Kể nhỏ nhau nghe

Vài mẫu thông tin nhỏ mà thú vị về Sài Gòn Năm Xưa được tổng hợp vào album này
Ngày 30 Tết, nói một xíu về nguồn gốc thịt kho tàu.

Các nhà nghiên cứu văn hóa Nam Bộ đều xác định món thịt heo kho với trứng vịt và nước dừa kia có nguồn gốc rặt ri Nam Bộ, không có bà con họ hàng với bất kỳ một món ăn nào tương tự ở xứ Trung Hoa.

Theo nhà văn Nam bộ Bình Nguyên Lộc thì chữ “tàu” ở đây với cách lý giải của “người miền dưới” là “lạt”. Ví như ta có sông Cái Tàu Thượng, Cái Tàu Hạ (những con sông này nằm ở khu vực U Minh, Cà Mau)…đó là những con sông nước lợ. Vậy ra thịt kho tàu là thịt kho lạt. Chính xác là vậy, bởi thịt kho tàu có kho đi kho lại nhiều lần thì cũng không bị “sắc nước” mà mặn.

[NCT]
Nguồn hình: proguide.vn
Ngày 30 Tết, nói một xíu về nguồn gốc thịt kho tàu.

Các nhà nghiên cứu văn hóa Nam Bộ đều xác định món thịt heo kho với trứng vịt và nước dừa kia có nguồn gốc rặt ri Nam Bộ, không có bà con họ hàng với bất kỳ một món ăn nào tương tự ở xứ Trung Hoa.

Theo nhà văn Nam bộ Bình Nguyên Lộc thì chữ “tàu” ở đây với cách lý giải của “người miền dưới” là “lạt”. Ví như ta có sông Cái Tàu Thượng, Cái Tàu Hạ (những con sông này nằm ở khu vực U Minh, Cà Mau)…đó là những con sông nước lợ. Vậy ra thịt kho tàu là thịt kho lạt. Chính xác là vậy, bởi thịt kho tàu có kho đi kho lại nhiều lần thì cũng không bị “sắc nước” mà mặn.

[NCT]
Nguồn hình: proguide.vn
Nhân ngày 23 tháng Chạp nói chuyện về ông Táo.

Theo tín ngường dân gian của Việt Nam, Táo quân bao gồm 3 vị thần: Thổ Công, Thổ Địa, Thổ Kỳ (Thổ Kỳ là nữ thần) - tương ứng với sự tích "Hai ông một bà":

Ngày xưa có hai vợ chồng nghèo đến nỗi phải bỏ nhau. Sau, người vợ lấy được người chồng khác giàu có. Một hôm cúng, đang đốt vàng mã ngoài sân, vô tình người chồng trước vào xin ăn, vợ nhận ra, động lòng thương cảm, đem cơm gạo tiền bạc ra cho. Người chồng sau biết chuyện, người vợ bèn lao đầu vào đống vàng cháy chết thiêu. Người chồng cũ cảm kích nhảy vào lửa chết theo. Chồng sau vì thương, nên cũng nhảy vào nốt. Cả ba đều chết cháy. Ngọc Hoàng thấy ba người có nghĩa, phong làm vua bếp. (Theo Nhất Thanh - "Đất lề quê thói")

Thổ Công: tên gọi đầy đủ là Đông Trù Tư Mệnh Táo Phủ Thần Quân - chuyên trông coi việc bếp núc, nhà cửa, số mệnh của gia chủ nên được coi là vị thần quan trọng nhất.
Thổ Địa: tên đầy đủ là Thổ Địa Long Mạch Tôn Thần - trông coi long mạch, đất đai nhà cửa.
Thổ Kỳ: tên đầy đủ là Ngũ Phương Ngũ Thổ Phước Đức Chánh Thần - chuyên cai quản chuyện tiền bạc, chợ búa.

Đó là tín ngưỡng thờ Táo quân của Việt Nam, còn ở Trung Quốc, Táo quân là tên gọi tắt của "Định Phúc Táo Quân" - vị thần có nhiệm vụ ghi chép lại mọi công, tội của gia chủ để cuối năm lên bẩm báo với Ngọc Hoàng.

Hình minh họa là một bức tranh thờ Táo quân đặc trưng của miền Bắc Việt Nam: bên trái là Thổ Công, chính giữa là Thổ Kỳ, bên phải là Thổ Địa.

[NCT]
Nhân ngày 23 tháng Chạp nói chuyện về ông Táo.

Theo tín ngường dân gian của Việt Nam, Táo quân bao gồm 3 vị thần: Thổ Công, Thổ Địa, Thổ Kỳ (Thổ Kỳ là nữ thần) - tương ứng với sự tích "Hai ông một bà":

Ngày xưa có hai vợ chồng nghèo đến nỗi phải bỏ nhau. Sau, người vợ lấy được người chồng khác giàu có. Một hôm cúng, đang đốt vàng mã ngoài sân, vô tình người chồng trước vào xin ăn, vợ nhận ra, động lòng thương cảm, đem cơm gạo tiền bạc ra cho. Người chồng sau biết chuyện, người vợ bèn lao đầu vào đống vàng cháy chết thiêu. Người chồng cũ cảm kích nhảy vào lửa chết theo. Chồng sau vì thương, nên cũng nhảy vào nốt. Cả ba đều chết cháy. Ngọc Hoàng thấy ba người có nghĩa, phong làm vua bếp. (Theo Nhất Thanh - "Đất lề quê thói")

Thổ Công: tên gọi đầy đủ là Đông Trù Tư Mệnh Táo Phủ Thần Quân - chuyên trông coi việc bếp núc, nhà cửa, số mệnh của gia chủ nên được coi là vị thần quan trọng nhất.
Thổ Địa: tên đầy đủ là Thổ Địa Long Mạch Tôn Thần - trông coi long mạch, đất đai nhà cửa.
Thổ Kỳ: tên đầy đủ là Ngũ Phương Ngũ Thổ Phước Đức Chánh Thần - chuyên cai quản chuyện tiền bạc, chợ búa.

Đó là tín ngưỡng thờ Táo quân của Việt Nam, còn ở Trung Quốc, Táo quân là tên gọi tắt của "Định Phúc Táo Quân" - vị thần có nhiệm vụ ghi chép lại mọi công, tội của gia chủ để cuối năm lên bẩm báo với Ngọc Hoàng.

Hình minh họa là một bức tranh thờ Táo quân đặc trưng của miền Bắc Việt Nam: bên trái là Thổ Công, chính giữa là Thổ Kỳ, bên phải là Thổ Địa.

[NCT]
Phá lấu là đọc theo phiên âm của người Tiều Châu, còn âm Hán Việt là đả lỗ. Lỗ là muối mặn, kho mặn. Đả lỗ là ướp mặn, làm cho mặn.

Nhiều tài liệu cho rằng món này được hình thành từ những lần cúng kiếng và giỗ chạp của người Tiều. Con heo cúng ăn không hết, để giữ được lâu ngày thì phải đem tẩm ướp sau bỏ vào nồi ăn dần.

