Người và cảnh Hà Nội thời Pháp thuộc - Album 2

Mời các bạn xem Người và cảnh Hà Nội thời Pháp thuộc - Album 1 ở đây

https://www.facebook.com/media/set/?set=a.135136026531911.17394.133331390045708&type=3

DTT
Chợ hoa bên hồ Hoàn Kiếm, ngã tư Hàng Khay - Đinh Tiên Hoàng ngày nay
Chợ hoa bên hồ Hoàn Kiếm, ngã tư Hàng Khay - Đinh Tiên Hoàng ngày nay
Chợ hoa bên hồ Hoàn Kiếm, ngã tư Hàng Khay - Đinh Tiên Hoàng ngày nay
Chợ hoa bên hồ Hoàn Kiếm, ngã tư Hàng Khay - Đinh Tiên Hoàng ngày nay
Chợ hoa bên hồ Hoàn Kiếm, ngã tư Hàng Khay - Đinh Tiên Hoàng ngày nay
Chợ hoa bên hồ Hoàn Kiếm, ngã tư Hàng Khay - Đinh Tiên Hoàng ngày nay
Chợ hoa bên hồ Hoàn Kiếm, ngã tư Hàng Khay - Đinh Tiên Hoàng ngày nay
Chợ hoa bên hồ Hoàn Kiếm, ngã tư Hàng Khay - Đinh Tiên Hoàng ngày nay
Chợ hoa bên hồ Hoàn Kiếm, ngã tư Hàng Khay - Đinh Tiên Hoàng ngày nay
Chợ hoa bên hồ Hoàn Kiếm, ngã tư Hàng Khay - Đinh Tiên Hoàng ngày nay
Chợ hoa bên hồ Hoàn Kiếm, ngã tư Hàng Khay - Đinh Tiên Hoàng ngày nay
Chợ hoa bên hồ Hoàn Kiếm, ngã tư Hàng Khay - Đinh Tiên Hoàng ngày nay
Vườn hoa Vạn Xuân, Nhà thờ Cửa Bắc
Vườn hoa Vạn Xuân, Nhà thờ Cửa Bắc
Bến xe khách, nay là Trạm trung chuyển xe bus gần cầu Long Biên
Bến xe khách, nay là Trạm trung chuyển xe bus gần cầu Long Biên
Ngoại thành Hà Nội
Ngoại thành Hà Nội
Cửa Ô Quan Chưởng trên phố Jean Dupuis (nay là phố Hàng Chiếu)
Cửa Ô Quan Chưởng trên phố Jean Dupuis (nay là phố Hàng Chiếu)
Một đám tang
Một đám tang
Góc phố Nhà Chung, gần Nhà thờ Saint Joseph (Nhà thờ Lớn)
Góc phố Nhà Chung, gần Nhà thờ Saint Joseph (Nhà thờ Lớn)
Khách sạn Metropole
Khách sạn Metropole
Xe cút kít (xe rùa) trên phố
Xe cút kít (xe rùa) trên phố
Vàng mã trước một cổng chùa
Vàng mã trước một cổng chùa
Đài phun nước Bờ Hồ (Nay là Quảng trường Đông Kinh Nghĩa Thục)
Đài phun nước Bờ Hồ (Nay là Quảng trường Đông Kinh Nghĩa Thục)
Cảnh sinh hoạt trước dinh Toàn quyền
Cảnh sinh hoạt trước dinh Toàn quyền
Cầu Giấy
Cầu Giấy
Cổng chùa Láng
Cổng chùa Láng
Đại lộ Puginier nay là đường Điện Biên Phủ
Đại lộ Puginier nay là đường Điện Biên Phủ
Đò ngang
Đò ngang
Một trong các phòng vẽ của họa viên người An Nam tại Sở Địa dư, nơi các bản đồ Đông Dương được vẽ và in, (1896-1900)
Một trong các phòng vẽ của họa viên người An Nam tại Sở Địa dư, nơi các bản đồ Đông Dương được vẽ và in, (1896-1900)
Trẻ em nhà quê (ngoại thành Hà Nội)
Trẻ em nhà quê (ngoại thành Hà Nội)
Những người nông dân
Những người nông dân
Một ông cụ 103 tuổi ở Hà Nội
Một ông cụ 103 tuổi ở Hà Nội
Một người đàn ông Hà Nội
Một người đàn ông Hà Nội
Vận chuyển lợn bằng xe cút kít (xe rùa)
Vận chuyển lợn bằng xe cút kít (xe rùa)
Cửa hàng bách hóa của người Pháp, người Hà Nội khi đó quen gọi là "Nhà Godard" (tòa nhà được đặt theo tên của Sebastien Godard, người chịu trách nhiệm quy hoạch lại thành phố theo lệnh của Chính phủ Pháp thời bấy giờ, đặc biệt là khu vực Tràng Tiền.

Nay là Tràng Tiền Plaza
Cửa hàng bách hóa của người Pháp, người Hà Nội khi đó quen gọi là "Nhà Godard" (tòa nhà được đặt theo tên của Sebastien Godard, người chịu trách nhiệm quy hoạch lại thành phố theo lệnh của Chính phủ Pháp thời bấy giờ, đặc biệt là khu vực Tràng Tiền.

Nay là Tràng Tiền Plaza
Cột đồng hồ Hàng Đậu gần bến xe khách, nay là trạm trung chuyển xe bus
Cột đồng hồ Hàng Đậu gần bến xe khách, nay là trạm trung chuyển xe bus
Tòa Thị chính Hà Nội, nay là UBND TP. Hà Nội
Tòa Thị chính Hà Nội, nay là UBND TP. Hà Nội
Ô Quan Chưởng trên phố Jean-Dupuis, nay là phố Hàng Chiếu
Ô Quan Chưởng trên phố Jean-Dupuis, nay là phố Hàng Chiếu
Tháp nước Hà Nội trên phố Hàng Đậu
Tháp nước Hà Nội trên phố Hàng Đậu
Một đám rước thần trên phố
Một đám rước thần trên phố
Nhường đường cho trẻ em đi qua ở Hà Nội. 

(Ảnh của phóng viên Robert Capa ngày 23/5/1954)
Nhường đường cho trẻ em đi qua ở Hà Nội.

(Ảnh của phóng viên Robert Capa ngày 23/5/1954)
Cơ quan quản lí Dược do người Pháp xây dựng ở Hà Nội đầu thế kỉ 20.
 Pharmacie de M Blanc, Hanoi
Cơ quan quản lí Dược do người Pháp xây dựng ở Hà Nội đầu thế kỉ 20.
Pharmacie de M Blanc, Hanoi
Hồ Gươm (Hà Nội).
Hồ Gươm (Hà Nội).
Trước năm 1954, phụ nữ trong các gia đình trí thức, tư sản thường mặc áo dài khi ra khỏi nhà, dù là đi chợ. Chưa kể, một số gia đình quen buôn bán, giao thiệp, phụ nữ ở nhà còn mặc cả áo dài tiếp khách.
Trước năm 1954, phụ nữ trong các gia đình trí thức, tư sản thường mặc áo dài khi ra khỏi nhà, dù là đi chợ. Chưa kể, một số gia đình quen buôn bán, giao thiệp, phụ nữ ở nhà còn mặc cả áo dài tiếp khách.
Ba ái nữ nhà học giả Nguyễn Văn Vĩnh bên đàn dương cầm.
Ba ái nữ nhà học giả Nguyễn Văn Vĩnh bên đàn dương cầm.
Khung cảnh phố Hàng Trống (Rue Jules Ferry) sau cơn bão tràn vào Hà Nội ngày 09.06.1903.
Khung cảnh phố Hàng Trống (Rue Jules Ferry) sau cơn bão tràn vào Hà Nội ngày 09.06.1903.
Khung cảnh náo nhiệt ngày Chủ nhật ở vườn Bách thảo Hà Nội thời Pháp thuộc.
Khung cảnh náo nhiệt ngày Chủ nhật ở vườn Bách thảo Hà Nội thời Pháp thuộc.
Có thể bạn chưa biết.

Tết năm 1952 cầu Thê Húc-Hà Nội bị gãy. Để có thiết kế đẹp Thị trưởng Hà Nội là Thẩm Hoàng Tín tổ chức cuộc thi thiết kế mẫu và trong hơn ba chục mẫu của các kiến trúc sư cả Pháp lẫn Việt tham gia thì thiết kế của kiến trúc sư Nguyễn Ngọc Diệm (1908-1999) được lựa chọn.

Vẫn giữ lại dáng cong cầu vồng xưa nhưng Nguyễn Ngọc Diệm thiết kế cong hơn để cầu khỏe hơn, đồng thời làm cầu nổi hơn. Nguyễn Ngọc Diệm giữ nguyên 16 hàng cọc tròn nhưng các đầu trụ được vuốt nhọn như gợi nhớ lại chiến thắng của Ngô Quyền trên sông Bạch Đằng. Dầm ngang và dầm dọc của Thê Húc đúc bằng bê tông để kéo dài tuổi thọ, tuy nhiên mặt và thành cầu, ông thiết kế bằng gỗ. Trong quá trình xây lại cầu, họ dựng cầu tạm bên cạnh.

Năm 1952 đang là chiến tranh Pháp-Việt, nên sự kiện lớn này gây chú ý của cư dân Hà Nội.
Có thể bạn chưa biết.

