Làm giấy dó Yên Thái

Làng nghề giấy dó Yên Thái, cũng được gọi là Kẻ Bưởi, ở phía tây bắc của Thủ đô Hà Nội. Không biết nghề làm giấy dó ở vùng này xuất hiện từ bao lâu rồi, nhưng nó đã trở nên nổi tiếng và đi vào ca dao thành một điểm đặc trưng cho các làng nghề ở đất Thăng Long-Hà Nội.

Ngay đến ông tổ nghề giấy cũng không rõ họ tên là gì, mặc dù vẫn được thờ phụng trong các làng làm giấy xưa. Từ trước thế kỷ 13, nghề làm giấy đã có tại thôn Dịch Vọng. Sau đó, nghề này lan truyền dần qua các địa phương ven sông Tô Lịch như Yên Hòa (tục gọi là làng giấy), Hồ Khẩu, Đông Xã, Yên Thái, Nghĩa Đô, trong đó tập trung và phát triển nhất là thôn Yên Thái. Truyền thuyết ghi lại, đầu tiên ông tổ nghề giấy truyền nghề cho dân làng Yên Hòa, rồi lần lượt qua các làng khác.

Thực ra, có lẽ từ trước đó rất lâu, người Việt đã biết làm giấy. Năm 284, một thương nhân La Mã đã mua của Giao Chỉ hàng vạn tờ giấy mật hương, một loại giấy thơm, để dâng lên vua Tấn Võ Đế. Một học giả người Hoa là Kê Hàm cũng đã xác nhận giấy Mật Hương của Giao Chỉ làm bằng gỗ trầm thơm, màu trắng, có vân vảy cá, thả vào nước không nát. Vậy ít nhất thì nghề làm giấy đã có ở Việt Nam từ thế kỷ ba sau công nguyên.

Cho đến khi nhà nước Đại Việt ra đời và định đô ở Thăng Long thì nghề này ở làng Yên Thái đã phát triển mạnh. Giấy dó Yên Thái đã từng là mặt hàng triều cống cho triều đình nhà Tống của đời vua Lý Cao Tông (1176-1210). Trong sách "Dư địa chí" (1435), Nguyễn Trãi cũng đã đề cập đến phường Yên Thái ở Thăng Long gồm các làng Hồ Khẩu, Đông Xã, An Thọ, Yên Thái, Nghĩa Đô làm ra nhiều loại giấy: giấy sắc (để viết sắc của vua ban), giấy lệnh (để viết các lệnh chỉ của vua), giấy bản (phục vụ dân dụng), giấy quỳ ...

Nghề làm giấy cổ truyền ở Yên Thái xưa cũng đã khá phức tạp, nó đòi hỏi từng loại thợ ở từng công việc cụ thể phải có kinh nghiệm và giỏi nghề. Sự chuyên môn hóa ấy còn chịu sự chi phối bởi mục đích sản xuất, sản lượng và chất lượng giấy theo yêu cầu. Có lẽ vì thế mà các làng kẻ Bưởi đã trở thành một phường nghề phát triển cho đến tận thế kỷ 19, khi mà các loại chế bản với phương thức in mới không còn phù hợp với loại giấy cũ.
Người làng cũng kể lại rằng: "Trước kia, vào các buổi sáng sớm, cả tổng Bưởi vang nhịp thình thịch của tiếng chày giã giấy xen lẫn tiếng gọi nhau í ới trong các lò giấy. Những ngày phiên chợ mồng bốn, mồng chín hàng tháng, cả làng ra bán giấy tại chợ Cầu, kẻ bán người mua chen chúc, tấp nập. Cả làng trắng xóa giấy phơi."

Cái nghề làm ra thứ để ghi chép tinh hoa văn hiến, vậy mà vất vả lắm. Có thể nói, ở tất cả các công đoạn sản xuất từ bóc vỏ dó, ngâm và giặt dó, giã dó, nấu dó, lọc dó, xeo giấy, đến đóng gói kiện giấy và vận chuyển đi bán đều hết sức vất vả và hầu như hoàn toàn bằng sức người với đôi tay trần của người thợ.

Sản xuất giấy cần rất nhiều nước, mà phải là nước sạch để ngâm, đãi, nấu dó. Bột dó phải nấu qua lửa mới thành giấy. Trước kia, lò nấu dó đắp bên sông Tô, miệng lò đặt chiếc vạc, vỏ dó được đun cách thủy trong vạc. Khi vỏ dó chín, người ta vớt ra và đem ngâm vôi. Sau đó bóc hết lần vỏ đen bỏ đi, phần vỏ dó còn lại có màu trắng muốt, được đem giã nhuyễn bằng cối lớn, chày tay. Thanh niên giã dó cả ngày lẫn đêm; giã trong nhiều ngày đêm mới đủ bột dó để sản xuất.

