu 505. Khi tàu HQ-505 trườn lên được hai phần ba thân tàu lên đá thì bốc cháy. 8h15, thủy thủ tàu 505 vừa triển khai lực lượng dập lửa cứu tàu, bảo vệ đá, và đưa xuồng đến cứu thủy thủ tàu 604 bị chìm ở phía bãi Gạc Ma ngay gần đó. Hành động dũng cảm ủi bãi của thuyền trưởng Vũ Huy Lễ và đồng đội đã giữ được đá Cô Lin. Tại đá Len Đao, 8 giờ 20 phút ngày 14 tháng 3, Hải quân Trung Quốc bắn mãnh liệt vào tàu HQ-605 của Hải quân Việt Nam. Tàu 605 bị bốc cháy và chìm lúc 6 giờ ngày 15 tháng 3. Thượng uý Nguyễn Văn Chương và trung uý Nguyễn Sĩ Minh tổ chức đưa thương binh và chiến sĩ về tàu 505 (sau khi bị bắn cháy nằm trên đá Cô Lin). Thi hài các chiến sĩ Trần Văn Phương, Nguyễn Văn Tư, cùng các thương binh nặng được đặt trên xuồng. Số người còn sức một tay bám thành xuồng một tay làm mái chèo đưa xuồng về đến đá Cô Lin. Nhiều cứ liệu lịch sử, nhiều bài báo nhắc đến sự kiện này. Trong đó, có đoạn video đầy xúc động về trận chiến Trường Sa, do một bạn trẻ yêu nước đưa lên mạng từ năm 2009. Video thu hút hàng triệu lượt người xem, khi xem video này nhiều người xúc động không cầm được nước mắt.Khoảng một tháng sau trận hải chiến tại Gạc Ma, Hải quân Việt Nam đưa ba mươi lăm công binh và bảy thủy binh cùng vật liệu xây dựng bí mật đổ bộ trong đêm lên đá Len Đao xây nhà đánh dấu chủ quyền. Lặp lại kịch bản Gạc Ma, trong ngày Trung Quốc đưa bảy tàu chiến và nhiều xuồng nhỏ bao vây uy hiếp số quân Việt Nam trên đá. Tuy nhiên lần này Việt Nam cho bảy máy bay chiến đấu từ đất liền bay ra phía đá hỗ trợ nên số tàu chiến của Trung Quốc tản ra, đụng độ không nổ ra, phía Việt Nam giữ được đá và hoàn thành việc xây dựng nhà trên đá. Như vậy là Quân Đội nhân dân Việt Nam đã bảo vệ thành công Cô Lin và Len Đao trước âm mưu xâm chiếm lãnh thổ bằng vũ lực của Trung Quốc. Trận chiến này, 64 chiến sĩ đã hy sinh, 11 chiến sĩ bị thương. Máu và thân xác các anh đã hòa cùng sóng biển nhưng tấm gương dũng cảm, mưu trí bảo vệ chủ quyền Tổ quốc của các anh sẽ mãi là những thiên sử anh hùng, bất diệt. http://www.youtube.com/watch?v=WIf-T9Z1nl8
Nguồn: - https://www.facebook.com/hoangsapage
- http://reds.vn/index.php/lich-su/hoang-sa-truong-sa/3819-tran-chien-gac-ma-mot-thien-su-anh-hung
- Nhà báo Nguyễn Viết Thái
và các album trong LSVNQA
Posted by Admin NH

Danh sách 64 chiến sĩ đã Anh dũng hy sinh ngày 14-3-1988 trong trận hải chiến Trường Sa với quân xâm lược Trung Quốc

( Có 14 liệt sỹ quê Quảng Bình, 9 liệt sỹ quê Thái Bình, 8 liệt sỹ quê Nghệ An, 7 liệt sỹ quê Đà Nẵng, 6 liệt sỹ quê Thanh Hóa, 3 liệt sỹ quê Hà Nam, 3 liệt sỹ quê Hải phòng, 3 liệt sỹ quê Hà Tĩnh, 2 liệt sỹ quê Phú Yên, 2 liệt sỹ quê Nam Định, 2 liệt sỹ quê Quảng Trị, 1 liệt sỹ quê Phú Thọ, 1 liệt sỹ quê Quảng Nam, 1 liệt sỹ quê Hà Nội, 1 liệt sỹ quê quê Ninh Bình, 1 liệt sỹ quê Khánh Hòa )