Tết năm 1952 cầu Thê Húc-Hà Nội bị gãy. Để có thiết kế đẹp Thị trưởng Hà Nội là Thẩm Hoàng Tín tổ chức cuộc thi thiết kế mẫu và trong hơn ba chục mẫu của các kiến trúc sư cả Pháp lẫn Việt tham gia thì thiết kế của kiến trúc sư Nguyễn Ngọc Diệm (1908-1999) được lựa chọn.

Vẫn giữ lại dáng cong cầu vồng xưa nhưng Nguyễn Ngọc Diệm thiết kế cong hơn để cầu khỏe hơn, đồng thời làm cầu nổi hơn. Nguyễn Ngọc Diệm giữ nguyên 16 hàng cọc tròn nhưng các đầu trụ được vuốt nhọn như gợi nhớ lại chiến thắng của Ngô Quyền trên sông Bạch Đằng. Dầm ngang và dầm dọc của Thê Húc đúc bằng bê tông để kéo dài tuổi thọ, tuy nhiên mặt và thành cầu, ông thiết kế bằng gỗ. Trong quá trình xây lại cầu, họ dựng cầu tạm bên cạnh.

Năm 1952 đang là chiến tranh Pháp-Việt, nên sự kiện lớn này gây chú ý của cư dân Hà Nội.
Toà bưu điện Hà Nội đầu tiên (đối diện tháp Hoà Phong) gần hồ Gươm.
Bưu điện Hà Nội được xây trên nền đất chùa Báo Ân, từng có tới 4 toà nhà, ngay dưới thời Pháp, bưu điện đã bị đập đi xây lại hai lần.
Toà bưu điện Hà Nội đầu tiên (đối diện tháp Hoà Phong) gần hồ Gươm.
Bưu điện Hà Nội được xây trên nền đất chùa Báo Ân, từng có tới 4 toà nhà, ngay dưới thời Pháp, bưu điện đã bị đập đi xây lại hai lần.
Người Hà Nội với những sinh hoạt ngoài đường đầu thế kỉ 20. (Le Travail dans la Rue).

 Quá trình giao thời đang diễn ra trong lối sống của người dân đô thị: Tóc búi vấn khăn bên những mái tóc ngắn khoẻ mạnh, mũ phớt, giầy tây hiện diện quanh cái chõng tre.
Trang phục của nguòi đàn ông cũng cho biết nghề nghiệp của họ: gấu quần khác mầu là kiểu đồng phục của các anh phu xe.
Người Hà Nội với những sinh hoạt ngoài đường đầu thế kỉ 20. (Le Travail dans la Rue).

Quá trình giao thời đang diễn ra trong lối sống của người dân đô thị: Tóc búi vấn khăn bên những mái tóc ngắn khoẻ mạnh, mũ phớt, giầy tây hiện diện quanh cái chõng tre.
Trang phục của nguòi đàn ông cũng cho biết nghề nghiệp của họ: gấu quần khác mầu là kiểu đồng phục của các anh phu xe.
Những phụ nữ duyên dáng bên đình (Hà Nội).
Những phụ nữ duyên dáng bên đình (Hà Nội).
Tháp chùa Báo Ân - Hà Nội, cuối thế kỉ 19.
Tháp chùa Báo Ân - Hà Nội, cuối thế kỉ 19.
Trẻ em miền Bắc đầu thế kỉ 20.
Trẻ em miền Bắc đầu thế kỉ 20.
CẦU LONG BIÊN (HÀ NỘI)

Ít người biết người chủ xướng xây cầu là Toàn quyền Đông Dương Paul Doumer đã phải đối mặt với những ý kiến phản đối, hoài nghi và chế giễu như thế nào. Tờ báo Thư tín Hải Phòng (Courries de Haiphong) viết “Khi xây một cây cầu, người ta phải biết nó có dùng được hay không, liệu nó có bắc ngang một con sông hay không. Thế nhưng ông ta (Paul Doumer) không nghĩ tới điều đó, không nghĩ tới sự thay đổi liên tục của sông Hồng. Ông ta không nghĩ tới việc con sông tính khí thất thường này luôn thay đổi dòng chảy. Hơn nữa ông ta phải biết là toà công sứ tỉnh Hưng Yên đã bị dòng sông nuốt chửng, phải biết trong tỉnh Sơn Tây có một dòng sông cũ cách con sông hiện nay 5km, có biết rằng một sáng mở mắt ra ngưòi ta sẽ thấy một cây cầu đẹp nằm trên đất chắc chắn cách dòng sông cái quỷ quái hàng trăm mét”.

Tuy nhiên Poul Doumer vẫn quyết tâm xây dựng và hoàn thành năm 1902, cầu Long Biên vượt lên chức năng giao thông trở thành kiệt tác điêu khắc - kiến trúc - kết cấu thép trong cùng một thứ gắn bó với Hà Nội trăm năm qua - Nó xứng đáng được coi là một trong những biểu tượng của thành phố luôn dịch chuyển nhưng vẫn đọng lại, ngưng lại những ký ức không tên.

Nguồn ảnh: Dương Trung Quốc.
CẦU LONG BIÊN (HÀ NỘI)

Ít người biết người chủ xướng xây cầu là Toàn quyền Đông Dương Paul Doumer đã phải đối mặt với những ý kiến phản đối, hoài nghi và chế giễu như thế nào. Tờ báo Thư tín Hải Phòng (Courries de Haiphong) viết “Khi xây một cây cầu, người ta phải biết nó có dùng được hay không, liệu nó có bắc ngang một con sông hay không. Thế nhưng ông ta (Paul Doumer) không nghĩ tới điều đó, không nghĩ tới sự thay đổi liên tục của sông Hồng. Ông ta không nghĩ tới việc con sông tính khí thất thường này luôn thay đổi dòng chảy. Hơn nữa ông ta phải biết là toà công sứ tỉnh Hưng Yên đã bị dòng sông nuốt chửng, phải biết trong tỉnh Sơn Tây có một dòng sông cũ cách con sông hiện nay 5km, có biết rằng một sáng mở mắt ra ngưòi ta sẽ thấy một cây cầu đẹp nằm trên đất chắc chắn cách dòng sông cái quỷ quái hàng trăm mét”.

Tuy nhiên Poul Doumer vẫn quyết tâm xây dựng và hoàn thành năm 1902, cầu Long Biên vượt lên chức năng giao thông trở thành kiệt tác điêu khắc - kiến trúc - kết cấu thép trong cùng một thứ gắn bó với Hà Nội trăm năm qua - Nó xứng đáng được coi là một trong những biểu tượng của thành phố luôn dịch chuyển nhưng vẫn đọng lại, ngưng lại những ký ức không tên.

Nguồn ảnh: Dương Trung Quốc.
Báo con bú mẹ chó (ở Huế) trên bưu thiếp thời Pháp thuộc.
Báo con bú mẹ chó (ở Huế) trên bưu thiếp thời Pháp thuộc.
Một viên quan trong bộ thường phục năm 1884.

Ảnh của Bác sĩ Hocquard.
Một viên quan trong bộ thường phục năm 1884.

Ảnh của Bác sĩ Hocquard.
Tem Đông Dương vinh danh Toàn quyền Paul Doumer do hoạ sĩ Bùi Trang Chước vẽ.

Toàn quyền Đông Dương Paul Doumer (1857-1932) đã thực hiện được nhiều đại công trình tại Ðông Dương, bao gồm hệ thống 1,625 km đường xe lửa, dựng cầu Doumer (cầu Long Biên Hà Nội) trên sông Hồng dài 1,680 m, tổ chức ngân sách Ðông Dương, lập Phái Ðoàn Khảo Cổ Ðông Dương (1898) năm sau đổi tên thành Trường Viễn Ðông Bác Cổ, nha khí tượng, nha địa chất, trường đại học Y Dược...
Tem Đông Dương vinh danh Toàn quyền Paul Doumer do hoạ sĩ Bùi Trang Chước vẽ.

Toàn quyền Đông Dương Paul Doumer (1857-1932) đã thực hiện được nhiều đại công trình tại Ðông Dương, bao gồm hệ thống 1,625 km đường xe lửa, dựng cầu Doumer (cầu Long Biên Hà Nội) trên sông Hồng dài 1,680 m, tổ chức ngân sách Ðông Dương, lập Phái Ðoàn Khảo Cổ Ðông Dương (1898) năm sau đổi tên thành Trường Viễn Ðông Bác Cổ, nha khí tượng, nha địa chất, trường đại học Y Dược...
QUÂN ĐỘI THỜI NGUYỄN

Quân sự, dưới triều Nguyễn binh lực và cách tổ chức rất lạc hậu so với Pháp.
Theo Phan Khoang, từ thời Minh Mạng, binh chế nước ta gồm bộ binh, thủy binh, kỵ binh, tượng binh, pháo thủ binh. Theo tờ trình của Phạm Phú Thứ tháng 2 năm Tự Đức 27 (1874) thì: 
"Quân lính ít tập luyện, bắn là thuật cần thiết mà mỗi năm chỉ tập một lần thôi, cho nên lâm sự thì rối lên, có khi vừa thấy quân địch đã sợ.

