Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam

Thành lập: 20 tháng 12, 1960. Giải thể: 31 tháng 1, 1977. Chủ tịch Nguyễn Hữu Thọ

Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam là một tổ chức liên minh chính trị, dân tộc chủ nghĩa cánh tả, hoạt động chống chính quyền Việt Nam Cộng hòa và sự can thiệp của Hoa Kỳ tại Việt Nam trong thời kỳ Chiến tranh Việt Nam. Đây là tổ chức kế thừa Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (Mặt trận của cả nước từ Bắc đến Nam) ở miền Nam (được công nhận bởi các tài liệu sau năm 1975) nhằm chống lại Hoa Kỳ và Việt Nam Cộng hòa ở miền Nam Việt Nam.

* Trong các chiến dịch Tố Cộng của mình năm 1956, Tổng thống Ngô Đình Diệm đã phổ biến cụm từ Việt Cộng để chỉ những người "Cộng sản Việt Nam"- viết ngắn gọn của từ Việt Nam Cộng-sản, (Vietnamese communist). Sau khi Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam được thành lập, nhiều người Nam Việt Nam cũng gọi những người tham gia Mặt trận này là "Việt Cộng".

Người Mỹ đọc là V.C (nguyên nhân nữa là do hai chữ cái V và C lần lượt được phát âm là Victor và Charlie theo bảng mẫu tự ngữ âm của NATO). Charlie cũng trở thành cách mà người Mỹ gọi cộng sản nói chung, bao gồm cả Mặt trận Dân tộc Giải phóng và Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam đánh bom Đại sứ quán Mỹ, ngày 30/3/1965.
Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam đánh bom Đại sứ quán Mỹ, ngày 30/3/1965.
Quân giải phóng miền Nam- được Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam thành lập, là một lực lượng quân sự mà nòng cốt là những người từng tham gia Việt Minh đồng thời bao gồm cả một số người từng là thành viên Cao Đài, Hòa Hảo, Bình Xuyên.

Mỹ ước tính vào giữa 1962 miền Nam Việt Nam có khoảng 2.500 làng, chiếm khoảng 85% tổng dân số, Mặt trận Giải phóng kiểm soát hiệu quả 20% số làng, ước tính 9% dân số nông thôn, tổng diện tích những ngôi làng này bao phủ một tỷ lệ lớn hơn nhiều ở vùng nông thôn. Ngược lại, Chính phủ Việt Nam Cộng hòa kiểm soát có hiệu quả khoảng 47% dân cư nông thôn và 33% số làng, phần lớn nằm ở vùng ven của các thành phố lớn, thị xã và các khu vực dân cư đông đúc hơn dọc theo các đường chính. Trong 47% vùng nông thôn và 44% dân cư nông thôn còn lại, không phải là Chính phủ Việt Nam Cộng hòa cũng không phải là Mặt trận Giải phóng kiểm soát có hiệu quả, mặc dù Chính phủ Việt Nam Cộng hòa ảnh hưởng dường như lớn hơn trong hầu hết những ngôi làng này. Theo tài liệu của Mỹ, tới năm 1965, Mặt trận Giải phóng đã kiểm soát lên đến 50% vùng nông thôn ở miền Nam Việt Nam.

Theo tài liệu phía cách mạng, năm 1962 phía cách mạng kiểm soát 76% lãnh thổ và 50% dân số toàn miền Nam. Từ 1964 đến 1965, vùng do Mặt trận kiểm soát chiếm 3/4 diện tích và 2/3 dân số miền Nam [20]. Năm 1968 Mặt trận quản lý 10/14 triệu người, trong đó "4 triệu sống trong vùng giải phóng và ít nhất 6 triệu rưỡi người nữa thuộc quyền cai trị bí mật của Mặt trận trong các vùng danh nghĩa là của Mỹ và Sài Gòn kiểm soát"
(wiki)
Quân giải phóng miền Nam- được Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam thành lập, là một lực lượng quân sự mà nòng cốt là những người từng tham gia Việt Minh đồng thời bao gồm cả một số người từng là thành viên Cao Đài, Hòa Hảo, Bình Xuyên.

Mỹ ước tính vào giữa 1962 miền Nam Việt Nam có khoảng 2.500 làng, chiếm khoảng 85% tổng dân số, Mặt trận Giải phóng kiểm soát hiệu quả 20% số làng, ước tính 9% dân số nông thôn, tổng diện tích những ngôi làng này bao phủ một tỷ lệ lớn hơn nhiều ở vùng nông thôn. Ngược lại, Chính phủ Việt Nam Cộng hòa kiểm soát có hiệu quả khoảng 47% dân cư nông thôn và 33% số làng, phần lớn nằm ở vùng ven của các thành phố lớn, thị xã và các khu vực dân cư đông đúc hơn dọc theo các đường chính. Trong 47% vùng nông thôn và 44% dân cư nông thôn còn lại, không phải là Chính phủ Việt Nam Cộng hòa cũng không phải là Mặt trận Giải phóng kiểm soát có hiệu quả, mặc dù Chính phủ Việt Nam Cộng hòa ảnh hưởng dường như lớn hơn trong hầu hết những ngôi làng này. Theo tài liệu của Mỹ, tới năm 1965, Mặt trận Giải phóng đã kiểm soát lên đến 50% vùng nông thôn ở miền Nam Việt Nam.

Theo tài liệu phía cách mạng, năm 1962 phía cách mạng kiểm soát 76% lãnh thổ và 50% dân số toàn miền Nam. Từ 1964 đến 1965, vùng do Mặt trận kiểm soát chiếm 3/4 diện tích và 2/3 dân số miền Nam [20]. Năm 1968 Mặt trận quản lý 10/14 triệu người, trong đó "4 triệu sống trong vùng giải phóng và ít nhất 6 triệu rưỡi người nữa thuộc quyền cai trị bí mật của Mặt trận trong các vùng danh nghĩa là của Mỹ và Sài Gòn kiểm soát"
(wiki)
Một con tem bưu chính của Cộng hòa Miền Nam Việt Nam
Một con tem bưu chính của Cộng hòa Miền Nam Việt Nam

Xem Thêm