1- Vũ Phi Trừ, quê Quảng Khê, Quảng Xương, Thanh Hóa.
2- Nguyễn Văn Thắng, quê Thái Hưng, Thái Thụy, Thái Bình.
3- Phạm Gia Thiều, quê Hưng Đạo, Trung Đồng, Nam Ninh, Hà Nam Ninh (nay là tỉnh Hà Nam)
4- Lê Đức Hoàng, quê Nam Yên, Hải Yên, Tĩnh Gia, Thanh Hóa.
5- Trần Văn Minh, quê Đại Tân, Quỳnh Long, Quỳnh Lưu, Nghệ Tĩnh (nay là tỉnh Nghệ An).
6- Đoàn Đắc Hoạch, quê 163 Trần Nguyên Hãn, quận Lê Chân, Hải Phòng.
7- Tạ Trần Văn Chức, quê Canh Tân, Hưng Hà, Thái Bình.
8- Hán Văn Khoa, quê Văn Lương, Tam Thanh, Vĩnh Phú (nay là tỉnh Phú Thọ).
9 - Trần Văn Phong, quê Hải Tây, Hải Hậu, Hà Nam Ninh (Nam Định).
10- Nguyễn Văn Hải, quê Chính Mỹ, Thủy Nguyên, Hải Phòng.
11- Nguyễn Tất Nam, quê Thường Sơn, Đô Lương, Nghệ Tĩnh.
12- Trần Đức Bảy, quê Phương Phượng, Lê Hòa, Kim Bảng, Hà Nam Ninh (nay là tỉnh Hà Nam).
13- Đỗ Việt Thắng, quê Thiệu Tân, Đông Sơn, Thanh Hóa.
14- Nguyễn Văn Thủy, quê Phú Linh, Phương Đình, Nam Ninh, Hà Nam Ninh (nay là Hà Nam).
15- Phạm Hữu Đoan, quê Thái Phúc, Thái Thụy, Thái Bình.
16- Bùi Duy Hiền, quê Diêm Điền, Thái Thụy, Thái Bình.
17- Nguyễn Bá Cường, quê Thanh Quýt, Điện Thắng, Điện Bàn, Quảng Nam - Đà Nẵng (nay là tỉnh Quảng Nam).
18- Kiều Văn Lập, quê Phú Long, Long Xuyên, Phúc Thọ, Hà Nội.
19- Lê Đình Thơ, quê Hoằng Minh, Hoằng Hóa, Thanh Hóa.
20- Cao Xuân Minh, quê Hoằng Quang, Hoằng Hóa, Thanh Hóa.
21- Nguyễn Mậu Phong, quê Duy Ninh, Lệ Ninh, Bình Trị Thiên (nay là Quảng Bình).
22- Trần Văn Phương, quê Quảng Phúc, Quảng Trạch, Bình Trị Thiên (Quảng Bình).
23- Đinh Ngọc Doanh, quê Ninh Khang, Hoa Lư, Hà Nam Ninh (Ninh BÌnh).
24- Hồ Công Đệ, quê Hải Thượng, Tĩnh Gia, Thanh Hóa.
25- Đậu Xuân Tư, quê Nghi Yên, Nghi Lộc, Nghệ Tĩnh (Nghệ An).
26- Bùi Bá Kiên, quê Văn Phong, Cát Hải, Hải Phòng.
27- Đào Kim Cương, quê Vương Lộc, Can Lộc, Nghệ Tĩnh (Hà Tĩnh).
28- Phan Tấn Dư, quê Hòa Phong, Tuy hòa, Phú Khánh (Phú Yên).
29- Nguyễn Văn Phương, quê Mê Linh, Đông Hưng, Thái Bình.
30- Võ Đình Tuấn, quê Ninh Ích, Ninh Hòa, Phú Khánh (Khánh Hòa).
31- Nguyễn Văn Thành, quê Hương Điền, Hương Khê, Nghệ Tĩnh (Hà Tĩnh).
32- Phan Huy Sơn, quê Diễn Nguyên, Diễn Châu, Nghệ Tĩnh (Nghệ An).
33- Lê Bá Giang, quê Hưng Dũng, thành phố Vinh, Nghệ Tĩnh (Nghệ An).
34- Nguyễn Thắng Hải, quê Sơn Kim, Hương Sơn, Nghệ Tĩnh (Hà Tĩnh).
35- Phan Văn Dương, quê Nam Kim, Nam Đàn, Nghệ Tĩnh (Nghệ An).
36- Hồ Văn Nuôi, quê Nghi Tiến, Nghi Lộc, Nghệ Tĩnh (Nghệ An).
37- Vũ Đình Lương, quê Trung Thành, Yên Thành, Nghệ Tĩnh.
38- Trương Văn Thinh, quê Bình Kiên, Tuy Hòa, Phú Khánh (Phú Yên).
39- Trần Đức Thông, quê Minh Hòa, Hưng Hà, Thái Bình.
40- Trần Văn Phong, quê Minh Tâm, Kiến Xương, Thái Bình.
41- Trần Quốc Trị, quê Đông Thạch, Bố Trạch, Bình Trị Thiên (Quảng Bình).
42- Mai Văn Tuyến, quê Tây An, Tiền Hải, Thái Bình.
43 - Lê Thế, quê tổ 29, An Trung Tây, Quảng Nam-Đà Nẵng (TP. Đà Nẵng).
44- Trần Đức Hóa, quê Trường Sơn, Lệ Ninh, Bình Trị Thiên (Quảng Bình).
45- Phan Văn Thiềng, quê Đông Trạch, Bố Trạch, Bình Trị Thiên (Quảng Bình).
46- Tống Sĩ Bái, quê phường 1, Đông Hà, Bình Trị Thiên (Quảng Trị).
47- Hoàng Ánh Đông, quê phường 2, Đông Hà, Bình Trị Thiên (Quảng Trị).
48- Trương Minh Phương, quê Quảng Sơn, Quảng Trạch, Bình Trị Thiên (Quảng Bình).
49- Nguyễn Minh Tâm, quê Dân Chủ, Hưng Hà, Thái Bình.
50- Trần Mạnh Viết, quê tổ 36, Bình Hiên, thành phố Đà Nẵng, Quảng Nam-Đà Nẵng (TP. Đà Nẵng)
51- Hoàng Văn Túy, quê Hải Ninh, Lệ Ninh, Bình Trị Thiên (Quảng Bình).
52- Võ Minh Đức, quê Liên Thủy, Lệ Ninh, Bình Trị Thiên (Quảng Bình).
53- Võ Văn Tứ, quê Trường Sơn, Lệ Ninh, Bình Trị Thiên (Quảng Bình).
54- Trương Văn Hướng, quê Hải Ninh, Lệ Ninh, Bình Trị Thiên (Quảng Bình).
55- Nguyễn Tiến Doãn, quê Ngư Thủy, Lệ Ninh, Bình Trị Thiên (Quảng Bình).
56- Phạm Hữu Tý, quê Phong Thủy, Lệ Ninh, Bình Trị Thiên (Quảng Bình).
57- Nguyễn Hữu Lộc, quê tổ 22, Hòa Cường, Đà Nẵng, Quảng Nam-Đà Nẵng (TP. Đà Nẵng).
58- Trương Quốc Hùng, quê tổ 5, Hòa Cường, Đà Nẵng, Quảng Nam-Đà Nẵng (TP. Đà Nẵng).
59- Nguyễn Phú Đoàn, quê tổ 47, Hòa Cường, Đà Nẵng, Quảng Nam-Đà Nẵng (TP. Đà Nẵng).
60- Nguyễn Trung Kiên, quê Nam Tiến, Nam Ninh, Hà Nam Ninh (Nam Định).
61- Phạm Văn Lợi, quê Quảng Thủy, Quảng Trạch, Bình Trị Thiên (Quảng Bình).
62- Trần Văn Quyết, quê Quảng Thủy, Quảng Trạch, Bình Trị Thiên (Q. BÌnh).
63- Phạm Văn Sửu, quê tổ 7, Hòa Cường, Đà Nẵng, Quảng Nam-Đà Nẵng (TP Đà Nẵng).
64- Trần Tài, quê tổ 12, Hòa Cường, Đà Nẵng, Quảng Nam-Đà Nẵng (TP Đà Nẵng)
Tưởng nhới 64 anh hùng liệt sĩ đã hy sinh vì chủ quyền hải đao Trường Sa của Tổ Quốc.  14 tháng 3 năm 1988.
Posted by Admin ĐN
Tưởng nhới 64 anh hùng liệt sĩ đã hy sinh vì chủ quyền hải đao Trường Sa của Tổ Quốc. 14 tháng 3 năm 1988.
Posted by Admin ĐN
Bản đồ các đảo trong vùng hải chiến ở Trường Sa.
Posted by Admin ĐN
Bản đồ các đảo trong vùng hải chiến ở Trường Sa.
Posted by Admin ĐN
Tranh vẽ trận chiến bảo vệ hòn đảo Gạc Ma.
Posted by Admin ĐN
Tranh vẽ trận chiến bảo vệ hòn đảo Gạc Ma.
Posted by Admin ĐN
Thực hiện nhiệm vụ đóng giữ các đảo Gạc Ma và Cô Lin, 9h sáng ngày 13 tháng 3 năm 1988, tàu HQ-604 do đồng chí Vũ Phi Trừ làm thuyền trưởng và tàu HQ-505 do đồng chí Vũ Huy Lễ làm thuyền trưởng được lệnh từ đảo Đá Lớn tiến về phía Gạc Ma, Cô Lin. Phối hợp với hai tàu 604 và 505 có 2 phân đội công binh (70 người) thuộc Trung đoàn 83, bốn tổ chiến đấu (22 người) thuộc Lữ đoàn 146, do đồng chí Trần Đức Thông, Phó Lữ đoàn trưởng chỉ huy và 4 chiến sĩ đo đạc của Đoàn đo đạc và biên vẽ bản đồ (Bộ Tổng Tham mưu). Sau khi hai tàu của ta thả neo được 30 phút, tàu hộ vệ của Trung Quốc từ Huy Gơ chạy về phía Gạc Ma, có lúc cách ta 500m. 

17h ngày 13 tháng 3, tàu Trung Quốc áp sát tàu 604 của ta và dùng loa gọi sang khiêu khích. Bị tàu Trung Quốc uy hiếp, cán bộ, chiến sĩ hai tàu 604 và 505 động viên nhau giữ vững quyết tâm không để mắc mưu, kiên trì neo giữ quanh đảo. 

Tàu chiến đấu của Trung Quốc cùng 1 tàu hộ vệ, 2 tàu vận tải thay nhau cơ động, chạy quanh đảo Gạc Ma.

Trước tình hình căng thẳng do hải quân Trung Quốc gây ra, lúc 21h ngày 13 tháng 3, Bộ Tư lệnh Hải quân chỉ thị cho các đồng chí Trần Đức Thông, Vũ Huy Lễ, Vũ Phi Trừ chỉ huy bộ đội quyết giữ vững các đảo Gạc Ma, Cô Lin. Tiếp đó, Bộ Tư lệnh Hải quân chỉ thị: Khẩn trương thả xuồng máy, xuồng nhôm, chuyển vật liệu làm nhà lên đảo ngay trong đêm ngày 13 tháng 3. 

Thực hiện mệnh lệnh của Bộ Tư lệnh Hải quân, tàu 604 cùng lực lượng công binh Trung đoàn 83 chuyển vật liệu lên đảo Gạc Ma, tiếp đó, lực lượng của Lữ đoàn 146 bí mật đổ bộ, cắm cờ Tổ quốc và triển khai 4 tổ bảo vệ đảo.

Lúc này, Trung Quốc điều thêm 2 tàu hộ vệ trang bị pháo 100mm đến hỗ trợ tàu có từ trước khiêu khích đe dọa ta rút khỏi đảo Gạc Ma. Ban chỉ huy tàu 604 họp nhận định Trung Quốc có thể dùng vũ lực can thiệp và quyết định chỉ huy bộ đội bình tĩnh xử trí, thống nhất thực hiện theo phương án tác chiến đề ra, quyết tâm bảo vệ Gạc Ma.
Thực hiện nhiệm vụ đóng giữ các đảo Gạc Ma và Cô Lin, 9h sáng ngày 13 tháng 3 năm 1988, tàu HQ-604 do đồng chí Vũ Phi Trừ làm thuyền trưởng và tàu HQ-505 do đồng chí Vũ Huy Lễ làm thuyền trưởng được lệnh từ đảo Đá Lớn tiến về phía Gạc Ma, Cô Lin. Phối hợp với hai tàu 604 và 505 có 2 phân đội công binh (70 người) thuộc Trung đoàn 83, bốn tổ chiến đấu (22 người) thuộc Lữ đoàn 146, do đồng chí Trần Đức Thông, Phó Lữ đoàn trưởng chỉ huy và 4 chiến sĩ đo đạc của Đoàn đo đạc và biên vẽ bản đồ (Bộ Tổng Tham mưu). Sau khi hai tàu của ta thả neo được 30 phút, tàu hộ vệ của Trung Quốc từ Huy Gơ chạy về phía Gạc Ma, có lúc cách ta 500m.