Binh khí thì là gươm, giáo, siêu, mã tấu, súng đại bác, súng điểu thương. Súng đại bác này đều nạp tiền, bắn 10 phát chưa trúng một, khi dời đi thì phải xe đẩy nặng nề, khi các thần công không đi, lại phải cúng vái và đổ sâm thuốc; súng điểu thương này nổ bằng đá lửa, bắn xa độ 250 thước hay 300 thước là cùng, mỗi đội 50 người lính thì chỉ có 5 người cầm súng điểu thương, mỗi người chỉ bắn có 6 phát đạn mà thôi, hễ ai bắn quá số thì phải bồi, muốn bắn phải lấy thuốc súng (đựng trong một cái bao mang ở nịt lưng) bỏ vào lòng súng, dùng ống thông hồng ép thuốc vào cho chặt rồi bỏ vào viên chì (đựng trong cái bầu mang ở cổ), rồi bóp cò cho viên đá lửa nẩy làm cháy thuốc ngòi; vậy bắn được một phát súng đã tốn mất bao nhiêu thì giờ rồi, ấy là chưa nói khi bóp cò mãi mà đá lửa không bật lửa ra cho.

Trong lá thư đề ngày 18-5-1842, cố đạo Jean Miche đã kể như sau về việc huấn luyện của lính triều đình nhà Nguyễn:

… Từ khi chúng tôi ở đấy, chúng tôi chưa từng thấy một tên lính tập dùng võ khí. Có kẻ đã đi tòng quân từ 20 năm mà chưa từng thấy rút gươm ra khỏi vỏ, trừ khi có những vụ xử trảm. Đây là cách duy nhất để tập luyện: buổi chiều trước khi mặt trời lặn, người ta đặt ở giữa sân trong mỗi trại lính một hình nộm bằng rơm che thân bằng một manh chiếu rách cố làm cho giống mặt người rồi những tên lính tiến lên tay cầm một chiếc roi mây, chăm chỉ nghe chỉ thị của một ông râu già nhất trong trại và quất vào con ma ấy cho đến khi nó bị rách bươm. Những lính nào quất phát sau trúng phát trước và tạo nên một đường rãnh sâu là anh hùng, chúng đã biết cách tra tấn …"

Vì vậy Francis Garnier với một đội quân trên dưới 200 người Pháp đã đánh chiếm được bốn tỉnh Bắc Kỳ và chỉ một người Pháp và bảy lính lấy được thành Ninh Bình.

Ảnh: Người lính thời Nguyễn.
QUÂN ĐỘI THỜI NGUYỄN

Quân sự, dưới triều Nguyễn binh lực và cách tổ chức rất lạc hậu so với Pháp.
Theo Phan Khoang, từ thời Minh Mạng, binh chế nước ta gồm bộ binh, thủy binh, kỵ binh, tượng binh, pháo thủ binh. Theo tờ trình của Phạm Phú Thứ tháng 2 năm Tự Đức 27 (1874) thì:
"Quân lính ít tập luyện, bắn là thuật cần thiết mà mỗi năm chỉ tập một lần thôi, cho nên lâm sự thì rối lên, có khi vừa thấy quân địch đã sợ.

Binh khí thì là gươm, giáo, siêu, mã tấu, súng đại bác, súng điểu thương. Súng đại bác này đều nạp tiền, bắn 10 phát chưa trúng một, khi dời đi thì phải xe đẩy nặng nề, khi các thần công không đi, lại phải cúng vái và đổ sâm thuốc; súng điểu thương này nổ bằng đá lửa, bắn xa độ 250 thước hay 300 thước là cùng, mỗi đội 50 người lính thì chỉ có 5 người cầm súng điểu thương, mỗi người chỉ bắn có 6 phát đạn mà thôi, hễ ai bắn quá số thì phải bồi, muốn bắn phải lấy thuốc súng (đựng trong một cái bao mang ở nịt lưng) bỏ vào lòng súng, dùng ống thông hồng ép thuốc vào cho chặt rồi bỏ vào viên chì (đựng trong cái bầu mang ở cổ), rồi bóp cò cho viên đá lửa nẩy làm cháy thuốc ngòi; vậy bắn được một phát súng đã tốn mất bao nhiêu thì giờ rồi, ấy là chưa nói khi bóp cò mãi mà đá lửa không bật lửa ra cho.

Trong lá thư đề ngày 18-5-1842, cố đạo Jean Miche đã kể như sau về việc huấn luyện của lính triều đình nhà Nguyễn:

… Từ khi chúng tôi ở đấy, chúng tôi chưa từng thấy một tên lính tập dùng võ khí. Có kẻ đã đi tòng quân từ 20 năm mà chưa từng thấy rút gươm ra khỏi vỏ, trừ khi có những vụ xử trảm. Đây là cách duy nhất để tập luyện: buổi chiều trước khi mặt trời lặn, người ta đặt ở giữa sân trong mỗi trại lính một hình nộm bằng rơm che thân bằng một manh chiếu rách cố làm cho giống mặt người rồi những tên lính tiến lên tay cầm một chiếc roi mây, chăm chỉ nghe chỉ thị của một ông râu già nhất trong trại và quất vào con ma ấy cho đến khi nó bị rách bươm. Những lính nào quất phát sau trúng phát trước và tạo nên một đường rãnh sâu là anh hùng, chúng đã biết cách tra tấn …"

Vì vậy Francis Garnier với một đội quân trên dưới 200 người Pháp đã đánh chiếm được bốn tỉnh Bắc Kỳ và chỉ một người Pháp và bảy lính lấy được thành Ninh Bình.

Ảnh: Người lính thời Nguyễn.
VỀ NGÔI NHÀ 107 TRẦN HƯNG ĐẠO – MỘT CÔNG TRÌNH VĂN HÓA THỜI PHÁP THUỘC BỊ ĐỔ SẬP

Trưa 22.9.2015, ngôi nhà số 107 đường Trần Hưng Đạo, Hà Nội bông nhiên sập đổ khiến 2 người chết và nhiều người bị thương, nhiều nhà dân lân cận bị hư hại. Từ Paris, Tiến sĩ Trần Thu Dung cung cấp những tư liệu quý về ngôi nhà này.

Hè năm 2014, tôi mang cái ảnh về một ngôi nhà không có địa chỉ được in trên bưu ảnh đề « chi nhánh Hội Tam Điểm, Hà Nội » đi hỏi khắp nơi, nhưng không ai biết cái nhà này nằm đâu. Mấy tay lái taxi Hà Nội đều lắc đầu. Tôi gặp nhà báo Nguyễn Văn Ba hay viết về Hà Nội ông cũng chịu và đưa cho tôi cuốn về sách ảnh về phố phường Hà Nội, nhưng không có ảnh ngôi nhà này. Ông Ba khuyên tôi đi gặp cụ Hữu Ngọc giám đốc nhà xuất bản Thế giới may ra tìm được. Đến nhà xuất bản Thế giới, tôi kiên nhẫn ngồi chờ cụ Hữu Ngọc hơn một tiếng, vì biết cụ hơn 90 tuổi đi ra khỏi nhà phải phụ thuộc con cháu với hy vọng sẽ tìm được ngôi nhà này vì cụ ở Hà Nội khá lâu. Cụ bảo « thấy đâu đó, quen quen, nhưng tôi không nhớ ». Tưởng thất vọng, may thay tình cờ tôi gặp anh Nguyễn Lân Bình, cháu nội của nhà báo Nguyễn Văn Vĩnh, đã nhiệt tình đưa tôi đến đó. Anh Bình biết ngôi nhà này rất rõ vì ông cụ thân sinh ra anh đã chỉ cho anh nơi làm tang lễ cụ Nguyễn Văn Vĩnh. Ngôi nhà nằm ở số 107 đường Trần Hưng Đạo, ngay gần ga Hà Nội (trước gọi là ga Hàng Cỏ).

Ngôi nhà này trước là trụ sở của chi hội Tam Điểm « Tình huynh đệ Bắc Kỳ » thành lập năm 1887. Thời Pháp thuộc, nước Pháp nổi tiếng là mênh mông thuộc địa. Sự vinh quang này gắn liền với thành công của hội Tam Điểm. Các thành viên của Hội Tam Điểm hầu như nắm các vị trí chủ yếu trong chính quyền thuộc địa (22/32 vị toàn quyền Đông Dương, 6/8 Cao ủy Viên, 4/4 tổng ủy viên, 9/16 là thống đốc quân sự là thành viên Tam Điểm. Như vậy đại đa số những người nắm quyền ở Đông Dương thời đó là thành viên hội. Hội Tam Điểm chỉ kết nạp những thành viên xuất sắc, giàu có, thành đạt trong xã hội. Nhiều giáo chức, công chức Pháp qua Đông Dương làm việc cũng là thành viên Tam Điểm. Bộ trưởng Bộ thuộc địa, tổng thống thời đó là thành viên Tam điểm. Hội Tam Điểm vốn là hội kín, nhưng sang đến thuộc địa, hội lại tổ chức hoạt động công khai để phô trương thế lực. Nóc nhà Đông Dương hình kim tự tháp là biểu tượng cho sự thành công đi chinh phục thuộc địa của nước Pháp, đồng thời cũng là biểu tượng của hội Tam Điểm. Nhà báo Nguyễn Văn Vĩnh là người bản xứ đầu tiên được kết nạp một cách đặc biệt vì tài năng xuất chúng. Thời đó những người thực dân Tam Điểm không muốn người bản xứ tham gia vì phân biệt chủng tộc. Hội Tam Điểm vốn đề cao « Tự do, bình đẳng, bác ái », nhưng lại chưa muốn áp dụng khẩu hiệu này với người bản xứ. Một số trí thức xuất sắc của Việt Nam thời đó đã biết đó là một hội tiến bộ, có thể dựa vào hội này để tim cách lôi kéo những người Pháp tiến bộ để đòi tự do bình đẳng cho người dân tộc, dần dần đòi độc lập bằng con đường hòa bình. Lo ngại những người trí thức Việt sẽ đòi « bình đẳng, giải phóng thuộc địa », các thành viên Tam Điểm thực dân từ chối việc kết nạp người bản xứ vào hội. Một số thành viên hội Tam điểm người Pháp tiến bộ đã tìm cách đưa Nguyễn Văn Vĩnh qua Pháp nhân dịp hội chợ thuộc địa, đã kết nạp ông tại Pháp. Vì thế khi Nguyễn Văn Vĩnh mất lễ tang của ông đã được cử hành theo nghi lễ của hội Tam Điểm.