Nồi nước phá lấu gồm các gia vị như ngũ vị hương, quế chi, bát giác, đại hồi, tiểu hồi cùng một số vị thuốc bắc. Còn phần thịt của heo bất cứ bộ phận nào cũng đều nấu phá lấu được, từ lưỡi, tai heo, ruột heo cho đến bao tử... Nồi phá lấu của người Tiều có thể để quanh năm suốt tháng, hết nước lại châm vào, rồi cho thêm chút muối là có thể ăn dần trong cả năm.

Cách ăn phá lấu này vẫn có thể tìm thấy ở xe bánh mì Tâm Ký trên đường Nguyễn Trãi (quận 05) khúc gần với Châu Văn Liêm, hay đặc biệt là tiệm cháo Tiều đường Hồng Bàng (quận 06). Ngoài ra, món phá lấu của người Tiều cũng có thể tìm thấy trong món hủ tiếu hồ trứ danh trong Chợ Lớn.

[NCT]
Nguồn hình: http://streetsidedining.files.wordpress.com/2011/12/img_0177.jpg
Phá lấu là đọc theo phiên âm của người Tiều Châu, còn âm Hán Việt là đả lỗ. Lỗ là muối mặn, kho mặn. Đả lỗ là ướp mặn, làm cho mặn.

Nhiều tài liệu cho rằng món này được hình thành từ những lần cúng kiếng và giỗ chạp của người Tiều. Con heo cúng ăn không hết, để giữ được lâu ngày thì phải đem tẩm ướp sau bỏ vào nồi ăn dần.

Nồi nước phá lấu gồm các gia vị như ngũ vị hương, quế chi, bát giác, đại hồi, tiểu hồi cùng một số vị thuốc bắc. Còn phần thịt của heo bất cứ bộ phận nào cũng đều nấu phá lấu được, từ lưỡi, tai heo, ruột heo cho đến bao tử... Nồi phá lấu của người Tiều có thể để quanh năm suốt tháng, hết nước lại châm vào, rồi cho thêm chút muối là có thể ăn dần trong cả năm.

Cách ăn phá lấu này vẫn có thể tìm thấy ở xe bánh mì Tâm Ký trên đường Nguyễn Trãi (quận 05) khúc gần với Châu Văn Liêm, hay đặc biệt là tiệm cháo Tiều đường Hồng Bàng (quận 06). Ngoài ra, món phá lấu của người Tiều cũng có thể tìm thấy trong món hủ tiếu hồ trứ danh trong Chợ Lớn.

[NCT]
Nguồn hình: http://streetsidedining.files.wordpress.com/2011/12/img_0177.jpg
Khi đi vào khu Chợ Lớn, ta dễ bắt gặp những dòng chữ bằng tiếng Hoa được người Hoa trên lên trước cửa nhà, vậy những chữ đó mang ý nghĩa gì?

Chữ thông dụng nhất là chữ "Ngũ phúc lâm môn", nghĩa là năm phúc đến trước nhà.

Phúc thứ nhất là trường thọ 
phúc thứ hai là phú quý 
phúc thứ ba là khang ninh 
phúc thứ tư là hiếu đức 
phúc thứ năm là thiện chung 

Trường thọ là không bị chết non, phúc thọ là lâu dài. Được ví trong tranh là biểu tượng của đứa trẻ nhỏ đứng bên cây tùng. Thể hiện cho sự thọ hưởng từ bé đến lớn không thay đổi. 

Phú quý là tiền của rất nhiều, địa vị tôn quý. Hoa mai được ví như một loài hoa thanh cao không dành riêng cho bất cứ địa vị nào. nhưng cái chất khoe sắc, um tùm, lộc biếc chồi xanh luôn trở mình vào đầu năm chính là điềm may mắn và cân bằng hơn khi một bé gái cầm nhánh mai này. Thế hiện cho phú quý cân bằng cùng càn khôn. 

Khang ninh là thân thể khoẻ mạnh, tâm hồn yên ổn. Có một cậu bé đứng tựa bên bụi tre thể hiện cho sự trẻ trung và bền vững. 

Hiếu đức là tính lương thiện, nhân hậu, bình tĩnh. Đóa hoa mẫu đơn thể hiện cho một sự rực rỡ khoe sắc được chú bé hái về dâng tặng các đấng sinh thành, như đã thể hiện rõ tính chất hiếu thuận, thiện lương của đức tính và tình cảm này 

Thiện chung là có thể tiên liệu thời kỳ chết của mình. Khi lâm chung không gặp tai họa, thân thể không đau đớn vì bệnh tật, trong lòng không vương vấn và phiền não, ôn hoà tự tại rời khỏi nhân gian. Đào tiên được xem là biểu tượng của sự trường thọ và tránh tai ách. Qua hình ảnh đứa bé ôm trái đào ta sẽ cảm nhận được sự trung thực, thánh thiện qua cuộc sống thường nhật. 

[NCT]
Nguồn hình: http://data.xzone.vn/Upload/267/Nam_2012/Thang_6/Ngay_11/phuc/nguphuc.jpg
Khi đi vào khu Chợ Lớn, ta dễ bắt gặp những dòng chữ bằng tiếng Hoa được người Hoa trên lên trước cửa nhà, vậy những chữ đó mang ý nghĩa gì?

Chữ thông dụng nhất là chữ "Ngũ phúc lâm môn", nghĩa là năm phúc đến trước nhà.

Phúc thứ nhất là trường thọ
phúc thứ hai là phú quý
phúc thứ ba là khang ninh
phúc thứ tư là hiếu đức
phúc thứ năm là thiện chung

Trường thọ là không bị chết non, phúc thọ là lâu dài. Được ví trong tranh là biểu tượng của đứa trẻ nhỏ đứng bên cây tùng. Thể hiện cho sự thọ hưởng từ bé đến lớn không thay đổi.

Phú quý là tiền của rất nhiều, địa vị tôn quý. Hoa mai được ví như một loài hoa thanh cao không dành riêng cho bất cứ địa vị nào. nhưng cái chất khoe sắc, um tùm, lộc biếc chồi xanh luôn trở mình vào đầu năm chính là điềm may mắn và cân bằng hơn khi một bé gái cầm nhánh mai này. Thế hiện cho phú quý cân bằng cùng càn khôn.

Khang ninh là thân thể khoẻ mạnh, tâm hồn yên ổn. Có một cậu bé đứng tựa bên bụi tre thể hiện cho sự trẻ trung và bền vững.

Hiếu đức là tính lương thiện, nhân hậu, bình tĩnh. Đóa hoa mẫu đơn thể hiện cho một sự rực rỡ khoe sắc được chú bé hái về dâng tặng các đấng sinh thành, như đã thể hiện rõ tính chất hiếu thuận, thiện lương của đức tính và tình cảm này

Thiện chung là có thể tiên liệu thời kỳ chết của mình. Khi lâm chung không gặp tai họa, thân thể không đau đớn vì bệnh tật, trong lòng không vương vấn và phiền não, ôn hoà tự tại rời khỏi nhân gian. Đào tiên được xem là biểu tượng của sự trường thọ và tránh tai ách. Qua hình ảnh đứa bé ôm trái đào ta sẽ cảm nhận được sự trung thực, thánh thiện qua cuộc sống thường nhật.