17h ngày 13 tháng 3, tàu Trung Quốc áp sát tàu 604 của ta và dùng loa gọi sang khiêu khích. Bị tàu Trung Quốc uy hiếp, cán bộ, chiến sĩ hai tàu 604 và 505 động viên nhau giữ vững quyết tâm không để mắc mưu, kiên trì neo giữ quanh đảo.

Tàu chiến đấu của Trung Quốc cùng 1 tàu hộ vệ, 2 tàu vận tải thay nhau cơ động, chạy quanh đảo Gạc Ma.

Trước tình hình căng thẳng do hải quân Trung Quốc gây ra, lúc 21h ngày 13 tháng 3, Bộ Tư lệnh Hải quân chỉ thị cho các đồng chí Trần Đức Thông, Vũ Huy Lễ, Vũ Phi Trừ chỉ huy bộ đội quyết giữ vững các đảo Gạc Ma, Cô Lin. Tiếp đó, Bộ Tư lệnh Hải quân chỉ thị: Khẩn trương thả xuồng máy, xuồng nhôm, chuyển vật liệu làm nhà lên đảo ngay trong đêm ngày 13 tháng 3.

Thực hiện mệnh lệnh của Bộ Tư lệnh Hải quân, tàu 604 cùng lực lượng công binh Trung đoàn 83 chuyển vật liệu lên đảo Gạc Ma, tiếp đó, lực lượng của Lữ đoàn 146 bí mật đổ bộ, cắm cờ Tổ quốc và triển khai 4 tổ bảo vệ đảo.

Lúc này, Trung Quốc điều thêm 2 tàu hộ vệ trang bị pháo 100mm đến hỗ trợ tàu có từ trước khiêu khích đe dọa ta rút khỏi đảo Gạc Ma. Ban chỉ huy tàu 604 họp nhận định Trung Quốc có thể dùng vũ lực can thiệp và quyết định chỉ huy bộ đội bình tĩnh xử trí, thống nhất thực hiện theo phương án tác chiến đề ra, quyết tâm bảo vệ Gạc Ma.
Nhà cao cẳng - cách anh em vẫn gọi vui về thế hệ nhà gỗ năm 1988 ở Trường Sa. Nhà rộng chừng 30m2, lợp mái tôn. Sàn ghép gỗ. Các phòng không có vách ngăn. Chỉ khi nhân viên cơ yếu làm việc, anh em dùng miếng vải lau súng làm vách ngăn. 

Nhà cao cẳng trên đảo Đá Lát. Cờ Tổ quốc được sơn lên mái tôn như khẳng định chủ quyền của Việt Nam trên đảo này.
Nhà cao cẳng - cách anh em vẫn gọi vui về thế hệ nhà gỗ năm 1988 ở Trường Sa. Nhà rộng chừng 30m2, lợp mái tôn. Sàn ghép gỗ. Các phòng không có vách ngăn. Chỉ khi nhân viên cơ yếu làm việc, anh em dùng miếng vải lau súng làm vách ngăn.

Nhà cao cẳng trên đảo Đá Lát. Cờ Tổ quốc được sơn lên mái tôn như khẳng định chủ quyền của Việt Nam trên đảo này.
"Khởi hành từ Quân cảng Cam Ranh vào một buổi sáng trời êm, biển lặng. Đại dương một màu xanh biếc.(chú thích của bác Nguyễn Viết Thái)"

Tàu HQ 861 nhận nhiệm vụ đưa đoàn Đại tướng, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó bí thư Đảng ủy Quân sự Trung ương, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Lê Đức Anh, Đô đốc Tư lệnh Quân chủng Hải quân Giáp Văn Cương và nhiều cán bộ cấp tướng của các quân chủng, tổng cục đi thăm 11 đảo trong vòng 20 ngày.
 Bộ trưởng Quốc phòng lúc đó là Lê Đức Anh đã ra lệnh cho các chiến sĩ của ta không được nổ súng bắn vào quân TQ tấn công chiếm đảo vì sợ “bị khiêu khích”. Chỉ một nhóm chiến sỹ đã cưỡng lệnh này và bắn vào kẻ xâm lược. Có lẽ đây là lý do tại sao TQ sau đó mấy năm đã đặc biệt cử một nhóm bác sĩ sang chữa bệnh cho Chủ tịch nước Lê Đức Anh khi đó đã gần đất xa trời, khỏi bệnh và sống đến tận bây giờ. Không biết bao giờ lích sử VN mới làm rõ trách nhiệm về mệnh lệnh tệ hại này của Bộ trưởng QP Lê Đức Anh và bài học này có được rút kinh nghiệm hay không?”
"Khởi hành từ Quân cảng Cam Ranh vào một buổi sáng trời êm, biển lặng. Đại dương một màu xanh biếc.(chú thích của bác Nguyễn Viết Thái)"

Tàu HQ 861 nhận nhiệm vụ đưa đoàn Đại tướng, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó bí thư Đảng ủy Quân sự Trung ương, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Lê Đức Anh, Đô đốc Tư lệnh Quân chủng Hải quân Giáp Văn Cương và nhiều cán bộ cấp tướng của các quân chủng, tổng cục đi thăm 11 đảo trong vòng 20 ngày.
Bộ trưởng Quốc phòng lúc đó là Lê Đức Anh đã ra lệnh cho các chiến sĩ của ta không được nổ súng bắn vào quân TQ tấn công chiếm đảo vì sợ “bị khiêu khích”. Chỉ một nhóm chiến sỹ đã cưỡng lệnh này và bắn vào kẻ xâm lược. Có lẽ đây là lý do tại sao TQ sau đó mấy năm đã đặc biệt cử một nhóm bác sĩ sang chữa bệnh cho Chủ tịch nước Lê Đức Anh khi đó đã gần đất xa trời, khỏi bệnh và sống đến tận bây giờ. Không biết bao giờ lích sử VN mới làm rõ trách nhiệm về mệnh lệnh tệ hại này của Bộ trưởng QP Lê Đức Anh và bài học này có được rút kinh nghiệm hay không?”
Người bạn thân thiết của các chiến sỹ
Người bạn thân thiết của các chiến sỹ
Chính trị viên Trung Quốc dùng lý lẽ để thuyết phục Việt Nam rút khỏi rạn san hô
Chính trị viên Trung Quốc dùng lý lẽ để thuyết phục Việt Nam rút khỏi rạn san hô
Chiếc 929 đóng vai trò soái hạm và hậu cần của phân đội Nam Hải trong CQ-88
Chiếc 929 đóng vai trò soái hạm và hậu cần của phân đội Nam Hải trong CQ-88
* Hình ảnh và lời bình từ phía báo chí Trung Quốc 

Các khẩu pháo giận dữ nả đạn vào tàu đối phương (Tức tàu Việt Nam). Ảnh: súng phòng không trên tàu 531 nả đạn vào đối phương
* Hình ảnh và lời bình từ phía báo chí Trung Quốc

Các khẩu pháo giận dữ nả đạn vào tàu đối phương (Tức tàu Việt Nam). Ảnh: súng phòng không trên tàu 531 nả đạn vào đối phương
Những chiến sỹ trẻ trên Đá Lát.(5/1988)

Ngày 4 tháng 2 năm 1988, Thường vụ Đảng ủy Quân chủng HQ họp nhận định: Nước ngoài đã cho quân đóng trên đảo Chữ Thập, trước mắt ta chưa đóng xen kẽ vì họ ngăn chặn ta từ xa. Họ có thể mở rộng phạm vi chiếm đóng sang các đảo Châu Viên, Đá Đông, Đá Nam, Tốc Tan và đóng xen kẽ những bãi đá ta đang đóng giữ. Do đó, ta phải nhanh chóng đưa lực lượng ra đóng giữ Đá Lát, Đá Lớn, Châu Viên. 

Thực hiện Nghị quyết của Thường vụ Đảng ủy Quân chủng, Tư lệnh Hải quân điện cho biên đội tàu 611 và 712 đang neo đậu ở đảo Trường Sa Đông đưa lực lượng công binh và bộ đội của Lữ đoàn 146 đến đảo Đá Lát. Dưới sự chỉ huy của đồng chí Công Phán, bộ đội phân chia lực lượng thành 3 tổ chiến đấu canh gác; đồng thời tổ chức lực lượng làm nhà cấp 3. Đến ngày 20 tháng 2, lực lượng công binh được sự hỗ trợ của lực lượng đóng giữ đảo hoàn thành nhà và bàn giao cho lực lượng bảo vệ đảo.
Những chiến sỹ trẻ trên Đá Lát.(5/1988)

Ngày 4 tháng 2 năm 1988, Thường vụ Đảng ủy Quân chủng HQ họp nhận định: Nước ngoài đã cho quân đóng trên đảo Chữ Thập, trước mắt ta chưa đóng xen kẽ vì họ ngăn chặn ta từ xa. Họ có thể mở rộng phạm vi chiếm đóng sang các đảo Châu Viên, Đá Đông, Đá Nam, Tốc Tan và đóng xen kẽ những bãi đá ta đang đóng giữ. Do đó, ta phải nhanh chóng đưa lực lượng ra đóng giữ Đá Lát, Đá Lớn, Châu Viên.