Tang lễ tổ chức ở trụ sở của Hội Tam Điểm (tức là ngôi nhà số 107 đường Trần Hưng Đạo, Hà Nội ngày nay). Ngôi nhà nằm trong khuôn viên rộng rất đẹp. Theo như báo chí miêu tả về lễ tang Nguyễn Văn Vĩnh, cả gần ngàn người đến viếng, đứng xung quanh khuôn viên rất đông. Bây giờ ngôi nhà đã thuộc về Tổng cục đường sắt. Khi tôi đi qua, vào giữa trưa hè nắng chang chang, hàng rào trước ngôi nhà đầy chăn, vải bạt vắt, giăng chằng chịt. Các hàng quán lôi thôi lếch thếch chiếm hết khuôn viên xưa, hàng rào xung quanh biến mất. Ngôi nhà mốc meo và ẩm ướt dù trời Hà Nội đang mùa nóng kinh khủng.

Nay ngôi nhà đã sập vì không được trùng tu. Rất tiếc nếu ngôi nhà này còn, Hà Nội sẽ còn một ngôi nhà nhân chứng cho một thời hoàng kim của Pháp và sẽ làm tôn thêm chiến thắng của người Việt Nam.

Ngôi nhà này sập là một công trình văn hóa mang tính chất lịch sử đã mất. Năm 1945, nhiều công trình do Pháp xây bị phá vì người chiến thắng vô tình muốn xóa hết dấu vết ngoại bang, nhưng quên đi giá trị lịch sử của nó như tượng nữ thần tự do ở vườn hoa Cửa Nam, Hà Nội. Đó là phiên bản hiếm. Trên thế giới có năm phiên bản. Một phiên bản được Hội Tam Điểm mang sang triển lãm Đấu Xảo. Chính quyền Pháp ngoài việc xây dựng những công trình văn hóa lớn như thư viện, nhà hát lớn, dinh, cầu… còn mong muốn áp đặt văn hóa Pháp trên văn hóa cổ truyền bản xứ. Bức tượng nữ thần tự do ở Hà nội là một bằng chứng văn hóa dân tộc chống xâm lược của văn hóa ngoại bang. Đầu thế kỉ 20, hội Tam Điểm nở rộ ở Đông Dương. Không phải ngẫu nhiên, nhân ngày khánh thành triển lãm nhà Đấu xảo năm 1902, một phiên bản Tượng Nữ thần Tự do cao 2,85 mét được kỳ công mang từ Pháp sang Đông Dương và sau triển lãm được đem tặng lại thành phố Hà Nội. Bức tuợng này được hội Tam Điểm “Huynh đệ Bắc kỳ” mua để làm triển lãm. Tượng thần tự do hình một bà đầm mặc váy trên tháp rùa mang nhiều ý nghĩa. Phụ nữ và tự do, giải phóng chế độ phong kiến nặng nề ở Việt Nam. Tháp rùa là nơi linh thiêng của dân tộc giờ nằm dưới lý tưởng tự do. Việt Nam thời đó còn mang nặng tư tưởng trọng nam khinh nữ. Tư tưởng tự do đã làm đảo lộn suy tư cổ hủ ở Việt Nam. Chính quyền thuộc địa Pháp đã có công xóa bỏ tư tưởng phong kiến ảnh hưởng Trung Hoa bằng văn hóa phủ nhận văn hóa. Hình ảnh tượng nữ thần tự do chính là tượng trưng cho văn hóa Tây đang ngự trị văn hóa cổ truyền Việt Nam đầu thế kỷ 20. Nhưng sau đó bức tượng bị dời qua vườn hoa Cửa Nam. Người Việt Nam không thấy đó là hình ảnh giải phóng phụ nữ, mà cho đó là một sự phỉ báng dân tộc, nên gọi nôm na là bà đầm xòe. Việc tháo gỡ bà đầm xòe khỏi tháp rùa cũng là thể hiện sức mạnh tâm linh của người Việt Nam kháng cự văn hóa ngoại bang. Sự không đồng thuận của người Việt buộc chính quyền thuộc địa phải hạ xuống mang đi chỗ khác. Tượng nữ thần tự do bị di chuyển đi sang Cửa Nam là một bằng chứng sức mạnh trường tồn của văn hóa tín ngưỡng dân tộc Việt. Tháp rùa và hồ Hoàn Kiếm đã gắn sâu trong tiềm thức tự hào của người Việt Nam chống xâm lăng. Lê Lợi sau khi chiến thắng đã đến đây trả lại gươm cho Thần Kim quy. Sự kéo đổ vỡ bức tượng ở Cửa Nam là không cần thiết. Vì đó cũng là một di tích lịch sử trong cuộc chiến tranh chống thực dân Pháp để chứng minh người Việt không chịu khuất phục cho kẻ xâm lăng động đến hồn dân tộc, đè lên tháp rùa. và là một phiên bản nghệ thuật quý bằng đồng. Tượng thần tự do ở Mỹ ngày nay là một địa điểm du lịch nổi tiếng. Nếu phiên bản này còn ở Việt Nam chắc chắn sẽ là một điểm thu hút khách đến thăm Việt Nam.

Các công trình xây dựng đẹp, hoành tráng cũng là di tích văn hóa. Bảo vệ di tích văn hóa là cũng là bảo vệ chủ quyền lãnh thổ. Vì thế chính quyền thuộc địa Pháp đã cho xây rất nhiều công trình, như nóc nhà Đông Dương, cột mốc Hoàng Sa, các dinh thự ở những nơi nhạy cảm gần biên giới Trung Quốc để khẳng định chủ quyền lãnh thổ. Khi bàn chiến tranh biên giới các nước đều tìm cách dùng các công trình văn hóa xưa trong sử sách để chứng minh chủ quyền lãnh thổ. Xây dựng và bảo tồn những công trình văn hóa, giữ gìn bản sắc dân tộc và ngôn ngữ là một hình thức bảo vệ chủ quyền quốc gia một cách văn minh, hữu hiệu và lịch sự với láng giềng và vừa khuyến khích di dân khai phá vùng xa, vừa khuyến khích các dân tộc xích lại gần cùng nhau xây dựng và bảo vệ tổ quốc. Văn hóa cũng là hình thức giáo dục cần thiết giúp hình thành nhân cách con người văn hóa của một đất nước, hướng con người tới sự hoàn thiện trong xã hội văn hóa.

Khi các công trình biến mất vì thiên tai, chiến tranh, hội họa nhiếp ảnh, ngôn ngữ, sách ghi chép, tài liệu lịch sử đều là những bằng chứng sống động để bảo vệ lãnh thổ. Do đó việc đầu tư văn hóa là điều rất đáng quan tâm, nhất là thời đại nay, càng cần phải đầu tư cho văn hóa vì kỹ thuật số sẽ nhanh chóng truyền đi khắp thế giới. Một số người do không hiểu biết, và quá khích khi độc lập đã muốn xóa bỏ tất cả dấu vết của ngoại bang, đã vô tình làm mất đi một nguồn tài liệu quý báu về chủ quyền lãnh thổ. Số nhà 107 Trần Hưng Đạo là một điển hình vừa mất đi một di tích lịch sử quý.

Trần Thu Dung

Ảnh: Bưu ảnh Ngôi nhà không địa chỉ. Trụ sở sinh hoạt của hội Tam Điểm chi nhánh «Tình Huynh Đệ Bắc kỳ» thuộc Đại Đông Pháp. Nay là ngôi nhà 107 Trần Hưng Đạo vừa bị sụp đổ do không được trùng tu, bảo vệ.
VỀ NGÔI NHÀ 107 TRẦN HƯNG ĐẠO – MỘT CÔNG TRÌNH VĂN HÓA THỜI PHÁP THUỘC BỊ ĐỔ SẬP

Trưa 22.9.2015, ngôi nhà số 107 đường Trần Hưng Đạo, Hà Nội bông nhiên sập đổ khiến 2 người chết và nhiều người bị thương, nhiều nhà dân lân cận bị hư hại. Từ Paris, Tiến sĩ Trần Thu Dung cung cấp những tư liệu quý về ngôi nhà này.