[NCT]
Nguồn hình: http://data.xzone.vn/Upload/267/Nam_2012/Thang_6/Ngay_11/phuc/nguphuc.jpg
Đây là một hình ảnh rất quen thuộc - ông Địa.

Tục thờ ông Địa (thần Tài) có xuất xứ từ Trung Quốc, hình ảnh ông Địa toát lên vẻ khảng khái của một người Nam Bộ với chiếc khăn rằn của người Khmer trên đầu. Như vậy, chỉ trong một tượng ông Địa mà đã có kết hợp của 3 nền văn hoá khác nhau.

1 tay ông Địa để lên đầu con cọp tượng trưng cho việc người dân di cư, khai hoang mở cõi đã vượt qua, khắc phục được bao nhiêu hiểm nguy, gian khó thuở sơ khai.

Ngày nay, ông Địa ít khi được làm đúng nguyên bản, người ta thường thay thế con cọp bằng đồng tiền với ý nghĩa mong tài lộc.

[NCT]
Nguồn hình: thegioihuyenbi.com
Đây là một hình ảnh rất quen thuộc - ông Địa.

Tục thờ ông Địa (thần Tài) có xuất xứ từ Trung Quốc, hình ảnh ông Địa toát lên vẻ khảng khái của một người Nam Bộ với chiếc khăn rằn của người Khmer trên đầu. Như vậy, chỉ trong một tượng ông Địa mà đã có kết hợp của 3 nền văn hoá khác nhau.

1 tay ông Địa để lên đầu con cọp tượng trưng cho việc người dân di cư, khai hoang mở cõi đã vượt qua, khắc phục được bao nhiêu hiểm nguy, gian khó thuở sơ khai.

Ngày nay, ông Địa ít khi được làm đúng nguyên bản, người ta thường thay thế con cọp bằng đồng tiền với ý nghĩa mong tài lộc.

[NCT]
Nguồn hình: thegioihuyenbi.com
Người Sài Gòn ngày xưa thức giấc sớm, cứ tầm 4, 5 giờ sáng là bếp ở tiệm nước hoặc bếp ở quán hẻm phố lại đỏ lửa nấu nước pha cà phê. Hình ảnh phổ biến nhất của cà phê vợt lại là cái siêu đất, loại siêu nấu thuốc bắc và cái vợt bằng vải dài như chiếc vớ của người đi giày bốt.

Người bán cà phê dùng nước sôi để trụng sạch vợt rồi cho loại cà phê xay nhuyễn vô. Cái vợt chứa cà phê được cầm để trên miệng siêu trước khi chế nước sôi vào; vậy là dòng cà phê đen nâu chảy ra từ cái vợt tỏa khói thơm nghi ngút. Tất nhiên, tùy theo giá tiền của ly cà phê mà lượng cà phê cũng như số lần cà phê được vợt đậm hay vợt lợt.
 
Nói đến cà phê vợt mà không nhắc đến ngón nghề rót cà phê của các tay pha chế thì có khi thiếu sót. Cái hình ảnh đưa siêu cà phê lên cao rồi để cho dòng cà phê chảy ra từ vòi siêu làm tràn miệng ly cà phê đọng lại trong cái dĩa. Cái ngón nghề rót tràn ly này sao khéo quá, tràn chút xíu, để dư cà phê cho khách chút xíu thôi vậy mà thành một phong cách kề môi miệng vô cái dĩa vừa thổi vừa húp.

Có người giải thích về phong cách húp chút cà phê dư trong dĩa là: cà phê mới rót nóng hổi, hương cà phê tràn trên mặt cái dĩa, kề mũi miệng vô là cách tận hưởng hương cà phê. Có thể cách giải thích đó là suy diễn nhưng dù sao chỉ với món cà phê vợt người ta mới có phong cách húp cà phê trong dĩa.

(Trích "Cà phê vợt: hương thơm ký ức"  - http://giacaphe.com/40976/ca-phe-vot-huong-thom-ky-uc/)

[NCT]
Người Sài Gòn ngày xưa thức giấc sớm, cứ tầm 4, 5 giờ sáng là bếp ở tiệm nước hoặc bếp ở quán hẻm phố lại đỏ lửa nấu nước pha cà phê. Hình ảnh phổ biến nhất của cà phê vợt lại là cái siêu đất, loại siêu nấu thuốc bắc và cái vợt bằng vải dài như chiếc vớ của người đi giày bốt.

Người bán cà phê dùng nước sôi để trụng sạch vợt rồi cho loại cà phê xay nhuyễn vô. Cái vợt chứa cà phê được cầm để trên miệng siêu trước khi chế nước sôi vào; vậy là dòng cà phê đen nâu chảy ra từ cái vợt tỏa khói thơm nghi ngút. Tất nhiên, tùy theo giá tiền của ly cà phê mà lượng cà phê cũng như số lần cà phê được vợt đậm hay vợt lợt.

Nói đến cà phê vợt mà không nhắc đến ngón nghề rót cà phê của các tay pha chế thì có khi thiếu sót. Cái hình ảnh đưa siêu cà phê lên cao rồi để cho dòng cà phê chảy ra từ vòi siêu làm tràn miệng ly cà phê đọng lại trong cái dĩa. Cái ngón nghề rót tràn ly này sao khéo quá, tràn chút xíu, để dư cà phê cho khách chút xíu thôi vậy mà thành một phong cách kề môi miệng vô cái dĩa vừa thổi vừa húp.

Có người giải thích về phong cách húp chút cà phê dư trong dĩa là: cà phê mới rót nóng hổi, hương cà phê tràn trên mặt cái dĩa, kề mũi miệng vô là cách tận hưởng hương cà phê. Có thể cách giải thích đó là suy diễn nhưng dù sao chỉ với món cà phê vợt người ta mới có phong cách húp cà phê trong dĩa.

(Trích "Cà phê vợt: hương thơm ký ức" - http://giacaphe.com/40976/ca-phe-vot-huong-thom-ky-uc/)

[NCT]
Bàn ủi con gà - Kỷ vật của một thời gian khổ.

Bàn ủi con gà được làm bằng đồng lạnh, dáng hình thuyền, được cách tân từ kiểu bàn ủi hình gáo múc nước. Sở dĩ được gọi là bàn ủi con gà vì trên nắp bàn ủi có làm 1 cái khoá hình con gà, mục đích là để nắp không bung ra khi đang ủi đồ. 

Sau khi mở nắp bàn ủi, người ta múc than bỏ vô trong bàn ủi để làm nóng, sau đó đóng chốt khoá để than không bị đổ ra, làm hư quần áo. Ủi đồ bằng bàn ủi này là cả một nghệ thuật, nếu không rất dễ bị cháy, hư đồ.