Thực hiện Nghị quyết của Thường vụ Đảng ủy Quân chủng, Tư lệnh Hải quân điện cho biên đội tàu 611 và 712 đang neo đậu ở đảo Trường Sa Đông đưa lực lượng công binh và bộ đội của Lữ đoàn 146 đến đảo Đá Lát. Dưới sự chỉ huy của đồng chí Công Phán, bộ đội phân chia lực lượng thành 3 tổ chiến đấu canh gác; đồng thời tổ chức lực lượng làm nhà cấp 3. Đến ngày 20 tháng 2, lực lượng công binh được sự hỗ trợ của lực lượng đóng giữ đảo hoàn thành nhà và bàn giao cho lực lượng bảo vệ đảo.
Nhà đá chẻ nhìn từ nhà cao cẳng.
Nhà đá chẻ nhìn từ nhà cao cẳng.
* Hình ảnh và lời bình từ phía báo chí Trung Quốc 

Tàu địch (tức tàu của Việt Nam) chìm dần chỉ còn phần cuối cùng của các cột.
Hình ảnh cuối cùng trước khi con tàu bị chìm, con tàu với gần như tất cả 175 binh lính Việt Nam đã bị chết đuối
* Hình ảnh và lời bình từ phía báo chí Trung Quốc

Tàu địch (tức tàu của Việt Nam) chìm dần chỉ còn phần cuối cùng của các cột.
Hình ảnh cuối cùng trước khi con tàu bị chìm, con tàu với gần như tất cả 175 binh lính Việt Nam đã bị chết đuối
Nhà đá chẻ nhìn từ nhà cao cẳng.
Nhà đá chẻ nhìn từ nhà cao cẳng.
Theo đúng quy định của quân đội, phía TQ thả ca nô vào đảo với một đội quân đặc nhiệm hải quân để "trục xuất quân xâm lược" (dịch theo chữ của báo chí Trung Quốc) tức là để tấn công Việt Nam.
Theo đúng quy định của quân đội, phía TQ thả ca nô vào đảo với một đội quân đặc nhiệm hải quân để "trục xuất quân xâm lược" (dịch theo chữ của báo chí Trung Quốc) tức là để tấn công Việt Nam.
Quân đội TQ rất hiếu chiến, luôn sẵn sàng chiến đấu (Những hình ảnh đang chuẩn bị đạn dược trên tàu 929)
Quân đội TQ rất hiếu chiến, luôn sẵn sàng chiến đấu (Những hình ảnh đang chuẩn bị đạn dược trên tàu 929)
Tàu HQ-604 của Hải quân Nhân Dân Việt Nam chở theo 120 binh sĩ hoạt động ở vùng biển Trường Sa(Thực hiện nhiệm vụ CQ88 - ảnh do TQ chụp)
Tàu HQ-604 của Hải quân Nhân Dân Việt Nam chở theo 120 binh sĩ hoạt động ở vùng biển Trường Sa(Thực hiện nhiệm vụ CQ88 - ảnh do TQ chụp)
* Hình ảnh và lời bình từ phía báo chí Trung Quốc 

Tàu đối phương (tức tàu của Việt Nam) bị trúng pháo hạng nặng mất khả năng điều khiển, các binh sĩ bắt đầu nhảy xuống biển để thoát khỏi tàu
* Hình ảnh và lời bình từ phía báo chí Trung Quốc

Tàu đối phương (tức tàu của Việt Nam) bị trúng pháo hạng nặng mất khả năng điều khiển, các binh sĩ bắt đầu nhảy xuống biển để thoát khỏi tàu
* Hình ảnh và lời bình từ phía báo chí Trung Quốc 

Chính ủy Xu ra lệnh: "mục tiêu tàu địch (tức Việt Nam), bắn"
* Hình ảnh và lời bình từ phía báo chí Trung Quốc

Chính ủy Xu ra lệnh: "mục tiêu tàu địch (tức Việt Nam), bắn"
Phân đội Nam Hải hành quân xuống Trường Sa trong lúc xảy ra tình hình căng thẳng trong việc xây dựng căn cứ trên các đảo của quần đảo Trường Sa.
Phân đội Nam Hải hành quân xuống Trường Sa trong lúc xảy ra tình hình căng thẳng trong việc xây dựng căn cứ trên các đảo của quần đảo Trường Sa.
Ảnh: Nhà cao cẳng trên Đá Đông - 5/1988 - Nguyễn Viết Thái.

"TÌNH HUỐNG MẤT CHÂU VIÊN VÀ GIỮ ĐƯỢC ĐÁ ĐÔNG"...(Thiềm Thừ)

Đầu năm 1988, Trung Quốc đưa nhiều tàu hộ vệ tên lửa, tuần dương, tàu đổ bộ... đến khu vực quần đảo Trường Sa. Lãnh đạo Quân chủng Hải quân xác định: "Nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền vùng biển và quần đảo Trường Sa là nhiệm vụ quan trọng nhất, khẩn trương nhất và vinh quang nhất của Quân chủng".

Toàn Quân chủng bước vào Chiến dịch CQ88 (Bảo vệ Chủ quyền 1988). Tháng 2/1988, Trung tá Nguyễn Văn Dân (nay đã nghỉ hưu với cấp hàm Đại tá, Phó Tham mưu trưởng Vùng 4 Hải quân) được giao làm Phó Trưởng đoàn, phụ trách chỉ huy đi biển của Đoàn Công tác ra tiếp tục đóng giữ các đảo, bãi ngầm. Hướng chính là Đá Đông, Châu Viên, Đá Lát…

Những sự kiện dưới đây được ghi theo lời kể của ông

___________

Tàu HQ-614 là loại tàu Nhật Lệ do Trung Quốc đóng, trọng tải chỉ 200 tấn. Trung Quốc đưa một tàu khu trục, một tàu pháo đến chặn, không cho mình lên đảo, kéo cờ hiệu trên tàu và nói: Nếu mình không rút nó sẽ nổ súng.

Hai bên hằm hè nhau...

Sáng 18/2/1988 là mùng 2 Tết, tàu HQ-614 của chúng tôi đưa 9 anh em lên cắm cờ ở Châu Viên. Mang theo 1 lá cờ, 2 khẩu AK, dụng cụ xà beng để thăm dò độ sâu, chuẩn bị làm nhà.

Khi lên cắm được cờ rồi thì gió mùa Đông bắc về rất mạnh, nước lớn, tàu bị đánh ra khỏi đảo, trôi neo. Lúc đó trời tối, tàu phải nổ máy chạy cạnh đảo, tìm cách kéo 9 anh em trên đảo ra tàu.
7 người ra được trước, còn 2 người ở lại đứng giữ cờ. Nhưng nước triều cứ lên, ngập đến cổ, phải đưa nốt hai anh em ra.

Lúc đó 1 tàu của Trung Quốc, có hai số sau là 31 chạy tới uy hiếp.

Đến nửa đêm, lệnh của Tư lệnh Hải quân: Sáng mai bằng mọi giá phải lên Châu Viên.

Nhưng Trung Quốc kéo đến 4 tàu chiến: 208, 209, 164…, quay pháo về phía mình đe dọa nổ súng. Ta không lên được Châu Viên nữa.

Không phải mình không quyết tâm. Nhưng thực ra, cũng có mất cảnh giác, nghĩ là bãi ngầm nhỏ. Trung Quốc đã thả một bia làm dấu của họ lên đó, khi mình đến đã thấy.

Mình nghĩ Châu Viên là đảo nhỏ, không chú ý giữ bằng giữ Đá Đông, Đá Tây, Đá Lớn, Tốc Tan... - Những đảo lớn trên ba chục cây số, hai mấy cây số.
Lực lượng mình còn mỏng, phải tập trung vào các đảo lớn, không thể triển khai đến tất cả các đảo, bãi ngầm nhỏ.

Tối 18/2/1988 có dông lớn, tàu của cả nó cả mình đều bị trôi neo.