Giấy Yên Thái dùng lò sấy là chủ yếu, ít khi phải đem phơi. Do đó dù trời mưa vẫn không ảnh hưởng đáng kể đến công việc, giấy vẫn được sấy khô như thường. Lò sấy giấy đã xuất hiện ở Yên Thái từ mấy trăm năm trước đây. Người làng nghề truyền lại rằng, khi xưa con gái Bưởi khi xưa ra ngoài đường không dám mặc áo cộc tay, bởi vì khi sàng giấy, các cô phải tì hai tay vào thành bể để sàng, nên bị xây xát thành chai, thành sẹo. Con trai ra ngoài đường, người ta biết ngay là trai Bưởi, vì anh nào đi cũng hơi vẹo một bên vì gánh nguyên vật liệu làm giấy ở dưới thuyền lên chỉ bằng một bên vai.
Ngày nay do công nghệ sản xuất giấy hiện đại đã khiến nghề làm giấy dó cổ truyền của Yên Thái không còn nữa, nhưng làng Yên Thái (làng Bưởi) vẫn còn đó như một chứng tích về một vùng quê với nghề giấy dó từng nổi tiếng khi xưa./.

Các bức ảnh và chú thích có nguồn từ http://tranthanhnhan1963.blogspot.com/
Vùng đất ven sông Tô Lịch xưa có nhiều làng làm giấy cổ truyền như  Đông Xá, Hồ Khẩu, Nghĩa Đô nhưng nổi tiếng nhất nhất là làng Yên Thái, còn gọi là làng Bưởi, nghề giấy nơi đây được ghi vào sử sách từ thế kỉ XV.
Vùng đất ven sông Tô Lịch xưa có nhiều làng làm giấy cổ truyền như Đông Xá, Hồ Khẩu, Nghĩa Đô nhưng nổi tiếng nhất nhất là làng Yên Thái, còn gọi là làng Bưởi, nghề giấy nơi đây được ghi vào sử sách từ thế kỉ XV.
Quang cảnh làng giấy với những lán sản xuất. Người làng Yên Thái chọn ven bờ sông Tô Lịch để làm nơi sản xuất vì các khâu sản xuất giấy cần rất nhiều nước.
Quang cảnh làng giấy với những lán sản xuất. Người làng Yên Thái chọn ven bờ sông Tô Lịch để làm nơi sản xuất vì các khâu sản xuất giấy cần rất nhiều nước.
Nguyên liệu chính để làm giấy là vỏ cây dó tươi. Cây dó chỉ có ở vùng Trung du và miền núi phía Bắc, người ta phải ngược sông Thao đến tận Cao Bằng, Thái Nguyên, Tuyên Quang để mua dó và cũng chỉ mua vào tháng 8 đến tháng 10 âm lịch vì đây là thời gian vỏ dó tự tróc ra nên mới thu hoạch được. Dó mang về, lột tiếp lớp vỏ đen, lấy lượt vỏ trắng ngâm nước vôi 24 tiếng mùa hè, 36 tiếng mùa đông.
Nguyên liệu chính để làm giấy là vỏ cây dó tươi. Cây dó chỉ có ở vùng Trung du và miền núi phía Bắc, người ta phải ngược sông Thao đến tận Cao Bằng, Thái Nguyên, Tuyên Quang để mua dó và cũng chỉ mua vào tháng 8 đến tháng 10 âm lịch vì đây là thời gian vỏ dó tự tróc ra nên mới thu hoạch được. Dó mang về, lột tiếp lớp vỏ đen, lấy lượt vỏ trắng ngâm nước vôi 24 tiếng mùa hè, 36 tiếng mùa đông.
Phụ nữ và các bé gái tuốt dó nguyên liệu.
Phụ nữ và các bé gái tuốt dó nguyên liệu.
Sau khi ngâm, dó được vớt ra, bó thành từng mớ, rồi lại được tiếp tục ngâm vào các bể với nước vôi đặc từ 3 - 5 giờ.
Sau khi ngâm, dó được vớt ra, bó thành từng mớ, rồi lại được tiếp tục ngâm vào các bể với nước vôi đặc từ 3 - 5 giờ.
Sau đó được chuyển vào vạc nấu cách thủy 15 - 20 tiếng.
Sau đó được chuyển vào vạc nấu cách thủy 15 - 20 tiếng.
Quanh cảnh làng giấy rất lạ mắt với những lò nấu cao như những bức lũy.
 Lò nấu dó được đắp bằng đất cao tới 5m, miệng lò đặt chiếc vạc lớn, đường kính 2m.
Quanh cảnh làng giấy rất lạ mắt với những lò nấu cao như những bức lũy.
Lò nấu dó được đắp bằng đất cao tới 5m, miệng lò đặt chiếc vạc lớn, đường kính 2m.