Hè năm 2014, tôi mang cái ảnh về một ngôi nhà không có địa chỉ được in trên bưu ảnh đề « chi nhánh Hội Tam Điểm, Hà Nội » đi hỏi khắp nơi, nhưng không ai biết cái nhà này nằm đâu. Mấy tay lái taxi Hà Nội đều lắc đầu. Tôi gặp nhà báo Nguyễn Văn Ba hay viết về Hà Nội ông cũng chịu và đưa cho tôi cuốn về sách ảnh về phố phường Hà Nội, nhưng không có ảnh ngôi nhà này. Ông Ba khuyên tôi đi gặp cụ Hữu Ngọc giám đốc nhà xuất bản Thế giới may ra tìm được. Đến nhà xuất bản Thế giới, tôi kiên nhẫn ngồi chờ cụ Hữu Ngọc hơn một tiếng, vì biết cụ hơn 90 tuổi đi ra khỏi nhà phải phụ thuộc con cháu với hy vọng sẽ tìm được ngôi nhà này vì cụ ở Hà Nội khá lâu. Cụ bảo « thấy đâu đó, quen quen, nhưng tôi không nhớ ». Tưởng thất vọng, may thay tình cờ tôi gặp anh Nguyễn Lân Bình, cháu nội của nhà báo Nguyễn Văn Vĩnh, đã nhiệt tình đưa tôi đến đó. Anh Bình biết ngôi nhà này rất rõ vì ông cụ thân sinh ra anh đã chỉ cho anh nơi làm tang lễ cụ Nguyễn Văn Vĩnh. Ngôi nhà nằm ở số 107 đường Trần Hưng Đạo, ngay gần ga Hà Nội (trước gọi là ga Hàng Cỏ).

Ngôi nhà này trước là trụ sở của chi hội Tam Điểm « Tình huynh đệ Bắc Kỳ » thành lập năm 1887. Thời Pháp thuộc, nước Pháp nổi tiếng là mênh mông thuộc địa. Sự vinh quang này gắn liền với thành công của hội Tam Điểm. Các thành viên của Hội Tam Điểm hầu như nắm các vị trí chủ yếu trong chính quyền thuộc địa (22/32 vị toàn quyền Đông Dương, 6/8 Cao ủy Viên, 4/4 tổng ủy viên, 9/16 là thống đốc quân sự là thành viên Tam Điểm. Như vậy đại đa số những người nắm quyền ở Đông Dương thời đó là thành viên hội. Hội Tam Điểm chỉ kết nạp những thành viên xuất sắc, giàu có, thành đạt trong xã hội. Nhiều giáo chức, công chức Pháp qua Đông Dương làm việc cũng là thành viên Tam Điểm. Bộ trưởng Bộ thuộc địa, tổng thống thời đó là thành viên Tam điểm. Hội Tam Điểm vốn là hội kín, nhưng sang đến thuộc địa, hội lại tổ chức hoạt động công khai để phô trương thế lực. Nóc nhà Đông Dương hình kim tự tháp là biểu tượng cho sự thành công đi chinh phục thuộc địa của nước Pháp, đồng thời cũng là biểu tượng của hội Tam Điểm. Nhà báo Nguyễn Văn Vĩnh là người bản xứ đầu tiên được kết nạp một cách đặc biệt vì tài năng xuất chúng. Thời đó những người thực dân Tam Điểm không muốn người bản xứ tham gia vì phân biệt chủng tộc. Hội Tam Điểm vốn đề cao « Tự do, bình đẳng, bác ái », nhưng lại chưa muốn áp dụng khẩu hiệu này với người bản xứ. Một số trí thức xuất sắc của Việt Nam thời đó đã biết đó là một hội tiến bộ, có thể dựa vào hội này để tim cách lôi kéo những người Pháp tiến bộ để đòi tự do bình đẳng cho người dân tộc, dần dần đòi độc lập bằng con đường hòa bình. Lo ngại những người trí thức Việt sẽ đòi « bình đẳng, giải phóng thuộc địa », các thành viên Tam Điểm thực dân từ chối việc kết nạp người bản xứ vào hội. Một số thành viên hội Tam điểm người Pháp tiến bộ đã tìm cách đưa Nguyễn Văn Vĩnh qua Pháp nhân dịp hội chợ thuộc địa, đã kết nạp ông tại Pháp. Vì thế khi Nguyễn Văn Vĩnh mất lễ tang của ông đã được cử hành theo nghi lễ của hội Tam Điểm.

Tang lễ tổ chức ở trụ sở của Hội Tam Điểm (tức là ngôi nhà số 107 đường Trần Hưng Đạo, Hà Nội ngày nay). Ngôi nhà nằm trong khuôn viên rộng rất đẹp. Theo như báo chí miêu tả về lễ tang Nguyễn Văn Vĩnh, cả gần ngàn người đến viếng, đứng xung quanh khuôn viên rất đông. Bây giờ ngôi nhà đã thuộc về Tổng cục đường sắt. Khi tôi đi qua, vào giữa trưa hè nắng chang chang, hàng rào trước ngôi nhà đầy chăn, vải bạt vắt, giăng chằng chịt. Các hàng quán lôi thôi lếch thếch chiếm hết khuôn viên xưa, hàng rào xung quanh biến mất. Ngôi nhà mốc meo và ẩm ướt dù trời Hà Nội đang mùa nóng kinh khủng.

Nay ngôi nhà đã sập vì không được trùng tu. Rất tiếc nếu ngôi nhà này còn, Hà Nội sẽ còn một ngôi nhà nhân chứng cho một thời hoàng kim của Pháp và sẽ làm tôn thêm chiến thắng của người Việt Nam.

Ngôi nhà này sập là một công trình văn hóa mang tính chất lịch sử đã mất. Năm 1945, nhiều công trình do Pháp xây bị phá vì người chiến thắng vô tình muốn xóa hết dấu vết ngoại bang, nhưng quên đi giá trị lịch sử của nó như tượng nữ thần tự do ở vườn hoa Cửa Nam, Hà Nội. Đó là phiên bản hiếm. Trên thế giới có năm phiên bản. Một phiên bản được Hội Tam Điểm mang sang triển lãm Đấu Xảo. Chính quyền Pháp ngoài việc xây dựng những công trình văn hóa lớn như thư viện, nhà hát lớn, dinh, cầu… còn mong muốn áp đặt văn hóa Pháp trên văn hóa cổ truyền bản xứ. Bức tượng nữ thần tự do ở Hà nội là một bằng chứng văn hóa dân tộc chống xâm lược của văn hóa ngoại bang. Đầu thế kỉ 20, hội Tam Điểm nở rộ ở Đông Dương. Không phải ngẫu nhiên, nhân ngày khánh thành triển lãm nhà Đấu xảo năm 1902, một phiên bản Tượng Nữ thần Tự do cao 2,85 mét được kỳ công mang từ Pháp sang Đông Dương và sau triển lãm được đem tặng lại thành phố Hà Nội. Bức tuợng này được hội Tam Điểm “Huynh đệ Bắc kỳ” mua để làm triển lãm. Tượng thần tự do hình một bà đầm mặc váy trên tháp rùa mang nhiều ý nghĩa. Phụ nữ và tự do, giải phóng chế độ phong kiến nặng nề ở Việt Nam. Tháp rùa là nơi linh thiêng của dân tộc giờ nằm dưới lý tưởng tự do. Việt Nam thời đó còn mang nặng tư tưởng trọng nam khinh nữ. Tư tưởng tự do đã làm đảo lộn suy tư cổ hủ ở Việt Nam. Chính quyền thuộc địa Pháp đã có công xóa bỏ tư tưởng phong kiến ảnh hưởng Trung Hoa bằng văn hóa phủ nhận văn hóa. Hình ảnh tượng nữ thần tự do chính là tượng trưng cho văn hóa Tây đang ngự trị văn hóa cổ truyền Việt Nam đầu thế kỷ 20. Nhưng sau đó bức tượng bị dời qua vườn hoa Cửa Nam. Người Việt Nam không thấy đó là hình ảnh giải phóng phụ nữ, mà cho đó là một sự phỉ báng dân tộc, nên gọi nôm na là bà đầm xòe. Việc tháo gỡ bà đầm xòe khỏi tháp rùa cũng là thể hiện sức mạnh tâm linh của người Việt Nam kháng cự văn hóa ngoại bang. Sự không đồng thuận của người Việt buộc chính quyền thuộc địa phải hạ xuống mang đi chỗ khác. Tượng nữ thần tự do bị di chuyển đi sang Cửa Nam là một bằng chứng sức mạnh trường tồn của văn hóa tín ngưỡng dân tộc Việt. Tháp rùa và hồ Hoàn Kiếm đã gắn sâu trong tiềm thức tự hào của người Việt Nam chống xâm lăng. Lê Lợi sau khi chiến thắng đã đến đây trả lại gươm cho Thần Kim quy. Sự kéo đổ vỡ bức tượng ở Cửa Nam là không cần thiết. Vì đó cũng là một di tích lịch sử trong cuộc chiến tranh chống thực dân Pháp để chứng minh người Việt không chịu khuất phục cho kẻ xâm lăng động đến hồn dân tộc, đè lên tháp rùa. và là một phiên bản nghệ thuật quý bằng đồng. Tượng thần tự do ở Mỹ ngày nay là một địa điểm du lịch nổi tiếng. Nếu phiên bản này còn ở Việt Nam chắc chắn sẽ là một điểm thu hút khách đến thăm Việt Nam.