Tàu chúng tôi cấp tốc về Đá Đông, làm căn nhà cao chân đầu tiên ở mỏm Đông của Đá Đông, kéo cờ lên khẳng định chủ quyền.

Nhưng Trung Quốc cũng định đổ bộ lên phía bên kia, mỏm Tây của Đá Đông.

Tàu HQ-641 của mình lao lên đó, nên bên kia thôi. HQ-614 lao lên đó, nhưng chỉ kẹt, không hỏng tàu, sau cứu ra được. Tàu chiến của nó cứ quần liên tục ở bên ngoài.

Khi làm xong nhà cao chân ở Đá Đông, không có gì ăn, tôi phải đưa người ra tàu. Chuyến đầu ra được trót lọt, nhưng chuyến sau không được, sóng to.
Đành lội bộ về lại cái chòi cao chân đó, không có gì ăn, không có gì mặc. Ngày đó là 20/2/1988. Đó là mùng 4 Tết, cứ nghĩ có khi mình chết ở đây.

Nếu mình không nhanh ngày 19/2, có khi Trung Quốc lấy mất Đá Đông.

Nó định lên đầu Tây, tôi lệnh tàu HQ-614 lao lên để giữ đầu Tây.

Khi nó đưa pháo định bắn tàu mình, tôi bảo: "Thôi!. Đưa HQ-614 về để làm nhà trên Đá Đông ngay!".

Lên đó dựng 8 cái cột, tàu nó cũng về theo, nhưng thấy mình làm nhà cắm cờ trên đó rồi, nó lại thôi, không gây sự nữa. Nhưng mình mới cắm được cọc, dựng tạm nhà, chưa tiếp tế được thì sóng đánh tàu HQ-614 bật neo trôi ra, tôi phải nằm một đêm trên Đá Đông
Ảnh: Nhà cao cẳng trên Đá Đông - 5/1988 - Nguyễn Viết Thái.

"TÌNH HUỐNG MẤT CHÂU VIÊN VÀ GIỮ ĐƯỢC ĐÁ ĐÔNG"...(Thiềm Thừ)

Đầu năm 1988, Trung Quốc đưa nhiều tàu hộ vệ tên lửa, tuần dương, tàu đổ bộ... đến khu vực quần đảo Trường Sa. Lãnh đạo Quân chủng Hải quân xác định: "Nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền vùng biển và quần đảo Trường Sa là nhiệm vụ quan trọng nhất, khẩn trương nhất và vinh quang nhất của Quân chủng".

Toàn Quân chủng bước vào Chiến dịch CQ88 (Bảo vệ Chủ quyền 1988). Tháng 2/1988, Trung tá Nguyễn Văn Dân (nay đã nghỉ hưu với cấp hàm Đại tá, Phó Tham mưu trưởng Vùng 4 Hải quân) được giao làm Phó Trưởng đoàn, phụ trách chỉ huy đi biển của Đoàn Công tác ra tiếp tục đóng giữ các đảo, bãi ngầm. Hướng chính là Đá Đông, Châu Viên, Đá Lát…

Những sự kiện dưới đây được ghi theo lời kể của ông

___________

Tàu HQ-614 là loại tàu Nhật Lệ do Trung Quốc đóng, trọng tải chỉ 200 tấn. Trung Quốc đưa một tàu khu trục, một tàu pháo đến chặn, không cho mình lên đảo, kéo cờ hiệu trên tàu và nói: Nếu mình không rút nó sẽ nổ súng.

Hai bên hằm hè nhau...

Sáng 18/2/1988 là mùng 2 Tết, tàu HQ-614 của chúng tôi đưa 9 anh em lên cắm cờ ở Châu Viên. Mang theo 1 lá cờ, 2 khẩu AK, dụng cụ xà beng để thăm dò độ sâu, chuẩn bị làm nhà.

Khi lên cắm được cờ rồi thì gió mùa Đông bắc về rất mạnh, nước lớn, tàu bị đánh ra khỏi đảo, trôi neo. Lúc đó trời tối, tàu phải nổ máy chạy cạnh đảo, tìm cách kéo 9 anh em trên đảo ra tàu.
7 người ra được trước, còn 2 người ở lại đứng giữ cờ. Nhưng nước triều cứ lên, ngập đến cổ, phải đưa nốt hai anh em ra.

Lúc đó 1 tàu của Trung Quốc, có hai số sau là 31 chạy tới uy hiếp.

Đến nửa đêm, lệnh của Tư lệnh Hải quân: Sáng mai bằng mọi giá phải lên Châu Viên.

Nhưng Trung Quốc kéo đến 4 tàu chiến: 208, 209, 164…, quay pháo về phía mình đe dọa nổ súng. Ta không lên được Châu Viên nữa.

Không phải mình không quyết tâm. Nhưng thực ra, cũng có mất cảnh giác, nghĩ là bãi ngầm nhỏ. Trung Quốc đã thả một bia làm dấu của họ lên đó, khi mình đến đã thấy.

Mình nghĩ Châu Viên là đảo nhỏ, không chú ý giữ bằng giữ Đá Đông, Đá Tây, Đá Lớn, Tốc Tan... - Những đảo lớn trên ba chục cây số, hai mấy cây số.
Lực lượng mình còn mỏng, phải tập trung vào các đảo lớn, không thể triển khai đến tất cả các đảo, bãi ngầm nhỏ.

Tối 18/2/1988 có dông lớn, tàu của cả nó cả mình đều bị trôi neo.

Tàu chúng tôi cấp tốc về Đá Đông, làm căn nhà cao chân đầu tiên ở mỏm Đông của Đá Đông, kéo cờ lên khẳng định chủ quyền.

Nhưng Trung Quốc cũng định đổ bộ lên phía bên kia, mỏm Tây của Đá Đông.

Tàu HQ-641 của mình lao lên đó, nên bên kia thôi. HQ-614 lao lên đó, nhưng chỉ kẹt, không hỏng tàu, sau cứu ra được. Tàu chiến của nó cứ quần liên tục ở bên ngoài.

Khi làm xong nhà cao chân ở Đá Đông, không có gì ăn, tôi phải đưa người ra tàu. Chuyến đầu ra được trót lọt, nhưng chuyến sau không được, sóng to.
Đành lội bộ về lại cái chòi cao chân đó, không có gì ăn, không có gì mặc. Ngày đó là 20/2/1988. Đó là mùng 4 Tết, cứ nghĩ có khi mình chết ở đây.

Nếu mình không nhanh ngày 19/2, có khi Trung Quốc lấy mất Đá Đông.

Nó định lên đầu Tây, tôi lệnh tàu HQ-614 lao lên để giữ đầu Tây.

Khi nó đưa pháo định bắn tàu mình, tôi bảo: "Thôi!. Đưa HQ-614 về để làm nhà trên Đá Đông ngay!".

Lên đó dựng 8 cái cột, tàu nó cũng về theo, nhưng thấy mình làm nhà cắm cờ trên đó rồi, nó lại thôi, không gây sự nữa. Nhưng mình mới cắm được cọc, dựng tạm nhà, chưa tiếp tế được thì sóng đánh tàu HQ-614 bật neo trôi ra, tôi phải nằm một đêm trên Đá Đông
Trong hơn 20 ngày thăm Trường Sa, đoàn ghé thăm 11 đảo: Đá Lát, Đá Đông, Núi Le, Tốc Tan, Tiên Nữ, Trường Sa Lớn, Phan Vinh, Thuyền Chài, Trường sa Đông … Dịp đó trời yên biển lặng, mặt biển mênh mông xanh ngắt. 

Điểm đến đầu tiên trong hành trình là Đá Lát. Hai chú cảnh vệ đã có mặt từ sớm, vẫy đuôi chào khách
Trong hơn 20 ngày thăm Trường Sa, đoàn ghé thăm 11 đảo: Đá Lát, Đá Đông, Núi Le, Tốc Tan, Tiên Nữ, Trường Sa Lớn, Phan Vinh, Thuyền Chài, Trường sa Đông … Dịp đó trời yên biển lặng, mặt biển mênh mông xanh ngắt.