Người làng Yên Thái thường đắp lò nấu dó ngay bên bờ sông Tô Lịch để tiện việc ngâm, dặm, đãi vỏ dó.
Người làng Yên Thái thường đắp lò nấu dó ngay bên bờ sông Tô Lịch để tiện việc ngâm, dặm, đãi vỏ dó.
Khi vỏ dó chín, người ta vớt ra đem ngâm cho hết vôi, nhặt bỏ từng mấu nhỏ còn sót lại. Sau đó đem đi rửa, rồi cho vào bể ngâm thêm 15-20 ngày.  Sau nhiều lần ngâm, nấu cuối cùng được một loại xơ trắng muốt, đấy chính là chất liệu tinh khiết để làm ra giấy.
Khi vỏ dó chín, người ta vớt ra đem ngâm cho hết vôi, nhặt bỏ từng mấu nhỏ còn sót lại. Sau đó đem đi rửa, rồi cho vào bể ngâm thêm 15-20 ngày. Sau nhiều lần ngâm, nấu cuối cùng được một loại xơ trắng muốt, đấy chính là chất liệu tinh khiết để làm ra giấy.
Dó được cho vào cối lớn, giã nhuyễn bằng chày tay.
Công việc giã dó rất vất vả, chỉ đàn ông mới đảm đương nổi.
Dó được cho vào cối lớn, giã nhuyễn bằng chày tay.
Công việc giã dó rất vất vả, chỉ đàn ông mới đảm đương nổi.
Đằng sau nhịp chày Yên Thái nện trong sương là sự khó nhọc của người thợ làm giấy: Giã nay rồi lại giã mai / Đôi chân tê mỏi, dó ơi vì mày
Đằng sau nhịp chày Yên Thái nện trong sương là sự khó nhọc của người thợ làm giấy: Giã nay rồi lại giã mai / Đôi chân tê mỏi, dó ơi vì mày
Sau khi giã bột dó sẽ được nắm chặt
Sau khi giã bột dó sẽ được nắm chặt
.. đem đãi rửa sạch thêm một lần nữa.
.. đem đãi rửa sạch thêm một lần nữa.
Sông Tô Lịch rất thích hợp cho công việc cần nhiều nước này
Sông Tô Lịch rất thích hợp cho công việc cần nhiều nước này
khâu làm sạch bột
khâu làm sạch bột
khâu làm sạch bột
khâu làm sạch bột
Tiếp theo, bột quánh được thả vào tàu seo. Tàu seo là một bể nước có pha sẵn loại keo bằng nhựa cây mò (có tác dụng ngăn cho các tờ giấy không dính vào nhau). Vữa dó thả vào đây sẽ thành một thứ nước sền sệt. Độ lỏng hay đặc của hỗn hợp này sẽ được pha tùy theo loại giấy.
Dụng cụ để tạo ra các trang giấy là chiếc liềm seo. Liềm được làm bằng cật nứa ngâm, chẻ nhỏ như sợi chỉ, mỗi nan dài 60 - 70 phân (tương đương chiều dài của ống nứa đã bỏ đầu mặt), nan để mộc bột giấy sẽ không bám, do đó phải đem hun khói, kĩ thuật hun rất công phu, người ta dùng mùn cưa trộn với phân bò để đốt, vì chất liệu này cháy chỉ có khói chứ không bốc thành ngọn lửa. Công đoạn tiếp theo là dệt mành seo, tương tự như cách dệt mành mành nhưng dụng cụ nhỏ hơn. Chỉ dùng để dệt se bằng tơ tằm nên chắc, bền và chịu được nước.
Người ta dìm liềm seo vào trong bể, chao đi chao lại.  Xơ dó kết lại với nhau trên liềm seo như cái mạng nhện nhiều lớp, tạo nên tờ giấy. Khâu seo giấy tuy nhẹ nhàng, nhưng phải khéo léo, kiên trì nên phụ nữ thường đảm nhiệm công việc này. Họ đứng bên tàu seo, hai tay dùng liềm seo múc nước bột giấy rồi gác lên “đòn cách” bằng tre trên mắt tàu seo cho nước rỏ xuống hết, chỉ còn bột giấy đọng lại trên liềm. Nước khô dần, bột giấy se lại, trang giấy hiện ra.
Tiếp theo, bột quánh được thả vào tàu seo. Tàu seo là một bể nước có pha sẵn loại keo bằng nhựa cây mò (có tác dụng ngăn cho các tờ giấy không dính vào nhau). Vữa dó thả vào đây sẽ thành một thứ nước sền sệt. Độ lỏng hay đặc của hỗn hợp này sẽ được pha tùy theo loại giấy.