Các công trình xây dựng đẹp, hoành tráng cũng là di tích văn hóa. Bảo vệ di tích văn hóa là cũng là bảo vệ chủ quyền lãnh thổ. Vì thế chính quyền thuộc địa Pháp đã cho xây rất nhiều công trình, như nóc nhà Đông Dương, cột mốc Hoàng Sa, các dinh thự ở những nơi nhạy cảm gần biên giới Trung Quốc để khẳng định chủ quyền lãnh thổ. Khi bàn chiến tranh biên giới các nước đều tìm cách dùng các công trình văn hóa xưa trong sử sách để chứng minh chủ quyền lãnh thổ. Xây dựng và bảo tồn những công trình văn hóa, giữ gìn bản sắc dân tộc và ngôn ngữ là một hình thức bảo vệ chủ quyền quốc gia một cách văn minh, hữu hiệu và lịch sự với láng giềng và vừa khuyến khích di dân khai phá vùng xa, vừa khuyến khích các dân tộc xích lại gần cùng nhau xây dựng và bảo vệ tổ quốc. Văn hóa cũng là hình thức giáo dục cần thiết giúp hình thành nhân cách con người văn hóa của một đất nước, hướng con người tới sự hoàn thiện trong xã hội văn hóa.

Khi các công trình biến mất vì thiên tai, chiến tranh, hội họa nhiếp ảnh, ngôn ngữ, sách ghi chép, tài liệu lịch sử đều là những bằng chứng sống động để bảo vệ lãnh thổ. Do đó việc đầu tư văn hóa là điều rất đáng quan tâm, nhất là thời đại nay, càng cần phải đầu tư cho văn hóa vì kỹ thuật số sẽ nhanh chóng truyền đi khắp thế giới. Một số người do không hiểu biết, và quá khích khi độc lập đã muốn xóa bỏ tất cả dấu vết của ngoại bang, đã vô tình làm mất đi một nguồn tài liệu quý báu về chủ quyền lãnh thổ. Số nhà 107 Trần Hưng Đạo là một điển hình vừa mất đi một di tích lịch sử quý.

Trần Thu Dung

Ảnh: Bưu ảnh Ngôi nhà không địa chỉ. Trụ sở sinh hoạt của hội Tam Điểm chi nhánh «Tình Huynh Đệ Bắc kỳ» thuộc Đại Đông Pháp. Nay là ngôi nhà 107 Trần Hưng Đạo vừa bị sụp đổ do không được trùng tu, bảo vệ.
Bưu thiếp của Pháp cho biết những người phụ nữ Việt đang thì thầm, to nhỏ với nhau.
Theo dấu nhật ấn thì địa điểm gửi đi từ Hà Nội.
Bưu thiếp của Pháp cho biết những người phụ nữ Việt đang thì thầm, to nhỏ với nhau.
Theo dấu nhật ấn thì địa điểm gửi đi từ Hà Nội.
THẠO SỬ NGƯỜI HƠN SỬ MÌNH

"Sĩ tử khắp nước ta làu thông kinh sách mà không biết đất đai của nước ta và nòi giống dân ta như thế nào. Họ chỉ biết Hán Cao Tổ, Đường Thái Tông mà không biết Đinh Tiên Hoàng, Lê Thái Tổ ra làm sao. Họ chỉ biết Khổng Minh, Địch Nhân Kiệt mà không biết các bề tôi Tô Hiến Thành, Trần Quốc Tuấn thờ vua giúp nước như thế nào. 
Họ chỉ biết núi Thái Sơn cao chót vót, sông Hoàng Hà sâu thăm thẳm, nhưng không hề hay biết núi Tản Viên từ đâu tới, sông Cửu Long ở Nam Kỳ – phát nguyên từ nơi nào. 

Ưa chuộng phong tục nước ngoài cho nên bao nhiêu nghi lễ về quan hôn tang tế, chúng ta đều bắt chước người Trung Hoa cả. Lại còn lấy kỹ nghệ nước ngoài làm ưa thích. Đã không chịu học hỏi cách biến chế, óc sáng kiến của họ, mà tại đi tiêu thụ hàng hóa giúp cho họ. Đa số những vật liệu như đồ sứ, hàng tơ, lụa, hàng thêu, hàng đoạn… chúng ta đều đi mua sắm từ bên Trung Quốc về dùng. Rồi dần đà lâu ngày, linh hồn của dân tự nhiên bị đổi dời, trí não của dân ta tự nhiên bị bưng bít mà ta không hề biết, chỉ vì cái cớ chúng ta cứ chuyên trọng Bắc sử mà thôi". (Hoàng Cao Khải, Việt sử yếu, 1914)

Ảnh: Kinh lược sứ Bắc Kỳ Hoàng Cao Khải và hai vợ chồng con trai Hoàng Trọng Phu, những năm 1915-1917.
Người chụp là trung úy Pháp Léon Busy, chụp cho dự án của Albert Kahn.
THẠO SỬ NGƯỜI HƠN SỬ MÌNH

"Sĩ tử khắp nước ta làu thông kinh sách mà không biết đất đai của nước ta và nòi giống dân ta như thế nào. Họ chỉ biết Hán Cao Tổ, Đường Thái Tông mà không biết Đinh Tiên Hoàng, Lê Thái Tổ ra làm sao. Họ chỉ biết Khổng Minh, Địch Nhân Kiệt mà không biết các bề tôi Tô Hiến Thành, Trần Quốc Tuấn thờ vua giúp nước như thế nào.
Họ chỉ biết núi Thái Sơn cao chót vót, sông Hoàng Hà sâu thăm thẳm, nhưng không hề hay biết núi Tản Viên từ đâu tới, sông Cửu Long ở Nam Kỳ – phát nguyên từ nơi nào.

Ưa chuộng phong tục nước ngoài cho nên bao nhiêu nghi lễ về quan hôn tang tế, chúng ta đều bắt chước người Trung Hoa cả. Lại còn lấy kỹ nghệ nước ngoài làm ưa thích. Đã không chịu học hỏi cách biến chế, óc sáng kiến của họ, mà tại đi tiêu thụ hàng hóa giúp cho họ. Đa số những vật liệu như đồ sứ, hàng tơ, lụa, hàng thêu, hàng đoạn… chúng ta đều đi mua sắm từ bên Trung Quốc về dùng. Rồi dần đà lâu ngày, linh hồn của dân tự nhiên bị đổi dời, trí não của dân ta tự nhiên bị bưng bít mà ta không hề biết, chỉ vì cái cớ chúng ta cứ chuyên trọng Bắc sử mà thôi". (Hoàng Cao Khải, Việt sử yếu, 1914)

Ảnh: Kinh lược sứ Bắc Kỳ Hoàng Cao Khải và hai vợ chồng con trai Hoàng Trọng Phu, những năm 1915-1917.
Người chụp là trung úy Pháp Léon Busy, chụp cho dự án của Albert Kahn.
Có thể bạn chưa biết

XE KÉO

Xe kéo xuất hiện lần đầu ở Nhật Bản vào khoảng năm 1868, vào đầu thời Cải cách Minh Trị.
Ở Đông Dương, vài chiếc xe kéo được xuất hiện lần đầu tiên tại Hà-Nội năm 1883 do Ông Toàn Quyền Đông Dương Bonnal đã cho phép đem từ bên Nhật qua. Gần 15 năm sau Sài Gòn mới biết tới loại xe kéo nầy, ở đây phương tiện di chuyển duy nhất là chiếc xe ngựa kéo mà người Pháp gọi là Malabar hay Boîte d’allumettes.

Vào năm 1884, một nhà thầu Pháp cho chế tạo khoảng 50 chiếc xe kéo cho cả miền Bắc. Từ đó chiếc xe kéo đã từ từ trở thành một bộ mặt quen thuộc trong thành phố Hà-Nội. Nó xuất hiện một năm sau chiếc xe hơi Âu Châu đầu tiên và một năm trước xe tramway kéo bằng ngựa. Liền sau đó, một nhân viên thuế vụ từ miền Nam tới đã nghĩ ra thành lập một hảng cho thuê xe kéo. Theo trí nhớ của các người xưa thì chuyện đó là một thành công rực rở : dù mướn giờ hay mướn ngày, cũng phải giữ chỗ trước một ngày nếu muốn được chở đi.

Ngay cả sau Đệ Nhất Thế Chiến cũng chỉ có khoảng 30 chiếc xe kéo công cộng trong cả thành phố Hà-Nội. Chỉ có vài nhân viên Pháp và quan lớn của Hà-Nội mới có đủ phương tiện mua riêng một chiếc xe kéo. Đa số người Hà-Nội chỉ biết đi bộ -nghĩa là đi chân không- là phương tiện di chuyển tiện nhất. Lúc đó chiếc xe kéo được kéo bởi một người «cu-li» và đôi khi được thêm hai người khác đẩy. Nếu là quan lớn thì thường có người trẻ đi kế bên người phu kéo, tay cầm ống thuốc lào hoặc một khay trầu nếu người ngồi trên xe là phụ nữ.