Điểm đến đầu tiên trong hành trình là Đá Lát. Hai chú cảnh vệ đã có mặt từ sớm, vẫy đuôi chào khách
Tàu HQ-861 là tàu quét mìn project 1265E có trọng tải hơn 400 tấn được sản xuất ở Liên xô và nhận từ năm 1985.
Tàu HQ-861 là tàu quét mìn project 1265E có trọng tải hơn 400 tấn được sản xuất ở Liên xô và nhận từ năm 1985.
HS Tàu HQ 931 đưa các thương binh và chiến sĩ trong trận Gạc Ma về đất liền. Ảnh tư liệu.
Posted by Admin ĐN
HS Tàu HQ 931 đưa các thương binh và chiến sĩ trong trận Gạc Ma về đất liền. Ảnh tư liệu.
Posted by Admin ĐN
9 tù binh Hải Quân Việt Nam bị TQ bắt trong trận hải chiến.
Posted by Admin ĐN
9 tù binh Hải Quân Việt Nam bị TQ bắt trong trận hải chiến.
Posted by Admin ĐN
Tàu HQ-505 chạy vào bãi đảo Co Lin.  Tàu bị bắn cháy, nhưng những chiến sĩ Hải Quân đã dùng tàu này làm đồn vững chắc để bảo vệ đảo.  Hình của Tuổi Trẻ. 
Posted by Admin
Tàu HQ-505 chạy vào bãi đảo Co Lin. Tàu bị bắn cháy, nhưng những chiến sĩ Hải Quân đã dùng tàu này làm đồn vững chắc để bảo vệ đảo. Hình của Tuổi Trẻ.
Posted by Admin
Loạt đạn đầu tiên từ súng 37ly của hải quân TQ bắn thẳng vào những chiến sĩ Hải quân công binh Việt Nam dầm mình trong nước tay không giữ đảo.
Posted by Admin ĐN
Loạt đạn đầu tiên từ súng 37ly của hải quân TQ bắn thẳng vào những chiến sĩ Hải quân công binh Việt Nam dầm mình trong nước tay không giữ đảo.
Posted by Admin ĐN
Đồ dùng plastic, dép, chén, quần áo, và vũ khí tìm được từ tàu HQ-604 vào năm 2008.  Hình của Tuổi Trẻ.
Đồ dùng plastic, dép, chén, quần áo, và vũ khí tìm được từ tàu HQ-604 vào năm 2008. Hình của Tuổi Trẻ.
Trương Văn Hiền kể anh đứng gần chiếc xuồng này.
Posted by Admin ĐN
Trương Văn Hiền kể anh đứng gần chiếc xuồng này.
Posted by Admin ĐN
Anh Trương Văn Hiền.
Posted by Admin ĐN
Anh Trương Văn Hiền.
Posted by Admin ĐN
* Hình ảnh và lời bình từ phía báo chí Trung Quốc 

Cuối cùng vào lúc 8h58 phút là sự im lặng của chiếc tàu hùng mạnh của địch(Tức là tàu của Việt Nam, tuy nhiên tàu của ta chỉ là tàu vận tải, ko thể coi là mạnh)
với chỉ 9 người sống sót và sau đó bị bắt
* Hình ảnh và lời bình từ phía báo chí Trung Quốc

Cuối cùng vào lúc 8h58 phút là sự im lặng của chiếc tàu hùng mạnh của địch(Tức là tàu của Việt Nam, tuy nhiên tàu của ta chỉ là tàu vận tải, ko thể coi là mạnh)
với chỉ 9 người sống sót và sau đó bị bắt
Đảo Đá Lát xưa và nay
Đảo Đá Lát xưa và nay
Kịch liệt phản đối nhà cầm quyền Trung Quốc xâm phạm vùng biển Trường Sa của Việt Nam.
Kịch liệt phản đối nhà cầm quyền Trung Quốc xâm phạm vùng biển Trường Sa của Việt Nam.
Hình ảnh và lời bình từ phía báo chí Trung Quốc
Lúc 08:47 ngày 14/3/1988 binh lính Việt Nam bất ngờ nổ súng trên rạn san hô
Hình ảnh và lời bình từ phía báo chí Trung Quốc
Lúc 08:47 ngày 14/3/1988 binh lính Việt Nam bất ngờ nổ súng trên rạn san hô
Kịch liệt phản đối nhà cầm quyền Trung Quốc xâm phạm vùng biển Trường Sa của Việt Nam.
Kịch liệt phản đối nhà cầm quyền Trung Quốc xâm phạm vùng biển Trường Sa của Việt Nam.
Bên trái là những gì còn lại của phần mũi tàu Tuscany,bị bão đánh lên đảo rồi mắc cạn từ năm 1962, không hiểu từ đâu các chiến sĩ ta cho rằng đây là chiếc tàu ma có từ thời Pháp. "Ma" vì bất kỳ chiếc tàu nào định kéo nó đi cũng sẽ bị mắc cạn. (?) 

Thật ra vì chiếc tàu này nằm quá sâu trong đảo nên mọi nổ lực cứu nó đều vô vọng. Ngay từ năm 1962 chủ tàu đã đành phải bỏ tàu vì không có cách nào kéo nó trở lại với biển .
Bên trái là những gì còn lại của phần mũi tàu Tuscany,bị bão đánh lên đảo rồi mắc cạn từ năm 1962, không hiểu từ đâu các chiến sĩ ta cho rằng đây là chiếc tàu ma có từ thời Pháp. "Ma" vì bất kỳ chiếc tàu nào định kéo nó đi cũng sẽ bị mắc cạn. (?)

Thật ra vì chiếc tàu này nằm quá sâu trong đảo nên mọi nổ lực cứu nó đều vô vọng. Ngay từ năm 1962 chủ tàu đã đành phải bỏ tàu vì không có cách nào kéo nó trở lại với biển .
* Hình ảnh và lời bình từ phía báo chí Trung Quốc 

Hải quân Trung Quốc trong trận hải chiến đã dùng pháo 100 mm bắn vào con tàu Việt Nam HQ-505
* Hình ảnh và lời bình từ phía báo chí Trung Quốc

Hải quân Trung Quốc trong trận hải chiến đã dùng pháo 100 mm bắn vào con tàu Việt Nam HQ-505
Kịch liệt phản đối nhà cầm quyền Trung Quốc xâm phạm vùng biển Trường Sa của Việt Nam.
Kịch liệt phản đối nhà cầm quyền Trung Quốc xâm phạm vùng biển Trường Sa của Việt Nam.
Tháng 4/1978, 1 phân đội được đưa ra đóng giữ đảo Thuyền Chài, nhưng do điều kiện vật chất chưa bảo đảm nên tháng 5/1978 phân đội được rút về đất liền.

Ngày 6/4/1983, ông Hồ Ngọc Nhường - Chủ tịch UBND tỉnh Phú Khánh dẫn đầu đoàn công tác của tỉnh ra thăm và đặt mốc chủ quyền Việt Nam trên đảo Thuyền Chài. Từ tháng 1/1987 đến giữa năm 1987, việc xây dựng nhà lâu bền trên đảo Thuyền Chài được hoàn thành.

Từ trái qua phải, một nhà cao cẳng nối với nhà xây lâu bền thế hệ thứ nhất bằng một chiếc cầu ghi sắt; một pông-tông mà anh em thường gọi là "căn cứ nổi" được gắn chặt với nền san hô ngầm bằng những chiếc neo, mỗi neo nặng 1 tấn. Trên căn cứ nổi có đủ phòng ở, khoang chứa thực phẩm, cột cờ, sân chơi và trận địa chiến đấu cùng nhiều thiết bị phục vụ sinh hoạt.
Tháng 4/1978, 1 phân đội được đưa ra đóng giữ đảo Thuyền Chài, nhưng do điều kiện vật chất chưa bảo đảm nên tháng 5/1978 phân đội được rút về đất liền.

Ngày 6/4/1983, ông Hồ Ngọc Nhường - Chủ tịch UBND tỉnh Phú Khánh dẫn đầu đoàn công tác của tỉnh ra thăm và đặt mốc chủ quyền Việt Nam trên đảo Thuyền Chài. Từ tháng 1/1987 đến giữa năm 1987, việc xây dựng nhà lâu bền trên đảo Thuyền Chài được hoàn thành.