[NCT]
Nguồn hình: http://thuanloipho.com/img_upload/forum/f_201308011223272251.jpg
Bàn ủi con gà - Kỷ vật của một thời gian khổ.

Bàn ủi con gà được làm bằng đồng lạnh, dáng hình thuyền, được cách tân từ kiểu bàn ủi hình gáo múc nước. Sở dĩ được gọi là bàn ủi con gà vì trên nắp bàn ủi có làm 1 cái khoá hình con gà, mục đích là để nắp không bung ra khi đang ủi đồ.

Sau khi mở nắp bàn ủi, người ta múc than bỏ vô trong bàn ủi để làm nóng, sau đó đóng chốt khoá để than không bị đổ ra, làm hư quần áo. Ủi đồ bằng bàn ủi này là cả một nghệ thuật, nếu không rất dễ bị cháy, hư đồ.

[NCT]
Nguồn hình: http://thuanloipho.com/img_upload/forum/f_201308011223272251.jpg
Tại sao ông bà ta lại kỵ quét nhà và đổ rác vào ngày Tết?

 Theo quan niệm, quét nhà là quét hết vận đỏ và lộc năm mới đi. Vì thế sẽ không ai quét nhà vào 3 ngày đầu năm. Do đó, trước Tết, nhà nào cũng quét dọn sạch sẽ nhà cửa để trong ba ngày đầu tiên của năm mới không đụng đến cây chổi quét nhà.

Còn tục kỵ đổ rác xuất phát từ câu chuyện trong "Sưu thần ký": Ngày xưa, có một người lái buôn đi qua hồ Thanh Thảo được Thủy thần tặng nàng hầu tên là Như Nguyệt. Nhờ có nàng Như Nguyệt giúp đỡ, ông trở nên giàu có, tiền bạc đầy nhà. Năm đó, vào ngày mồng Một Tết, Như Nguyệt mắc lỗi nhỏ, bị ông chủ đánh đập nên sợ quá biến vào đống rác để trốn. Người lái buôn không biết, mang rác đổ đi. Từ đó, ông lại nghèo như xưa.

Chú thích hình: Xóm làm chổi trong một con hẻm ở đường Phạm Văn Chí, quận 6.

[NCT]
Nguồn hình: Sài Gòn Tiếp Thị.
Tại sao ông bà ta lại kỵ quét nhà và đổ rác vào ngày Tết?

Theo quan niệm, quét nhà là quét hết vận đỏ và lộc năm mới đi. Vì thế sẽ không ai quét nhà vào 3 ngày đầu năm. Do đó, trước Tết, nhà nào cũng quét dọn sạch sẽ nhà cửa để trong ba ngày đầu tiên của năm mới không đụng đến cây chổi quét nhà.

Còn tục kỵ đổ rác xuất phát từ câu chuyện trong "Sưu thần ký": Ngày xưa, có một người lái buôn đi qua hồ Thanh Thảo được Thủy thần tặng nàng hầu tên là Như Nguyệt. Nhờ có nàng Như Nguyệt giúp đỡ, ông trở nên giàu có, tiền bạc đầy nhà. Năm đó, vào ngày mồng Một Tết, Như Nguyệt mắc lỗi nhỏ, bị ông chủ đánh đập nên sợ quá biến vào đống rác để trốn. Người lái buôn không biết, mang rác đổ đi. Từ đó, ông lại nghèo như xưa.

Chú thích hình: Xóm làm chổi trong một con hẻm ở đường Phạm Văn Chí, quận 6.

[NCT]
Nguồn hình: Sài Gòn Tiếp Thị.
Saigon 1966-1967 - Một xe bán đầu lân ở chợ hoa Tết năm xưa.

Theo như lời kể thì chủ xe bán đồ múa lân này chỉ bán được cho lính Mỹ nên thấy Mỹ ở đâu là sà tới. Sau này Mỹ về nước, ông này cũng biến mất. 

Góc đường là quán nhậu Kho Bạc, trong bán bia, ngoài cửa có hàng phá lấu rất ngon, dân nhậu buổi chiều ngồi đầy ở ngoài. Quán nhậu độc nhất ở khu vực này nên nói "ngồi kho bạc" ai cũng hiểu.

[NCT]
Nguồn hình: manhhai.
Saigon 1966-1967 - Một xe bán đầu lân ở chợ hoa Tết năm xưa.

Theo như lời kể thì chủ xe bán đồ múa lân này chỉ bán được cho lính Mỹ nên thấy Mỹ ở đâu là sà tới. Sau này Mỹ về nước, ông này cũng biến mất.

Góc đường là quán nhậu Kho Bạc, trong bán bia, ngoài cửa có hàng phá lấu rất ngon, dân nhậu buổi chiều ngồi đầy ở ngoài. Quán nhậu độc nhất ở khu vực này nên nói "ngồi kho bạc" ai cũng hiểu.

[NCT]
Nguồn hình: manhhai.
Trước năm 1975 Gò Vấp là một quận của tỉnh Gia Định gồm có 8 xã. Quận lỵ Gò Vấp cách Sài Gòn 10km. Đó là nơi có nhiều thành quách (An Nhơn, Hạnh Thông Tây), vườn rau cải (Hạnh Thông Tây), ruộng rau muống (Xóm Mới), vườn dừa (An Phú Đông, Bình Triệu), vườn sầu riêng, măng cụt (Nhị Bình), vườn bưởi (Thạnh Lộc) với hai xã đông dân cư và phồn thịnh về kinh tế và thương mại gần Sài Gòn: Bình Hòa và Thạnh Mỹ Tây.

Gò Vấp còn được gọi Gò Vắp và theo một số nhà nghiên cứu thì đây mới là tên gốc, tên hiện nay (Gò Vấp) là do đọc trại ra.

Có thuyết khác thì cho rằng nguồn gốc của tên Gò Vấp là do trước đây nơi này là một ngọn đồi trồng cây Vấp. Cây vấp có nguồn gốc từ các nước Châu Á nhiệt đới: Ấn Độ, Sri Lanka, Malaysia, Việt Nam. Cây có thân gỗ lớn, thuôn thẳng, cao từ 15 – 20m. Vỏ cây màu nâu đen và gỗ thì cứng như gỗ lim. Cây Vấp còn có tên tiếng Khmer là cây Krai.

[NCT]
Hình: bản đồ hành chính quận Gò Vấp.
Trước năm 1975 Gò Vấp là một quận của tỉnh Gia Định gồm có 8 xã. Quận lỵ Gò Vấp cách Sài Gòn 10km. Đó là nơi có nhiều thành quách (An Nhơn, Hạnh Thông Tây), vườn rau cải (Hạnh Thông Tây), ruộng rau muống (Xóm Mới), vườn dừa (An Phú Đông, Bình Triệu), vườn sầu riêng, măng cụt (Nhị Bình), vườn bưởi (Thạnh Lộc) với hai xã đông dân cư và phồn thịnh về kinh tế và thương mại gần Sài Gòn: Bình Hòa và Thạnh Mỹ Tây.