Chiếc xe kéo đầu tiên có bánh xe bằng sắt, cho nên chạy không được yên lắm. Dù vậy phương tiện nầy biểu hiệu cho sự giàu có và uy quyền của chủ xe. Lúc nào cảnh người phu kéo ông chủ ngồi trên xe đi qua cũng gây ra sự hiếu kỳ cho đám đông. Vào thời đó, tất cả những gì do Tây đem tới đều được dân chúng cho là văn minh. Những cô thiếu nữ Hà-Nội không dám ngồi trên xe kéo vì sợ miệng đời chê là Me Tây, có nghĩa là lấy chồng Tây. Với sự tiến bộ, sau đó bánh xe bằng xắt được thay thế bằng bánh xe cao-su đặc, tiện nghi hơn cho người ngồi trên xe. Chỉ lúc bấy giờ những cô thiếu nữ Hà-Nội mới dám xài xe kéo với bánh xe bằng sắt, còn loại tân tiến với bánh xe bằng cao-su thì dành riêng cho người Việt lấy Tây. Và những xe kéo lỗi thời với bánh xe sắt đã từ từ bị đẩy ra vùng ngoại ô Hà-Nội. Ngay cả những xe kéo với bánh cao-su cũng chia ra làm hai loại, loại bình thường và loại của nhà hành OMIC. Loại nầy có chổ ngồi bằng aluminium trắng bóng và có nệm lò xo cũng được bọc vải trắng, dĩ nhiên đi xe loại nầy thì mắc tiền hơn là đi xe loại thường.

Nhiều năm sau Đệ Nhất Thế Chiến, mọi người đều ngạc nhiên khi thấy chiếc xe đạp –nhập từ Saint Etienne (Pháp) - lần đầu tiên trong trung tâm thành phố : Cái dụng cụ gì kỳ quá ? Không có ngưạ kéo cũng không cần cu-li đẩy ! Chỉ cần đạp vài cái là nó chạy một cách yên lặng không mệt nhọc. Có người lanh trí đã nghĩ ra cách gắn nó vào phía sau của chiếc xe kéo, thế là chiếc xe xích-lô đã ra đời : việc nầy không làm cho chiếc xe kéo biến liền, nhưng xe xích-lô đã nối nghiệp xe kéo, đóng vai trò quan trọng trong sự có mặt của văn minh.
Xe kéo đã bị chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cấm sử dụng vào năm 1945, và đến nay vẫn chưa quay trở lại.

Nguồn: Phạm Trọng Lễ
Có thể bạn chưa biết

XE KÉO

Xe kéo xuất hiện lần đầu ở Nhật Bản vào khoảng năm 1868, vào đầu thời Cải cách Minh Trị.
Ở Đông Dương, vài chiếc xe kéo được xuất hiện lần đầu tiên tại Hà-Nội năm 1883 do Ông Toàn Quyền Đông Dương Bonnal đã cho phép đem từ bên Nhật qua. Gần 15 năm sau Sài Gòn mới biết tới loại xe kéo nầy, ở đây phương tiện di chuyển duy nhất là chiếc xe ngựa kéo mà người Pháp gọi là Malabar hay Boîte d’allumettes.

Vào năm 1884, một nhà thầu Pháp cho chế tạo khoảng 50 chiếc xe kéo cho cả miền Bắc. Từ đó chiếc xe kéo đã từ từ trở thành một bộ mặt quen thuộc trong thành phố Hà-Nội. Nó xuất hiện một năm sau chiếc xe hơi Âu Châu đầu tiên và một năm trước xe tramway kéo bằng ngựa. Liền sau đó, một nhân viên thuế vụ từ miền Nam tới đã nghĩ ra thành lập một hảng cho thuê xe kéo. Theo trí nhớ của các người xưa thì chuyện đó là một thành công rực rở : dù mướn giờ hay mướn ngày, cũng phải giữ chỗ trước một ngày nếu muốn được chở đi.

Ngay cả sau Đệ Nhất Thế Chiến cũng chỉ có khoảng 30 chiếc xe kéo công cộng trong cả thành phố Hà-Nội. Chỉ có vài nhân viên Pháp và quan lớn của Hà-Nội mới có đủ phương tiện mua riêng một chiếc xe kéo. Đa số người Hà-Nội chỉ biết đi bộ -nghĩa là đi chân không- là phương tiện di chuyển tiện nhất. Lúc đó chiếc xe kéo được kéo bởi một người «cu-li» và đôi khi được thêm hai người khác đẩy. Nếu là quan lớn thì thường có người trẻ đi kế bên người phu kéo, tay cầm ống thuốc lào hoặc một khay trầu nếu người ngồi trên xe là phụ nữ.

Chiếc xe kéo đầu tiên có bánh xe bằng sắt, cho nên chạy không được yên lắm. Dù vậy phương tiện nầy biểu hiệu cho sự giàu có và uy quyền của chủ xe. Lúc nào cảnh người phu kéo ông chủ ngồi trên xe đi qua cũng gây ra sự hiếu kỳ cho đám đông. Vào thời đó, tất cả những gì do Tây đem tới đều được dân chúng cho là văn minh. Những cô thiếu nữ Hà-Nội không dám ngồi trên xe kéo vì sợ miệng đời chê là Me Tây, có nghĩa là lấy chồng Tây. Với sự tiến bộ, sau đó bánh xe bằng xắt được thay thế bằng bánh xe cao-su đặc, tiện nghi hơn cho người ngồi trên xe. Chỉ lúc bấy giờ những cô thiếu nữ Hà-Nội mới dám xài xe kéo với bánh xe bằng sắt, còn loại tân tiến với bánh xe bằng cao-su thì dành riêng cho người Việt lấy Tây. Và những xe kéo lỗi thời với bánh xe sắt đã từ từ bị đẩy ra vùng ngoại ô Hà-Nội. Ngay cả những xe kéo với bánh cao-su cũng chia ra làm hai loại, loại bình thường và loại của nhà hành OMIC. Loại nầy có chổ ngồi bằng aluminium trắng bóng và có nệm lò xo cũng được bọc vải trắng, dĩ nhiên đi xe loại nầy thì mắc tiền hơn là đi xe loại thường.

Nhiều năm sau Đệ Nhất Thế Chiến, mọi người đều ngạc nhiên khi thấy chiếc xe đạp –nhập từ Saint Etienne (Pháp) - lần đầu tiên trong trung tâm thành phố : Cái dụng cụ gì kỳ quá ? Không có ngưạ kéo cũng không cần cu-li đẩy ! Chỉ cần đạp vài cái là nó chạy một cách yên lặng không mệt nhọc. Có người lanh trí đã nghĩ ra cách gắn nó vào phía sau của chiếc xe kéo, thế là chiếc xe xích-lô đã ra đời : việc nầy không làm cho chiếc xe kéo biến liền, nhưng xe xích-lô đã nối nghiệp xe kéo, đóng vai trò quan trọng trong sự có mặt của văn minh.
Xe kéo đã bị chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cấm sử dụng vào năm 1945, và đến nay vẫn chưa quay trở lại.

Nguồn: Phạm Trọng Lễ
Bác sĩ Barbezieux đang chăm sóc một bệnh nhân phong tại Te Truong - Hà Đông năm 1884. (Léproserie de Te Truong. Le docteur Barbézieux donne des soins aux lépreux)
Người chụp: Bác sĩ Hocquard.

Trong xã hội Việt Nam xưa, người bị nhiễm bệnh phong (cùi) thường chịu thành kiến sai lầm, chịu sự hắt hủi, xa lánh thậm chí bị ngược đãi (trôi sông, chôn sống, bỏ vào rừng cho thú dữ ǎn thịt).
Bác sĩ Barbezieux đang chăm sóc một bệnh nhân phong tại Te Truong - Hà Đông năm 1884. (Léproserie de Te Truong. Le docteur Barbézieux donne des soins aux lépreux)
Người chụp: Bác sĩ Hocquard.

Trong xã hội Việt Nam xưa, người bị nhiễm bệnh phong (cùi) thường chịu thành kiến sai lầm, chịu sự hắt hủi, xa lánh thậm chí bị ngược đãi (trôi sông, chôn sống, bỏ vào rừng cho thú dữ ǎn thịt).
Hình ảnh trường đua ngựa đầu tiên của Hà Nội đầu thế kỉ 20,  Ngày nay, nó đã trở thành Cung thể thao Quần Ngựa ở phố Liễu Giai (Hà Nội)
Hình ảnh trường đua ngựa đầu tiên của Hà Nội đầu thế kỉ 20, Ngày nay, nó đã trở thành Cung thể thao Quần Ngựa ở phố Liễu Giai (Hà Nội)
SÂN QUẦN NGỰA (HÀ NỘI)
Trường đua ngựa mà nhiều người hay gọi là sân Quần ngựa ở Hà Nội có từ rất sớm. Cuốn “Le Vieux Tokin” (Bắc kỳ xưa) cho biết cuộc đua ngựa đầu tiên ở Hà Nội diễn ra ngày 15/7/1886 trong khuôn khổ những hoạt động mừng Quốc khánh nước Pháp và phải 2 năm sau (1888) Tourane (Đà Nẵng) và Nam Định mới có nơi đua ngựa
SÂN QUẦN NGỰA (HÀ NỘI)
Trường đua ngựa mà nhiều người hay gọi là sân Quần ngựa ở Hà Nội có từ rất sớm. Cuốn “Le Vieux Tokin” (Bắc kỳ xưa) cho biết cuộc đua ngựa đầu tiên ở Hà Nội diễn ra ngày 15/7/1886 trong khuôn khổ những hoạt động mừng Quốc khánh nước Pháp và phải 2 năm sau (1888) Tourane (Đà Nẵng) và Nam Định mới có nơi đua ngựa
HỌA SĨ CÁT TƯỜNG VÀ CHIẾC ÁO DÀI LEMUR

