Hội quán Phước An - Chùa Minh Hương

Nhắc tới Sài Gòn, người ta không thể nào không nhắc đến bộ phận người Hoa ở nơi đây. Có mặt từ rất sớm, cộng đồng người Hoa đã góp phần rất lớn trong việc phát triển kinh tế, văn hoá,... của Sài Gòn từ xưa đến nay. Một điểm đặc trưng của cộng đồng người Hoa là các đình, đền, chùa, miếu và hệ thống các hội quán phân bố rộng khắp. @[369281733160321:274:Sài Gòn Năm Xưa] mạn phép được giới thiệu với quý bạn về Hội quán Phước An - Chùa Mnh Hương, q5.

Tổng hợp: [NCT]

Nguồn:
- http://kienthuc.net.vn/thien/chua-ong-su-linh-ung-giua-long-pho-thi-241207.html
- http://sgtt.vn/Kien-truc-doi-song/Chi-tiet/168111/Di-san-o-Cho-Lon.html
- http://trucnhatphi.wordpress.com/2008/01/31/bia-ch%E1%BB%AF-han-trong-h%E1%BB%99i-quan-ng%C6%B0%E1%BB%9Di-hoa-t%E1%BA%A1i-thanh-ph%E1%BB%91-h%E1%BB%93-chi-minh-1/
- http://www.ttvhq5.com.vn/newsdetail107_964_hoiquanphuocanchuaminhhuong.asp
- http://vi.wikipedia.org/wiki/Quan_V%C5%A9
Hội quán là do các thương nhân đi xa buôn bán xây dựng để làm nơi hội họp, trú ngụ của đồng hương. Các hội quán ở Trung Hoa trước kia chủ yếu do thương nhân xây dựng, mục đích là giúp những người đồng hương buôn bán xa nhà có nơi cư trú, đồng thời cùng nhau hội họp, gắn bó tình cảm, tiện cho việc đoàn kết tương trợ, hợp tác buôn bán. Hội quán là tổ chức theo khu vực do thương nhân thành lập, chức năng chủ yếu là làm việc liên lạc và công ích cho người đồng hương. Qua Việt Nam, tổ chức này dần dần nhất hóa vào với bang. Một hội quán bất kể do một hay nhiều thương nhân xây dựng thì về sau cũng dần dần trở thành trụ sở chung của bang không phân biệt nghề nghiệp, mặc dù trên thực tế thì nó vẫn hoạt động chủ yếu dưới sự chi phối và trước hết vì lợi ích của các thương nhân. Nói tóm lại, ở Việt Nam hội quán là tổ chức có thực lực kinh tế mạnh nhất trong bang nên đã dần dần trở thành đại diện của bang, và trụ sở của nó cũng đồng thời trở thành trụ sở chung của bang.
Hội quán là do các thương nhân đi xa buôn bán xây dựng để làm nơi hội họp, trú ngụ của đồng hương. Các hội quán ở Trung Hoa trước kia chủ yếu do thương nhân xây dựng, mục đích là giúp những người đồng hương buôn bán xa nhà có nơi cư trú, đồng thời cùng nhau hội họp, gắn bó tình cảm, tiện cho việc đoàn kết tương trợ, hợp tác buôn bán. Hội quán là tổ chức theo khu vực do thương nhân thành lập, chức năng chủ yếu là làm việc liên lạc và công ích cho người đồng hương. Qua Việt Nam, tổ chức này dần dần nhất hóa vào với bang. Một hội quán bất kể do một hay nhiều thương nhân xây dựng thì về sau cũng dần dần trở thành trụ sở chung của bang không phân biệt nghề nghiệp, mặc dù trên thực tế thì nó vẫn hoạt động chủ yếu dưới sự chi phối và trước hết vì lợi ích của các thương nhân. Nói tóm lại, ở Việt Nam hội quán là tổ chức có thực lực kinh tế mạnh nhất trong bang nên đã dần dần trở thành đại diện của bang, và trụ sở của nó cũng đồng thời trở thành trụ sở chung của bang.
Hội quán Phước An – 184 Hồng Bàng, quận 5, TP.HCM, được xây dựng trên cơ sở vật chất của nguyên Hội quán An Hoà (còn gọi là An Hoà cổ miếu, thờ Quan đế Thánh quân) từ năm 1902, còn được gọi là chùa Minh Hương. Với lối kiến trúc chủ yếu bằng gốm và gỗ, trên đỉnh là mô hình phù điêu thu nhỏ bằng gốm sứ và phù điêu nghệ thuật cổng Tam quan, những hoa văn khu chính điện, liễn xưa có giá trị. Chùa Minh Hương còn giữ nguyên phong cách cổ kính trang nhã, đồng thời còn truyền tải nhiều giá trị văn hoá lịch sử của những người Minh Hương có nguồn gốc bảy phủ thuộc ba tỉnh Quảng Đông, Phước Kiến, Chiết Giang, Trung Quốc đã sinh cơ lập nghiệp tại vùng đất Chợ Lớn xưa.