Gò Vấp còn được gọi Gò Vắp và theo một số nhà nghiên cứu thì đây mới là tên gốc, tên hiện nay (Gò Vấp) là do đọc trại ra.

Có thuyết khác thì cho rằng nguồn gốc của tên Gò Vấp là do trước đây nơi này là một ngọn đồi trồng cây Vấp. Cây vấp có nguồn gốc từ các nước Châu Á nhiệt đới: Ấn Độ, Sri Lanka, Malaysia, Việt Nam. Cây có thân gỗ lớn, thuôn thẳng, cao từ 15 – 20m. Vỏ cây màu nâu đen và gỗ thì cứng như gỗ lim. Cây Vấp còn có tên tiếng Khmer là cây Krai.

[NCT]
Hình: bản đồ hành chính quận Gò Vấp.
Ngày nay, nếu có dịp đi ngang đường Lý Thái Tổ, đoạn gần nhà thờ Bắc Hà, các bạn sẽ thấy một quán phở trưng biển hiệu rất bự: "Phở tàu bay (không chi nhánh)", đây chính là một trong 3 quán phở rất được ưa chuộng của người Sài Gòn xưa.

Theo khảo cứu của nhà báo Võ Đắc Danh về lai lịch của phở, thì "phở Tàu Bay" có gốc gác Hà Nội từ năm 1938, chủ quán là ông Phạm Đăng Nhàn. Khách hàng không rõ tên ông, chỉ thấy hay đội mũ cát két cũ giống của phi công, nên gọi luôn là "tàu bay".

Phở Tàu Bay theo chân ông Nhàn di cư vào Nam năm 1954, nằm trên đường Lý Thái Tổ quận 10 bây giờ, tiếp tục nổi tiếng lẫy lừng phong cách phở Bắc. Trước đó, ông Nhàn cũng nhường lại thương hiệu và hướng dẫn nấu phở cho một người bạn và ân nhân của mình tên Đỗ Phúc Lâm, về sau chạy tản cư vào Thanh Hóa.
Cả hai nhánh của phở Tàu Bay đều ngon và nổi tiếng.

Ban đầu, phở Tàu Bay kiên quyết giữ đúng phong vị phở Bắc, không thêm rau giá, tương đen, tuy nhiên, trước áp lực hoà nhập, phở Tàu Bay đã chịu nhún mình, nhường nhịn để vừa lòng thực khách.

Vì quán phục vụ khá đông khách nên các tô phở ở đây sẽ được làm sẵn, khi nào khách đến, chủ quán sẽ chan nước lèo vào tô là dùng được ngay.

Tuy nhiên, ngày trước, phở Tàu Bay làm dân nghiền phở buồn lòng, vì phở được đựng bằng tô nhựa melamine. Phở là món ăn thật nóng, khi gặp nhựa, thì hỡi ôi! (không biết hiện nay ra sao?!)

Giá ở quán: từ 50-60 ngàn là bạn có thể ăn no căng bụng.

[NCT]
Nguồn: http://giadinh.net.vn/doi-song/huong-vi-que-nha-pho-tau-bay-2009081405054485.htm

Bạn nào thích ăn bánh bao Cả Cần thì mời đọc bài này: https://www.facebook.com/photo.php?fbid=521928964562263&set=a.369284979826663.93934.369281733160321&type=1&theater

Đây là bạc xỉu cho ai mê cà phê: https://www.facebook.com/photo.php?fbid=511760278912465&set=a.369284979826663.93934.369281733160321&type=1&theater
Ngày nay, nếu có dịp đi ngang đường Lý Thái Tổ, đoạn gần nhà thờ Bắc Hà, các bạn sẽ thấy một quán phở trưng biển hiệu rất bự: "Phở tàu bay (không chi nhánh)", đây chính là một trong 3 quán phở rất được ưa chuộng của người Sài Gòn xưa.

Theo khảo cứu của nhà báo Võ Đắc Danh về lai lịch của phở, thì "phở Tàu Bay" có gốc gác Hà Nội từ năm 1938, chủ quán là ông Phạm Đăng Nhàn. Khách hàng không rõ tên ông, chỉ thấy hay đội mũ cát két cũ giống của phi công, nên gọi luôn là "tàu bay".

Phở Tàu Bay theo chân ông Nhàn di cư vào Nam năm 1954, nằm trên đường Lý Thái Tổ quận 10 bây giờ, tiếp tục nổi tiếng lẫy lừng phong cách phở Bắc. Trước đó, ông Nhàn cũng nhường lại thương hiệu và hướng dẫn nấu phở cho một người bạn và ân nhân của mình tên Đỗ Phúc Lâm, về sau chạy tản cư vào Thanh Hóa.
Cả hai nhánh của phở Tàu Bay đều ngon và nổi tiếng.

Ban đầu, phở Tàu Bay kiên quyết giữ đúng phong vị phở Bắc, không thêm rau giá, tương đen, tuy nhiên, trước áp lực hoà nhập, phở Tàu Bay đã chịu nhún mình, nhường nhịn để vừa lòng thực khách.

Vì quán phục vụ khá đông khách nên các tô phở ở đây sẽ được làm sẵn, khi nào khách đến, chủ quán sẽ chan nước lèo vào tô là dùng được ngay.

Tuy nhiên, ngày trước, phở Tàu Bay làm dân nghiền phở buồn lòng, vì phở được đựng bằng tô nhựa melamine. Phở là món ăn thật nóng, khi gặp nhựa, thì hỡi ôi! (không biết hiện nay ra sao?!)

Giá ở quán: từ 50-60 ngàn là bạn có thể ăn no căng bụng.

[NCT]
Nguồn: http://giadinh.net.vn/doi-song/huong-vi-que-nha-pho-tau-bay-2009081405054485.htm

Bạn nào thích ăn bánh bao Cả Cần thì mời đọc bài này: https://www.facebook.com/photo.php?fbid=521928964562263&set=a.369284979826663.93934.369281733160321&type=1&theater

Đây là bạc xỉu cho ai mê cà phê: https://www.facebook.com/photo.php?fbid=511760278912465&set=a.369284979826663.93934.369281733160321&type=1&theater
Nếu bạn ở Sài Gòn đã lâu, thì hẳn bạn cũng đã từng nghe qua thương hiệu "bánh bao Cả Cần" rồi...

 Người đầu tiên sản xuất thứ bánh bao này là ông Trần Phấn Thắng (đã qua đời từ lâu). Đây là thứ bánh bao đặc chất của người miền Nam (sản xuất ở Sài Gòn), khác với bánh bao của người Hoa. “Bánh bao Cả Cần” không trắng như bánh bao gốc của người Hoa, mà hơi hẩm, vì không dùng bột tẩy. Vị bánh bao bùi hơn, ăn không dính răng, nhân bánh bao hoàn toàn là thịt băm, không pha lẫn cá và dầu mỡ như bánh bao của người Hoa.