Họa sĩ Cát Tường (1912 – 1946) quê ở Sơn Tây, Hà Nội tên thật là Nguyễn Cát Tường, bút danh là Lemur Cát Tường (nghĩa tiếng Hán: Cát Tường là điềm lành và tiếng Pháp: le mur là bức tường).
Năm 1928, Nguyễn Cát Tường trúng tuyển vào khóa 4 trường Cao Đẳng Mỹ Thuật Đông Dương và tốt nghiệp vào năm 1933.
Năm 1934 báo Phong Hóa Mùa Xuân, số 85, Nhất Linh bất ngờ tạo ra một tiết mục mới: “VẺ ĐẸP riêng tặng các bà các cô” và giao cho họa sĩ Nguyễn Cát Tường, mới 22 tuổi, phụ trách để làm nên cuộc Cải Tiến Y Phục Phụ Nữ Việt Nam, sâu xa, lạ lùng và vang dội nhất từ xưa tới nay.
Người họa sĩ trẻ măng này, vừa viết bài, vừa vẽ kiểu…, Lemur Cát Tường giới thiệu đến độc giả những bộ y phục phụ nữ tân thời mà ông đã tạo kiểu và tạo dáng: có cổ, không cổ, có tay, tay ngắn,  không tay, vai bồng, vai xẹp, cổ tay xoè, không xòe, có khuy, không khuy, vạt áo dài, vạt áo ngắn (mini) và sau này năm 1937 tại hiệu may LEMUR còn có áo kiểu vai chéo (đời sau gọi là vai Raglan), áo đi xe đạp và áo cô dâu…
Y phục Lemur đã được những người đẹp yêu mỹ thuật của cả nước, nhất là Hà nội, các phụ nữ trí thức như Luật Sư Nguyễn thị Hậu, Giáo sư Trịnh Thục Oanh,  bà Bác Sĩ Lê Đình Quỵ… dẫn đầu phong trào mặc y phục phụ nữ tân thời.  Các cô nữ học sinh lớp lớn đua nhau may mặc… không khí xã hội và cảnh sắc Việt Nam thay đổi… bờ hồ Hoàn Kiếm như đẹp hẳn lên…
Năm 1937, để việc đổi mới y phục tân thời có kết quả tốt đẹp, ông bà Cát Tường khai trương Hiệu May  LEMUR.
Tháng 12 năm 1946, tình thế trở nên rối ren khi quân đội Pháp đang trở lại Bắc Việt để tái lập địa vị. Cả nước trên đà thực hiện việc kháng chiến, dân Hà Nội được lệnh tản cư. Gia đình Cát Tường dời về làng Tràng Cát, tỉnh Hà Ðông.
Ngày 17 tháng 12 năm 1946, ông Cát Tường trở về nhà để lấy thuốc men, quần áo cho các con và người vợ sắp tới ngày sinh.  Ông đã bị du kích Việt Minh bắt tại Hà Nội và biệt tích khi vừa tròn 35 tuổi, gia đình lấy ngày 17/12/1946 là ngày giỗ ông.
Mặc dù họa sĩ đã ra đi nhưng bóng dáng của chiếc áo dài mà hoạ sĩ tài ba Cát Tường thiết kế vẫn tiếp tục xuất hiện tại Việt Nam và nhiều nơi trên thế giới. Tà áo dài tha thướt, nhã nhặn, kín đáo và duyên dáng làm tăng thêm vẻ đẹp của người phụ nữ Việt Nam, và là niềm hãnh diện cho người Việt.

Ảnh: Cô Hòa Vân trong bộ y phục tân thời mùa Thu của Lemur  1938  -  Courtesy of Trịnh Bách
HỌA SĨ CÁT TƯỜNG VÀ CHIẾC ÁO DÀI LEMUR

Họa sĩ Cát Tường (1912 – 1946) quê ở Sơn Tây, Hà Nội tên thật là Nguyễn Cát Tường, bút danh là Lemur Cát Tường (nghĩa tiếng Hán: Cát Tường là điềm lành và tiếng Pháp: le mur là bức tường).
Năm 1928, Nguyễn Cát Tường trúng tuyển vào khóa 4 trường Cao Đẳng Mỹ Thuật Đông Dương và tốt nghiệp vào năm 1933.
Năm 1934 báo Phong Hóa Mùa Xuân, số 85, Nhất Linh bất ngờ tạo ra một tiết mục mới: “VẺ ĐẸP riêng tặng các bà các cô” và giao cho họa sĩ Nguyễn Cát Tường, mới 22 tuổi, phụ trách để làm nên cuộc Cải Tiến Y Phục Phụ Nữ Việt Nam, sâu xa, lạ lùng và vang dội nhất từ xưa tới nay.
Người họa sĩ trẻ măng này, vừa viết bài, vừa vẽ kiểu…, Lemur Cát Tường giới thiệu đến độc giả những bộ y phục phụ nữ tân thời mà ông đã tạo kiểu và tạo dáng: có cổ, không cổ, có tay, tay ngắn, không tay, vai bồng, vai xẹp, cổ tay xoè, không xòe, có khuy, không khuy, vạt áo dài, vạt áo ngắn (mini) và sau này năm 1937 tại hiệu may LEMUR còn có áo kiểu vai chéo (đời sau gọi là vai Raglan), áo đi xe đạp và áo cô dâu…
Y phục Lemur đã được những người đẹp yêu mỹ thuật của cả nước, nhất là Hà nội, các phụ nữ trí thức như Luật Sư Nguyễn thị Hậu, Giáo sư Trịnh Thục Oanh, bà Bác Sĩ Lê Đình Quỵ… dẫn đầu phong trào mặc y phục phụ nữ tân thời. Các cô nữ học sinh lớp lớn đua nhau may mặc… không khí xã hội và cảnh sắc Việt Nam thay đổi… bờ hồ Hoàn Kiếm như đẹp hẳn lên…
Năm 1937, để việc đổi mới y phục tân thời có kết quả tốt đẹp, ông bà Cát Tường khai trương Hiệu May LEMUR.
Tháng 12 năm 1946, tình thế trở nên rối ren khi quân đội Pháp đang trở lại Bắc Việt để tái lập địa vị. Cả nước trên đà thực hiện việc kháng chiến, dân Hà Nội được lệnh tản cư. Gia đình Cát Tường dời về làng Tràng Cát, tỉnh Hà Ðông.
Ngày 17 tháng 12 năm 1946, ông Cát Tường trở về nhà để lấy thuốc men, quần áo cho các con và người vợ sắp tới ngày sinh. Ông đã bị du kích Việt Minh bắt tại Hà Nội và biệt tích khi vừa tròn 35 tuổi, gia đình lấy ngày 17/12/1946 là ngày giỗ ông.
Mặc dù họa sĩ đã ra đi nhưng bóng dáng của chiếc áo dài mà hoạ sĩ tài ba Cát Tường thiết kế vẫn tiếp tục xuất hiện tại Việt Nam và nhiều nơi trên thế giới. Tà áo dài tha thướt, nhã nhặn, kín đáo và duyên dáng làm tăng thêm vẻ đẹp của người phụ nữ Việt Nam, và là niềm hãnh diện cho người Việt.

Ảnh: Cô Hòa Vân trong bộ y phục tân thời mùa Thu của Lemur 1938 - Courtesy of Trịnh Bách
Cổng vào khu nghĩa địa Tây phía nam thành phố gần nhà thuơng quân đội
Cổng vào khu nghĩa địa Tây phía nam thành phố gần nhà thuơng quân đội
Cổng trang trí trên Phố Hàng Buồm nhân dịp đón Toàn quyền Đông Dương A. Varenne đến Hà Nội
Cổng trang trí trên Phố Hàng Buồm nhân dịp đón Toàn quyền Đông Dương A. Varenne đến Hà Nội
Đầm sen trên Hồ Tây
Đầm sen trên Hồ Tây
Một làng gần Hồ Tây và trong ngày hội
Một làng gần Hồ Tây và trong ngày hội
Cầu Việt Trì- Quang cảnh lao động bên sông Lô
Cầu Việt Trì- Quang cảnh lao động bên sông Lô
Lính Pháp đứng chờ những học sinh Hà Nội mặc áo dài, khoanh tay khi đi qua đường, 23/5/1954.
Hình ảnh này nằm trong loạt ảnh cuối cùng trong sự nghiệp của Robert Capa, được thực hiện trong vài ngày trước khi ông mất vì mìn của Việt Minh.

Hình ảnh được đăng tải trên website của hãng thông tấn Magnum, Anh.
Lính Pháp đứng chờ những học sinh Hà Nội mặc áo dài, khoanh tay khi đi qua đường, 23/5/1954.
Hình ảnh này nằm trong loạt ảnh cuối cùng trong sự nghiệp của Robert Capa, được thực hiện trong vài ngày trước khi ông mất vì mìn của Việt Minh.

Hình ảnh được đăng tải trên website của hãng thông tấn Magnum, Anh.

Xem Thêm