Dụng cụ để tạo ra các trang giấy là chiếc liềm seo. Liềm được làm bằng cật nứa ngâm, chẻ nhỏ như sợi chỉ, mỗi nan dài 60 - 70 phân (tương đương chiều dài của ống nứa đã bỏ đầu mặt), nan để mộc bột giấy sẽ không bám, do đó phải đem hun khói, kĩ thuật hun rất công phu, người ta dùng mùn cưa trộn với phân bò để đốt, vì chất liệu này cháy chỉ có khói chứ không bốc thành ngọn lửa. Công đoạn tiếp theo là dệt mành seo, tương tự như cách dệt mành mành nhưng dụng cụ nhỏ hơn. Chỉ dùng để dệt se bằng tơ tằm nên chắc, bền và chịu được nước.
Người ta dìm liềm seo vào trong bể, chao đi chao lại. Xơ dó kết lại với nhau trên liềm seo như cái mạng nhện nhiều lớp, tạo nên tờ giấy. Khâu seo giấy tuy nhẹ nhàng, nhưng phải khéo léo, kiên trì nên phụ nữ thường đảm nhiệm công việc này. Họ đứng bên tàu seo, hai tay dùng liềm seo múc nước bột giấy rồi gác lên “đòn cách” bằng tre trên mắt tàu seo cho nước rỏ xuống hết, chỉ còn bột giấy đọng lại trên liềm. Nước khô dần, bột giấy se lại, trang giấy hiện ra.
Giấy seo xong còn ướt xếp chồng lên nhau gọi là uốn
Giấy seo xong còn ướt xếp chồng lên nhau gọi là uốn
Uốn được đem đi ép cho thật kiệt nước
Uốn được đem đi ép cho thật kiệt nước
Công cụ dùng để ép uốn là những thứ có sẵn xung quanh
Công cụ dùng để ép uốn là những thứ có sẵn xung quanh
hoặc được chế tạo rất thô sơ
hoặc được chế tạo rất thô sơ
Giấy ép xong được bóc, đem xấy hoặc phơi khô và miết phẳng
Giấy ép xong được bóc, đem xấy hoặc phơi khô và miết phẳng
Giấy dó có nhiều kích thước khác nhau, cỡ lớn nhất là 60 x 80 và nhỏ nhất là 20 x 30. Liên kết mạng của xơ dó làm cho tờ giấy xốp, nhẹ, dai. Quy trình sản xuất thủ không có độ axít tạo cho giấy tuổi thọ tới 500 năm.
Giấy dó có nhiều kích thước khác nhau, cỡ lớn nhất là 60 x 80 và nhỏ nhất là 20 x 30. Liên kết mạng của xơ dó làm cho tờ giấy xốp, nhẹ, dai. Quy trình sản xuất thủ không có độ axít tạo cho giấy tuổi thọ tới 500 năm.
Cùng với những lò nấu, đìa ngâm đãi Làng Giấy còn nổi tiếng với những chiếc giếng
Ai ơi đứng lại mà trông
Kìa vạc nấu dó, kìa sông đãi bìa
Kìa giấy Yên Thái, như kia
Giếng sâu chín trượng, nước thì trong xanh
Cùng với những lò nấu, đìa ngâm đãi Làng Giấy còn nổi tiếng với những chiếc giếng
Ai ơi đứng lại mà trông
Kìa vạc nấu dó, kìa sông đãi bìa
Kìa giấy Yên Thái, như kia
Giếng sâu chín trượng, nước thì trong xanh
Giếng làng cung cấp nước cho sinh hoạt và sản xuất giấy
Giếng làng cung cấp nước cho sinh hoạt và sản xuất giấy
Giếng làng cung cấp nước cho sinh hoạt và sản xuất giấy
Giếng làng cung cấp nước cho sinh hoạt và sản xuất giấy
Một giếng khác
Một giếng khác
Chỉ khác nhau khoảnh khắc bấm máy
Chỉ khác nhau khoảnh khắc bấm máy
Bức ảnh cuối cùng nằm trong bộ ảnh của Georges Auguste Marbotte, người tham gia xây dựng tuyến đường sắt Vân Nam. Tuy chỉ ghé qua Hà Nội trên đường sang Vân Nam, nhưng ông cũng kịp ghé thăm Làng Giấy. Điều này chứng tỏ sức lôi cuốn của làng nghề này đối với các kiều dân Pháp.
Bức ảnh cuối cùng nằm trong bộ ảnh của Georges Auguste Marbotte, người tham gia xây dựng tuyến đường sắt Vân Nam. Tuy chỉ ghé qua Hà Nội trên đường sang Vân Nam, nhưng ông cũng kịp ghé thăm Làng Giấy. Điều này chứng tỏ sức lôi cuốn của làng nghề này đối với các kiều dân Pháp.

Xem Thêm