Về việc có cái tên "Cả Cần", theo lời kể của ông Thắng thì:  Cần là tên một người bạn thơ ấu của hai anh em chẳng may mất sớm.Chữ Cả ông ghép vào vì cá tính của ông thích những chữ cùng phụ âm như kiểu Tin -Tình - Tiền - Tù - Tội. Và ông tâm đắc câu quảng cáo của ông dùng bao năm nay toàn bằng chữ C: “Có Cả Cần Cần Chi Có Cả”. .

Bánh Bao Cả Cần bây giờ ở Sài Gòn (bán ngay góc Ngã tư Nguyễn Tri Phương và Hùng Vương):

- Bán buổi sáng do anh bồi bàn Tư Lô và con cháu bán. Tư Lô là một bồi bàn cũ của quán Ông Cả Cần, chế ra bánh bao đề tên bánh bao Cả Cần. Do đó, bánh bao này không phải bánh bao Cả Cần.

-Bánh bao bán chiều: Do một người bà con của ông bà Cả Cần bán, đây mới chính là bánh bao Cả Cần vì được chính bà Cả Cần chuyển giao bí quyết. Hiện nay tại quán Cả Cần củ có bảng đề rõ: Bánh bao Sáng khác, Chiều khác.

[NCT]
Nguồn: anh Phan Khắc Huy - Lớp học vui vẻ.
Nếu bạn ở Sài Gòn đã lâu, thì hẳn bạn cũng đã từng nghe qua thương hiệu "bánh bao Cả Cần" rồi...

Người đầu tiên sản xuất thứ bánh bao này là ông Trần Phấn Thắng (đã qua đời từ lâu). Đây là thứ bánh bao đặc chất của người miền Nam (sản xuất ở Sài Gòn), khác với bánh bao của người Hoa. “Bánh bao Cả Cần” không trắng như bánh bao gốc của người Hoa, mà hơi hẩm, vì không dùng bột tẩy. Vị bánh bao bùi hơn, ăn không dính răng, nhân bánh bao hoàn toàn là thịt băm, không pha lẫn cá và dầu mỡ như bánh bao của người Hoa.

Về việc có cái tên "Cả Cần", theo lời kể của ông Thắng thì: Cần là tên một người bạn thơ ấu của hai anh em chẳng may mất sớm.Chữ Cả ông ghép vào vì cá tính của ông thích những chữ cùng phụ âm như kiểu Tin -Tình - Tiền - Tù - Tội. Và ông tâm đắc câu quảng cáo của ông dùng bao năm nay toàn bằng chữ C: “Có Cả Cần Cần Chi Có Cả”. .

Bánh Bao Cả Cần bây giờ ở Sài Gòn (bán ngay góc Ngã tư Nguyễn Tri Phương và Hùng Vương):

- Bán buổi sáng do anh bồi bàn Tư Lô và con cháu bán. Tư Lô là một bồi bàn cũ của quán Ông Cả Cần, chế ra bánh bao đề tên bánh bao Cả Cần. Do đó, bánh bao này không phải bánh bao Cả Cần.

-Bánh bao bán chiều: Do một người bà con của ông bà Cả Cần bán, đây mới chính là bánh bao Cả Cần vì được chính bà Cả Cần chuyển giao bí quyết. Hiện nay tại quán Cả Cần củ có bảng đề rõ: Bánh bao Sáng khác, Chiều khác.

[NCT]
Nguồn: anh Phan Khắc Huy - Lớp học vui vẻ.
Tại sao Sài Gòn có 1 loại thức uống mang tên là "bạc xỉu"?!

Chữ "bạc xỉu", gọi tắt của cụm chữ "bạc tẩy xỉu phé". Mấy chữ đó là âm từ tiếng Quảng Đông, thứ tiếng Tàu khá phổ thông trong số những người Tàu sống ở Sài Gòn.

Bạc là màu trắng, Tẩy là cái ly không, Xỉu là một chút, và Phé là cà phê. Rõ nghĩa hơn, đó là một thức uống theo ý khách hàng : Sữa nóng thêm một chút cà phê. Sữa đặc pha với nước sôi thường có mùi hơi khó uống, nên chút cà phê thêm vào sẽ làm cái mùi ấy mất đi.

Ở những quán cà phê bình dân của người Tàu (những năm 50s, 60s, Sài Gòn đầy dẫy những quán cà phê bình dân kiểu này, chúng thường chiếm vị trí thuận lợi ở mỗi đầu con hẻm), khi khách hàng Việt gọi một món thức ăn, thức uống bằng tiếng Việt, phổ ky (người hầu bàn) thường có thói quen đứng từ bàn của khách nói vọng vào bếp (cũng được đặt ngay trong một góc gần ngay chỗ thực khách ngồi ăn uống) món thức ăn, uống ấy bằng tiếng Tàu. Dần dà, người khách Việt thuộc lòng món ăn, uống ưa thích bằng tiếng Tàu và sau đó, đã sử dụng luôn chúng trong lúc gọi thực đơn. Sau này, ngoài bạc xỉu nóng, người Việt còn uống bạc xỉu đá.

[NCT]

Nguồn: 
- http://vsc.anvui.vn/van-hoa-cafe-vi%E1%BB%87t-p1
Tại sao Sài Gòn có 1 loại thức uống mang tên là "bạc xỉu"?!

Chữ "bạc xỉu", gọi tắt của cụm chữ "bạc tẩy xỉu phé". Mấy chữ đó là âm từ tiếng Quảng Đông, thứ tiếng Tàu khá phổ thông trong số những người Tàu sống ở Sài Gòn.

Bạc là màu trắng, Tẩy là cái ly không, Xỉu là một chút, và Phé là cà phê. Rõ nghĩa hơn, đó là một thức uống theo ý khách hàng : Sữa nóng thêm một chút cà phê. Sữa đặc pha với nước sôi thường có mùi hơi khó uống, nên chút cà phê thêm vào sẽ làm cái mùi ấy mất đi.

Ở những quán cà phê bình dân của người Tàu (những năm 50s, 60s, Sài Gòn đầy dẫy những quán cà phê bình dân kiểu này, chúng thường chiếm vị trí thuận lợi ở mỗi đầu con hẻm), khi khách hàng Việt gọi một món thức ăn, thức uống bằng tiếng Việt, phổ ky (người hầu bàn) thường có thói quen đứng từ bàn của khách nói vọng vào bếp (cũng được đặt ngay trong một góc gần ngay chỗ thực khách ngồi ăn uống) món thức ăn, uống ấy bằng tiếng Tàu. Dần dà, người khách Việt thuộc lòng món ăn, uống ưa thích bằng tiếng Tàu và sau đó, đã sử dụng luôn chúng trong lúc gọi thực đơn. Sau này, ngoài bạc xỉu nóng, người Việt còn uống bạc xỉu đá.