Từ trái qua phải, một nhà cao cẳng nối với nhà xây lâu bền thế hệ thứ nhất bằng một chiếc cầu ghi sắt; một pông-tông mà anh em thường gọi là "căn cứ nổi" được gắn chặt với nền san hô ngầm bằng những chiếc neo, mỗi neo nặng 1 tấn. Trên căn cứ nổi có đủ phòng ở, khoang chứa thực phẩm, cột cờ, sân chơi và trận địa chiến đấu cùng nhiều thiết bị phục vụ sinh hoạt.
Hơn 40 binh lính Việt Nam từ tàu vũ trang HQ504 đổ bộ lên Gạc Ma để xây căn cứ, thượng cờ Việt Nam (Ảnh do Trung Quốc chụp)
Hơn 40 binh lính Việt Nam từ tàu vũ trang HQ504 đổ bộ lên Gạc Ma để xây căn cứ, thượng cờ Việt Nam (Ảnh do Trung Quốc chụp)
Theo đúng quy định của quân đội, phía TQ thả ca nô vào đảo với một đội quân đặc nhiệm hải quân để "trục xuất quân xâm lược" (dịch theo chữ của báo chí Trung Quốc) tức là để tấn công Việt Nam.
Theo đúng quy định của quân đội, phía TQ thả ca nô vào đảo với một đội quân đặc nhiệm hải quân để "trục xuất quân xâm lược" (dịch theo chữ của báo chí Trung Quốc) tức là để tấn công Việt Nam.
13 giờ ngày 15/5/1988, tại tọa độ 112 độ 52 phút kinh đông- 8 dộ 46 phút vĩ bắc, phía nam đá Châu Viên, 2 tàu chiến Trung quốc ( Trong đó có một tàu số hiệu 677 ) xâm phạm chủ quyền Việt Nam, ngăn cản các tàu của Việt Nam đang hoạt động bình thường.
13 giờ ngày 15/5/1988, tại tọa độ 112 độ 52 phút kinh đông- 8 dộ 46 phút vĩ bắc, phía nam đá Châu Viên, 2 tàu chiến Trung quốc ( Trong đó có một tàu số hiệu 677 ) xâm phạm chủ quyền Việt Nam, ngăn cản các tàu của Việt Nam đang hoạt động bình thường.
Pháo trên tàu Trung Quốc. Binh lính Trung Quốc tập làm quen với cái nóng 40*
Pháo trên tàu Trung Quốc. Binh lính Trung Quốc tập làm quen với cái nóng 40*
Tưởng niệm các chiến sĩ đã hy sinh trong trận hải chiến Trường Sa.
Posted by Admin ĐN
Tưởng niệm các chiến sĩ đã hy sinh trong trận hải chiến Trường Sa.
Posted by Admin ĐN
Tạm biệt những người anh hùng trẻ tuổi đảo Đá Lát.
Tạm biệt những người anh hùng trẻ tuổi đảo Đá Lát.
Lô cốt lớn nhất quần đảo Trường sa nằm ở cuối đảo Phan Vinh.
Lô cốt lớn nhất quần đảo Trường sa nằm ở cuối đảo Phan Vinh.
Giấy báo tử một chiến sĩ hải quân Việt Nam ở đơn vị đảo Gạc Ma
Giấy báo tử một chiến sĩ hải quân Việt Nam ở đơn vị đảo Gạc Ma
Hài cốt của những người lính Việt Nam bị Trung Quốc giết hại trên đảo Gạc Ma (Trường Sa) ngày 14/3/1988, được vớt lên từ tàu HQ-604 sau 21 năm nằm dưới đáy biển.
Hài cốt của những người lính Việt Nam bị Trung Quốc giết hại trên đảo Gạc Ma (Trường Sa) ngày 14/3/1988, được vớt lên từ tàu HQ-604 sau 21 năm nằm dưới đáy biển.
Tàu vận tải HQ-505 của Hải quân Việt Nam.

Tại đảo Cô Lin, lúc 6 giờ sáng ngày 14-3-1988, tàu HQ-505 của Việt Nam đã cắm 2 lá cờ Tổ quốc trên đảo. Khi HQ-604 bị trúng đạn và đang chìm dần xuống biển, thuyền trưởng HQ-505 cho tàu nhổ neo, phóng hết tốc độ ủi lên bãi. Phát hiện tàu VN đang chuẩn bị ủi bãi, hai tàu Trung Quốc quay sang tấn công, ngăn cản. Bất chấp hiểm nguy, HQ-505 lao hết tốc độ ủi được hai phần ba thân tàu lên bãi đảo Cô Lin thì bị trúng đạn bốc cháy. Lúc 8 giờ 15 phút, các chiến sỹ tàu HQ-505 vừa triển khai lực lượng cứu tàu, bảo vệ đảo, vừa đưa xuồng tới cứu cán bộ, chiến sỹ tàu HQ-604 đang bị chìm. 

Tại đảo Len Đao, lúc 8 giờ 20 phút sáng ngày 14-3-1988, tàu Trung Quốc đã nã pháo dữ đội vào HQ-605 của Việt Nam, làm tàu này bốc cháy và bị chìm lúc 6 giờ ngày 15-3-1988. Cán bộ, chiến sỹ của tàu dìu nhau bơi về hướng đảo Sinh Tồn.
Tàu vận tải HQ-505 của Hải quân Việt Nam.

Tại đảo Cô Lin, lúc 6 giờ sáng ngày 14-3-1988, tàu HQ-505 của Việt Nam đã cắm 2 lá cờ Tổ quốc trên đảo. Khi HQ-604 bị trúng đạn và đang chìm dần xuống biển, thuyền trưởng HQ-505 cho tàu nhổ neo, phóng hết tốc độ ủi lên bãi. Phát hiện tàu VN đang chuẩn bị ủi bãi, hai tàu Trung Quốc quay sang tấn công, ngăn cản. Bất chấp hiểm nguy, HQ-505 lao hết tốc độ ủi được hai phần ba thân tàu lên bãi đảo Cô Lin thì bị trúng đạn bốc cháy. Lúc 8 giờ 15 phút, các chiến sỹ tàu HQ-505 vừa triển khai lực lượng cứu tàu, bảo vệ đảo, vừa đưa xuồng tới cứu cán bộ, chiến sỹ tàu HQ-604 đang bị chìm.

Tại đảo Len Đao, lúc 8 giờ 20 phút sáng ngày 14-3-1988, tàu Trung Quốc đã nã pháo dữ đội vào HQ-605 của Việt Nam, làm tàu này bốc cháy và bị chìm lúc 6 giờ ngày 15-3-1988. Cán bộ, chiến sỹ của tàu dìu nhau bơi về hướng đảo Sinh Tồn.
Các chiến sĩ trên tàu HQ-604 bị hải quân Trung Quốc bắn chìm ngày 14.3.1988 được đồng đội ứng cứu (Ảnh do đại tá Trần Minh Cảnh cung cấp).
Các chiến sĩ trên tàu HQ-604 bị hải quân Trung Quốc bắn chìm ngày 14.3.1988 được đồng đội ứng cứu (Ảnh do đại tá Trần Minh Cảnh cung cấp).
Thiếu úy Trần Văn Phương (1965 – 14/3/1988) bị lính Trung Quốc bắn chết tại đá Gạc Ma trong Hải chiến Trường Sa 1988.

Câu nói cuối cùng của ông: "Thà hy sinh chứ không chịu mất đảo. Hãy để cho máu của mình tô thắm lá cờ truyền thống của Quân chủng hải quân anh hùng."
Thiếu úy Trần Văn Phương (1965 – 14/3/1988) bị lính Trung Quốc bắn chết tại đá Gạc Ma trong Hải chiến Trường Sa 1988.

Câu nói cuối cùng của ông: "Thà hy sinh chứ không chịu mất đảo. Hãy để cho máu của mình tô thắm lá cờ truyền thống của Quân chủng hải quân anh hùng."
Liệt sỹ Lê Văn Xanh là lính công binh E83 ,quê Đà Nẵng, hy sinh ngày 14/3/88 tại đảo Gạc Ma (Trường Sa)
Nguồn ảnh từ ông  Lê Hữu Thảo - người đồng đội sống sót sau trận chiến.
Liệt sỹ Lê Văn Xanh là lính công binh E83 ,quê Đà Nẵng, hy sinh ngày 14/3/88 tại đảo Gạc Ma (Trường Sa)
Nguồn ảnh từ ông Lê Hữu Thảo - người đồng đội sống sót sau trận chiến.
Bia ghi tên các Liệt sĩ đã hy sinh trong khi bảo vệ Trường Sa.

Danh sách 131 người lính hải quân hy sinh, đặc biệt là 64 người ngã xuống trong ngày 14-3-1988.

Những năm gần đây vẫn có nhiều người lính lặng lẽ nằm xuống trong khi làm nhiệm vụ bảo vệ quần đảo Trường Sa, họ đều rất trẻ tuổi đời, trẻ tuổi quân và hết thảy đều chưa có vợ con.
Một số người đã được đưa về đất liền với bố mẹ, người thân, xóm giềng, một số vẫn phải nằm lại trên các đảo nổi cùng đồng đội. 
Nhiều người vẫn đang nằm dưới lòng biển sâu khi chiến đấu với quân Trung Quốc, trong khi bảo vệ chủ quyền Tổ quốc trên vùng biển Cô Lin – Gạc Ma (ngày 14-3-1988).
Bia ghi tên các Liệt sĩ đã hy sinh trong khi bảo vệ Trường Sa.

Danh sách 131 người lính hải quân hy sinh, đặc biệt là 64 người ngã xuống trong ngày 14-3-1988.