Hội quán Phước An – 184 Hồng Bàng, quận 5, TP.HCM, được xây dựng trên cơ sở vật chất của nguyên Hội quán An Hoà (còn gọi là An Hoà cổ miếu, thờ Quan đế Thánh quân) từ năm 1902, còn được gọi là chùa Minh Hương. Với lối kiến trúc chủ yếu bằng gốm và gỗ, trên đỉnh là mô hình phù điêu thu nhỏ bằng gốm sứ và phù điêu nghệ thuật cổng Tam quan, những hoa văn khu chính điện, liễn xưa có giá trị. Chùa Minh Hương còn giữ nguyên phong cách cổ kính trang nhã, đồng thời còn truyền tải nhiều giá trị văn hoá lịch sử của những người Minh Hương có nguồn gốc bảy phủ thuộc ba tỉnh Quảng Đông, Phước Kiến, Chiết Giang, Trung Quốc đã sinh cơ lập nghiệp tại vùng đất Chợ Lớn xưa.
Hội quán Phước An được xếp hạng di tích kiến trúc nghệ thuật cấp Thành phố theo quyết định số 1767/QĐ-UBND ngày 27/4/2009 của UBND thành phố Hồ Chí Minh.
Hội quán Phước An được xếp hạng di tích kiến trúc nghệ thuật cấp Thành phố theo quyết định số 1767/QĐ-UBND ngày 27/4/2009 của UBND thành phố Hồ Chí Minh.
Tranh tượng phù điêu tại cổng Tam Quang, mái các bảng bức nghi môn, bao lam, bình phong ở tiền điện
Tranh tượng phù điêu tại cổng Tam Quang, mái các bảng bức nghi môn, bao lam, bình phong ở tiền điện
Nhiều bức hoành phi nói về Quan Công (trong đó có bức hoành phi do Tổng đốc Toàn quyền Đông Dương Thống soái Nam Kỳ tặng)
Nhiều bức hoành phi nói về Quan Công (trong đó có bức hoành phi do Tổng đốc Toàn quyền Đông Dương Thống soái Nam Kỳ tặng)
Quan Vũ (關羽, 162? - 219), cũng được gọi là Quan Công (關公), tự là Vân Trường (雲長), Trường Sinh (長生) là một vị tướng thời kỳ cuối nhà Đông Hán và thời Tam Quốc ở Trung Quốc. Ông là người đã góp công lớn vào việc thành lập nhà Thục Hán, với vị hoàng đế đầu tiên là Lưu Bị. Ông cũng là người đứng đầu trong số ngũ hổ tướng của nhà Thục Hán theo cách nói của tiểu thuyết Tam Quốc diễn nghĩa, bao gồm: Quan Vũ, Trương Phi, Triệu Vân, Hoàng Trung và Mã Siêu. Ông là anh em kết nghĩa với Lưu Bị và Trương Phi.
Quan Vũ (關羽, 162? - 219), cũng được gọi là Quan Công (關公), tự là Vân Trường (雲長), Trường Sinh (長生) là một vị tướng thời kỳ cuối nhà Đông Hán và thời Tam Quốc ở Trung Quốc. Ông là người đã góp công lớn vào việc thành lập nhà Thục Hán, với vị hoàng đế đầu tiên là Lưu Bị. Ông cũng là người đứng đầu trong số ngũ hổ tướng của nhà Thục Hán theo cách nói của tiểu thuyết Tam Quốc diễn nghĩa, bao gồm: Quan Vũ, Trương Phi, Triệu Vân, Hoàng Trung và Mã Siêu. Ông là anh em kết nghĩa với Lưu Bị và Trương Phi.
Là một trong những nhân vật lịch sử của Trung Quốc được biết đến nhiều nhất ở khu vực Đông Á, hình tượng của ông đã được tiểu thuyết hóa trong Tam quốc diễn nghĩa của La Quán Trung và sau này được khắc họa trong các dạng hình nghệ thuật như kịch, chèo, tuồng, phim ảnh v.v với những chiến tích và phẩm chất đạo đức được đề cao cũng như được thần thánh hóa trong các câu chuyện dân gian, bắt đầu từ thời kỳ nhà Tùy (581-618). Ông cũng được thờ cúng ở nhiều nơi với tượng mặt đỏ, râu dài, tay cầm cây thanh long yển nguyệt và/hoặc cưỡi ngựa xích thố, đặc biệt là ở Hồng Kông. Tương truyền thanh long đao của ông nặng 82 cân (khoảng 40 kg ngày nay). Trong khi dân gian xem ông như một biểu tượng của tính hào hiệp, trượng nghĩa.
Là một trong những nhân vật lịch sử của Trung Quốc được biết đến nhiều nhất ở khu vực Đông Á, hình tượng của ông đã được tiểu thuyết hóa trong Tam quốc diễn nghĩa của La Quán Trung và sau này được khắc họa trong các dạng hình nghệ thuật như kịch, chèo, tuồng, phim ảnh v.v với những chiến tích và phẩm chất đạo đức được đề cao cũng như được thần thánh hóa trong các câu chuyện dân gian, bắt đầu từ thời kỳ nhà Tùy (581-618). Ông cũng được thờ cúng ở nhiều nơi với tượng mặt đỏ, râu dài, tay cầm cây thanh long yển nguyệt và/hoặc cưỡi ngựa xích thố, đặc biệt là ở Hồng Kông. Tương truyền thanh long đao của ông nặng 82 cân (khoảng 40 kg ngày nay). Trong khi dân gian xem ông như một biểu tượng của tính hào hiệp, trượng nghĩa.
Tượng thờ 5 bà Ngũ Hành.
Tượng thờ 5 bà Ngũ Hành.
Tượng thờ ông Bổn Địa.

* ông Bổn Địa là người coi sóc một vùng đất đai rộng lớn, ban phát lộc tài cho nhân gian.
Tượng thờ ông Bổn Địa.

* ông Bổn Địa là người coi sóc một vùng đất đai rộng lớn, ban phát lộc tài cho nhân gian.

Xem Thêm