[NCT]

Nguồn:
- http://vsc.anvui.vn/van-hoa-cafe-vi%E1%BB%87t-p1
Phổ kỵ! Cho cái xây nại!

[NCT]

P/s: Phổ kỵ: tên gọi người phục vụ ở các quán cafe xưa.
Xây nại: ly cafe sữa nhỏ.
Phổ kỵ! Cho cái xây nại!

[NCT]

P/s: Phổ kỵ: tên gọi người phục vụ ở các quán cafe xưa.
Xây nại: ly cafe sữa nhỏ.
Ngã Năm Chuồng Chó là một địa danh thuộc quận Gò Vấp, tỉnh Gia Định. Thời Pháp thuộc, vùng này gọi là Ngã Năm Hàng Điệp. (Lúc đó, ở đây dọc năm bên đường chéo nhau của khu vực có trồng mấy hàng cây Điệp rất lớn và đẹp)

Sau đó lực lương quân sự Pháp Việt phối hợp nhau thành lập ở vùng này một trường Quân Khuyển (Trường huấn luyện chó làm tình báo và đánh giặc). 

Theo lời kể của những người lớn tuổi, tên ban đầu của ngã năm này là Ngã Năm Trường Chó, về sau người dân đọc trại đi thành Ngã Năm Chuồng Chó.

Hiện nay tên gọi đó vẫn lưu truyền và khu vực này còn có thêm tên gọi mới là Ngã Sáu Gò Vấp.

[NCT]
Nguồn hình: http://www.panoramio.com/photo/80643630
Ngã Năm Chuồng Chó là một địa danh thuộc quận Gò Vấp, tỉnh Gia Định. Thời Pháp thuộc, vùng này gọi là Ngã Năm Hàng Điệp. (Lúc đó, ở đây dọc năm bên đường chéo nhau của khu vực có trồng mấy hàng cây Điệp rất lớn và đẹp)

Sau đó lực lương quân sự Pháp Việt phối hợp nhau thành lập ở vùng này một trường Quân Khuyển (Trường huấn luyện chó làm tình báo và đánh giặc).

Theo lời kể của những người lớn tuổi, tên ban đầu của ngã năm này là Ngã Năm Trường Chó, về sau người dân đọc trại đi thành Ngã Năm Chuồng Chó.

Hiện nay tên gọi đó vẫn lưu truyền và khu vực này còn có thêm tên gọi mới là Ngã Sáu Gò Vấp.

[NCT]
Nguồn hình: http://www.panoramio.com/photo/80643630
Tại sao lại có 1 giao lộ mang tên "Ngã tư Bảy Hiền"?

Ngã tư Bảy Hiền nằm tại quận Tân Bình, là 1 nút giao thông quan trọng trên địa bàn Sài Gòn, là nơi giao nhau của 4 con đường lớn: Trường Chinh, Hoàng Văn Thụ, Cách Mạng Tháng 8, Lý Thường Kiệt.

Dân cư sinh sống quanh khu vực ngã tư Bảy Hiền chủ yếu là người miền Trung (đa số là người Quảng Nam). Nơi đây có 1 ngành nghề nổi tiếng là dệt vải.

Hiện nay, nguồn gốc của tên gọi "Bảy Hiền" vẫn là 1 câu hỏi khó để trả lời. Sài Gòn Năm Xưa chỉ xin mạn phép được đăng 1 giả thiết truyền miệng về cái tên "Bảy Hiền".

Ngày xưa, tại khu vực ngã tư Bảy Hiền là 1 vùng đất rộng lớn của 1 gia đình giàu có và đầy quyền lực thời xưa (SGNX ko nhớ rõ là ai nên xin ẩn danh tánh của gia đình này), và được sử dụng để chuyên trồng cao su. Gia đình này có mướn 1 người để quản lý, trông coi rừng cao su. Người này có tên là Hiền, trong nhà đứng thứ bảy nên quen miệng gọi là "Bảy Hiền". 

Ông Bảy Hiền ngoài việc trông coi rừng cao su thì còn mở thêm một quán cafe đặt tên "Bảy Hiền" gần ngã tư để phục vụ cho công nhân cao su cũng như là khách đi đường. Vì ngày trước, cả khu vực chỉ có mỗi quán "Bảy Hiền" nên dần dà nó trở thành điểm hẹn gặp gỡ của nhiều người. Lâu dần, người ta quen miệng gọi tên "Bảy Hiền" và đặt tên luôn cho giao lộ này là "Ngã tư Bảy Hiền".

Bài viết này chỉ là 1 giả thiết truyền miệng mà SGNX được nghe kể lại, vì vậy, trang nhà không đảm bảo về tính xác thực của câu chuyện mà chỉ xem đây như là 1 giả thiết để các bạn cùng tham khảo. 

SNX luôn mong nhận được sự đóng góp, chia sẻ thông tin về "Ngã tư Bảy Hiền" nói riêng và Sài Gòn nói chung của tất cả các bạn.

[NCT]

Nguồn ảnh
http://www.thanhnienquangnam.com/201305151248/chum-anh-nga-tu-bay-hien-xua-va-nay/
Tại sao lại có 1 giao lộ mang tên "Ngã tư Bảy Hiền"?

Ngã tư Bảy Hiền nằm tại quận Tân Bình, là 1 nút giao thông quan trọng trên địa bàn Sài Gòn, là nơi giao nhau của 4 con đường lớn: Trường Chinh, Hoàng Văn Thụ, Cách Mạng Tháng 8, Lý Thường Kiệt.

Dân cư sinh sống quanh khu vực ngã tư Bảy Hiền chủ yếu là người miền Trung (đa số là người Quảng Nam). Nơi đây có 1 ngành nghề nổi tiếng là dệt vải.

Hiện nay, nguồn gốc của tên gọi "Bảy Hiền" vẫn là 1 câu hỏi khó để trả lời. Sài Gòn Năm Xưa chỉ xin mạn phép được đăng 1 giả thiết truyền miệng về cái tên "Bảy Hiền".

Ngày xưa, tại khu vực ngã tư Bảy Hiền là 1 vùng đất rộng lớn của 1 gia đình giàu có và đầy quyền lực thời xưa (SGNX ko nhớ rõ là ai nên xin ẩn danh tánh của gia đình này), và được sử dụng để chuyên trồng cao su. Gia đình này có mướn 1 người để quản lý, trông coi rừng cao su. Người này có tên là Hiền, trong nhà đứng thứ bảy nên quen miệng gọi là "Bảy Hiền".

Ông Bảy Hiền ngoài việc trông coi rừng cao su thì còn mở thêm một quán cafe đặt tên "Bảy Hiền" gần ngã tư để phục vụ cho công nhân cao su cũng như là khách đi đường. Vì ngày trước, cả khu vực chỉ có mỗi quán "Bảy Hiền" nên dần dà nó trở thành điểm hẹn gặp gỡ của nhiều người. Lâu dần, người ta quen miệng gọi tên "Bảy Hiền" và đặt tên luôn cho giao lộ này là "Ngã tư Bảy Hiền".