Những năm gần đây vẫn có nhiều người lính lặng lẽ nằm xuống trong khi làm nhiệm vụ bảo vệ quần đảo Trường Sa, họ đều rất trẻ tuổi đời, trẻ tuổi quân và hết thảy đều chưa có vợ con.
Một số người đã được đưa về đất liền với bố mẹ, người thân, xóm giềng, một số vẫn phải nằm lại trên các đảo nổi cùng đồng đội.
Nhiều người vẫn đang nằm dưới lòng biển sâu khi chiến đấu với quân Trung Quốc, trong khi bảo vệ chủ quyền Tổ quốc trên vùng biển Cô Lin – Gạc Ma (ngày 14-3-1988).
Bia ghi tên các Liệt sĩ đã hy sinh trong khi bảo vệ Trường Sa.

Danh sách 131 người lính hải quân hy sinh, đặc biệt là 64 người ngã xuống trong ngày 14-3-1988.

Những năm gần đây vẫn có nhiều người lính lặng lẽ nằm xuống trong khi làm nhiệm vụ bảo vệ quần đảo Trường Sa, họ đều rất trẻ tuổi đời, trẻ tuổi quân và hết thảy đều chưa có vợ con.
Một số người đã được đưa về đất liền với bố mẹ, người thân, xóm giềng, một số vẫn phải nằm lại trên các đảo nổi cùng đồng đội. 
Nhiều người vẫn đang nằm dưới lòng biển sâu khi chiến đấu với quân Trung Quốc, trong khi bảo vệ chủ quyền Tổ quốc trên vùng biển Cô Lin – Gạc Ma (ngày 14-3-1988).
Bia ghi tên các Liệt sĩ đã hy sinh trong khi bảo vệ Trường Sa.

Danh sách 131 người lính hải quân hy sinh, đặc biệt là 64 người ngã xuống trong ngày 14-3-1988.

Những năm gần đây vẫn có nhiều người lính lặng lẽ nằm xuống trong khi làm nhiệm vụ bảo vệ quần đảo Trường Sa, họ đều rất trẻ tuổi đời, trẻ tuổi quân và hết thảy đều chưa có vợ con.
Một số người đã được đưa về đất liền với bố mẹ, người thân, xóm giềng, một số vẫn phải nằm lại trên các đảo nổi cùng đồng đội.
Nhiều người vẫn đang nằm dưới lòng biển sâu khi chiến đấu với quân Trung Quốc, trong khi bảo vệ chủ quyền Tổ quốc trên vùng biển Cô Lin – Gạc Ma (ngày 14-3-1988).
Bia ghi tên các Liệt sĩ đã hy sinh trong khi bảo vệ Trường Sa.

Danh sách 131 người lính hải quân hy sinh, đặc biệt là 64 người ngã xuống trong ngày 14-3-1988.

Những năm gần đây vẫn có nhiều người lính lặng lẽ nằm xuống trong khi làm nhiệm vụ bảo vệ quần đảo Trường Sa, họ đều rất trẻ tuổi đời, trẻ tuổi quân và hết thảy đều chưa có vợ con.
Một số người đã được đưa về đất liền với bố mẹ, người thân, xóm giềng, một số vẫn phải nằm lại trên các đảo nổi cùng đồng đội. 
Nhiều người vẫn đang nằm dưới lòng biển sâu khi chiến đấu với quân Trung Quốc, trong khi bảo vệ chủ quyền Tổ quốc trên vùng biển Cô Lin – Gạc Ma (ngày 14-3-1988).
Bia ghi tên các Liệt sĩ đã hy sinh trong khi bảo vệ Trường Sa.

Danh sách 131 người lính hải quân hy sinh, đặc biệt là 64 người ngã xuống trong ngày 14-3-1988.

Những năm gần đây vẫn có nhiều người lính lặng lẽ nằm xuống trong khi làm nhiệm vụ bảo vệ quần đảo Trường Sa, họ đều rất trẻ tuổi đời, trẻ tuổi quân và hết thảy đều chưa có vợ con.
Một số người đã được đưa về đất liền với bố mẹ, người thân, xóm giềng, một số vẫn phải nằm lại trên các đảo nổi cùng đồng đội.
Nhiều người vẫn đang nằm dưới lòng biển sâu khi chiến đấu với quân Trung Quốc, trong khi bảo vệ chủ quyền Tổ quốc trên vùng biển Cô Lin – Gạc Ma (ngày 14-3-1988).
Công điện ngày 11/3/1988 của Tư lệnh Hải quân Việt Nam chỉ đạo tàu HQ 605 chiếm lĩnh các đảo Gạc Ma, Cô Lin, Len Đao.
Công điện ngày 11/3/1988 của Tư lệnh Hải quân Việt Nam chỉ đạo tàu HQ 605 chiếm lĩnh các đảo Gạc Ma, Cô Lin, Len Đao.
Nhà đá chẻ trên đảo.
Nhà đá chẻ trên đảo.
Một tháng sau trận hải chiến, bộ đội trên tàu hải quân, được trang bị súng DKZ
Một tháng sau trận hải chiến, bộ đội trên tàu hải quân, được trang bị súng DKZ
Đô đốc Giáp Văn Cương
Đô đốc Giáp Văn Cương
Bài báo ngày 28/3-1988 đăng trên báo Thanh Niên.
Bài báo ngày 28/3-1988 đăng trên báo Thanh Niên.
Bia liệt sỹ Nguyễn Thanh Hải (20 tuổi) hy sinh trong trận Hải Chiến Trường Sa 14.3.1988 bị viết sai thành 04.3.1988. Liệt sỹ Nguyễn Thanh Hải là 1 trong 8 liệt sỹ được vớt trong con tàu đắm vào năm 2008.
--- 
14/03/1988, 64 chiến sỹ hi sinh ở Gạc Ma. Chỉ có 8 người được đồng đội kịp mang xác về. 56 người nằm lại.

Năm 2008, tàu cá của ngư dân Lý Sơn phát hiện một con tàu bị chìm ở gần Gạc Ma và có 8 xác người dưới đó. Sau 2 năm giám định ADN, họ lần lượt được đưa về với gia đình. Chẳng có một lễ đón rình rang nào. Chẳng có một dòng tin trên báo chí. 

48 người vẫn nằm lại trên biển cả. Không biết bao giờ về. 
Câu chuyện về 8 liệt sỹ trở về sau hơn 20 năm nằm dưới đáy biển chỉ được biết qua lời kể của gia đình. 

(facebooker Trịnh Anh Tuấn (Gió Lang Thang)
Bia liệt sỹ Nguyễn Thanh Hải (20 tuổi) hy sinh trong trận Hải Chiến Trường Sa 14.3.1988 bị viết sai thành 04.3.1988. Liệt sỹ Nguyễn Thanh Hải là 1 trong 8 liệt sỹ được vớt trong con tàu đắm vào năm 2008.
---
14/03/1988, 64 chiến sỹ hi sinh ở Gạc Ma. Chỉ có 8 người được đồng đội kịp mang xác về. 56 người nằm lại.

Năm 2008, tàu cá của ngư dân Lý Sơn phát hiện một con tàu bị chìm ở gần Gạc Ma và có 8 xác người dưới đó. Sau 2 năm giám định ADN, họ lần lượt được đưa về với gia đình. Chẳng có một lễ đón rình rang nào. Chẳng có một dòng tin trên báo chí.

48 người vẫn nằm lại trên biển cả. Không biết bao giờ về.
Câu chuyện về 8 liệt sỹ trở về sau hơn 20 năm nằm dưới đáy biển chỉ được biết qua lời kể của gia đình.

(facebooker Trịnh Anh Tuấn (Gió Lang Thang)
Bài báo gây nhiều bức xúc trong dư luận khi sự hy sinh của các liệt sĩ trên đảo Gạc Ma ngày 14.3.1988 bị xem như một tai nạn.

"BỘ NGOẠI GIAO TA YÊU CẦU PHÍA TRUNG QUỐC TRAO TRẢ SỚM CÁC THỦY THỦ BỊ NẠN TRONG SỰ KIỆN 14.3.1988 TẠI QUẦN ĐẢO TRƯỜNG SA"
(Bài viết trên Báo Sài Gòn Giải Phóng, Số 3957, ngày 2.4.1988)
Bài báo gây nhiều bức xúc trong dư luận khi sự hy sinh của các liệt sĩ trên đảo Gạc Ma ngày 14.3.1988 bị xem như một tai nạn.

"BỘ NGOẠI GIAO TA YÊU CẦU PHÍA TRUNG QUỐC TRAO TRẢ SỚM CÁC THỦY THỦ BỊ NẠN TRONG SỰ KIỆN 14.3.1988 TẠI QUẦN ĐẢO TRƯỜNG SA"
(Bài viết trên Báo Sài Gòn Giải Phóng, Số 3957, ngày 2.4.1988)

Xem Thêm