Bài viết này chỉ là 1 giả thiết truyền miệng mà SGNX được nghe kể lại, vì vậy, trang nhà không đảm bảo về tính xác thực của câu chuyện mà chỉ xem đây như là 1 giả thiết để các bạn cùng tham khảo.

SNX luôn mong nhận được sự đóng góp, chia sẻ thông tin về "Ngã tư Bảy Hiền" nói riêng và Sài Gòn nói chung của tất cả các bạn.

[NCT]

Nguồn ảnh
http://www.thanhnienquangnam.com/201305151248/chum-anh-nga-tu-bay-hien-xua-va-nay/
Tiếp theo bài viết về tháp chuông Nhà thờ Đức Bà Sài Gòn vào buổi trưa, Sài Gòn Năm Xưa gửi tới các bạn thông tin về đồng hồ của Nhà thờ Đức Bà:

Bộ máy đồng hồ trước vòm mái cách mặt đất chừng 15 m, giữa hai tháp chuông được chế tạo tại Thụy Sĩ năm 1887, hiệu R.A, cao khoảng 2,5 m, dài khoảng 3 m và ngang độ hơn 1 m, nặng hơn 1 tấn, đặt nằm trên bệ gạch. Dù thô sơ, cũ kỹ nhưng hoạt động khá chính xác. Để điều chỉnh đồng hồ, phía sau máy có một chiếc đồng hồ to cỡ đồng hồ reo trong gia đình. Chỉ cần theo dõi chiếc đồng hồ con này, có thể biết đồng hồ lớn chạy chậm, nhanh, đúng hay sai giờ. Mỗi tuần phải lên giây đồng hồ một lần và chiếc cần để lên giây đồng hồ giống như tay quay máy xe. Đồng hồ còn có hệ thống bao giờ bằng búa đánh vô các chuông của nhà thờ, tuy nhiên đã không còn hoạt động do dây cót quá cũ.

Tổng hợp: [NCT]

Link xem thêm về bài tháp chuông Nhà thờ Đức Bà:
https://www.facebook.com/photo.php?v=10201268555529664 

Hình: Nhà thờ Đức Bà năm 1955.

Nguồn: 
http://vi.wikipedia.org/wiki/Nh%C3%A0_th%E1%BB%9D_ch%C3%ADnh_t%C3%B2a_%C4%90%E1%BB%A9c_B%C3%A0_S%C3%A0i_G%C3%B2n
- http://mytour.vn/location/2373-nha-tho-duc-ba.html
- http://www.saigonnews.vn/doi-song/88710-chum-anh-sai-gon-doi-thay-nhu-the-nao-sau-50-nam.html
Tiếp theo bài viết về tháp chuông Nhà thờ Đức Bà Sài Gòn vào buổi trưa, Sài Gòn Năm Xưa gửi tới các bạn thông tin về đồng hồ của Nhà thờ Đức Bà:

Bộ máy đồng hồ trước vòm mái cách mặt đất chừng 15 m, giữa hai tháp chuông được chế tạo tại Thụy Sĩ năm 1887, hiệu R.A, cao khoảng 2,5 m, dài khoảng 3 m và ngang độ hơn 1 m, nặng hơn 1 tấn, đặt nằm trên bệ gạch. Dù thô sơ, cũ kỹ nhưng hoạt động khá chính xác. Để điều chỉnh đồng hồ, phía sau máy có một chiếc đồng hồ to cỡ đồng hồ reo trong gia đình. Chỉ cần theo dõi chiếc đồng hồ con này, có thể biết đồng hồ lớn chạy chậm, nhanh, đúng hay sai giờ. Mỗi tuần phải lên giây đồng hồ một lần và chiếc cần để lên giây đồng hồ giống như tay quay máy xe. Đồng hồ còn có hệ thống bao giờ bằng búa đánh vô các chuông của nhà thờ, tuy nhiên đã không còn hoạt động do dây cót quá cũ.

Tổng hợp: [NCT]

Link xem thêm về bài tháp chuông Nhà thờ Đức Bà:
https://www.facebook.com/photo.php?v=10201268555529664

Hình: Nhà thờ Đức Bà năm 1955.

Nguồn:
http://vi.wikipedia.org/wiki/Nh%C3%A0_th%E1%BB%9D_ch%C3%ADnh_t%C3%B2a_%C4%90%E1%BB%A9c_B%C3%A0_S%C3%A0i_G%C3%B2n
- http://mytour.vn/location/2373-nha-tho-duc-ba.html
- http://www.saigonnews.vn/doi-song/88710-chum-anh-sai-gon-doi-thay-nhu-the-nao-sau-50-nam.html
Saigon 1955 - Cầu Chà Và.

Trong cuốn "Sài Gòn năm xưa", cụ Vương Hồng Sển có giải thích cây cầu có tên như vậy vì lúc xưa nó nằm trong phố người Chà (người Ấn), và họ chuyên buôn bán vải vóc.

Nhịp giữa của cây cầu có thể nâng lên cho ghe lớn qua lại khi cần, nhờ hệ thống tời nằm bên trong các trụ cổng.

[NCT]
Nguồn hình: manhhai.
Saigon 1955 - Cầu Chà Và.

Trong cuốn "Sài Gòn năm xưa", cụ Vương Hồng Sển có giải thích cây cầu có tên như vậy vì lúc xưa nó nằm trong phố người Chà (người Ấn), và họ chuyên buôn bán vải vóc.

Nhịp giữa của cây cầu có thể nâng lên cho ghe lớn qua lại khi cần, nhờ hệ thống tời nằm bên trong các trụ cổng.

[NCT]
Nguồn hình: manhhai.
Saigon 1920 - Khách sạn Continental. 

Khách sạn Continental được xây dựng vào năm 1878 dưới thời Pháp thuộc, do ông Pierre Cazeau, một nhà sản xuất vật liệu xây cất và dụng cụ trong nhà bỏ tiền đầu tư. Ông Cazeau muốn mở một khách sạn sang trọng để tiếp đón các du khách từ Pháp đến Sài Gòn sau một cuộc hải hành rất dài từ "mẫu quốc". Quá trình xây cất mất 2 năm, và Khách sạn Continental khánh thành năm 1880.

[NCT]
Nguồn hình: Reds.vn
Saigon 1920 - Khách sạn Continental.

Khách sạn Continental được xây dựng vào năm 1878 dưới thời Pháp thuộc, do ông Pierre Cazeau, một nhà sản xuất vật liệu xây cất và dụng cụ trong nhà bỏ tiền đầu tư. Ông Cazeau muốn mở một khách sạn sang trọng để tiếp đón các du khách từ Pháp đến Sài Gòn sau một cuộc hải hành rất dài từ "mẫu quốc". Quá trình xây cất mất 2 năm, và Khách sạn Continental khánh thành năm 1880.

[NCT]
Nguồn hình: Reds.vn

Xem Thêm