Những nhân vật lịch sử Việt Nam ngày xưa

Thượng Thư Phan Thanh Giản
ad NH
Thượng Thư Phan Thanh Giản
ad NH
Phan Châu Trinh tại Marsellie (1922), 
Hôm nay kỷ niệm 87 năm ngày mất của cụ Phan Châu Trinh (24/3/1926 - 24/3/2013), adm đưa lên bức ảnh này.
" Phan Châu Trinh cho rằng sở dĩ chúng ta thua Pháp, mất nước là vì chúng ta thua họ một thời đại.
Suốt mấy nghìn năm lịch sử trước đó, trong tất cả các cuộc sống xâm lược của Trung Hoa, rất nhiều lần chúng ta phải ở trong những tình thế chênh lệch lực lượng rất hiểm nghèo mà bất lợi luôn nghiêng về phía ta. Song dầu có chênh lệch đến mấy về lực lượng giữa chúng ta và ọ vẫn là đồng đại. Đấy đầu là những cuộc xâm lược và chống xâm lược trong nội bộ của chế độ phong kiến phương Đông. Lần này khác hẳn, chúng ta đối đầu với những lực lượng cao hơn hẳn chúng ta cả một thời đại. Sự thất bại là tất yếu.
(...)
Muốn cứu nước, phải khắc phục chính cái khoảng cách về thời đại đó, phải tự thay đổi dân tộc mình, đưa dân tộc vượt lên hẳn một thời đại mới, để từ đó, trong cuộc đối đầu, đọ sức với họ, giữa ta với họ là những đối thủ bình đẳng, ngang bằng nhau về thời đại. Đây là một bước tiến vĩ đại, một cuộc cách mạng trong tư duy. Về ý nghĩa, nó đưa công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc chính thức bước sang thời kỳ hiện đại. Nó chủ trương tạo nên một cơ sở văn hóa xã hội mới có ý nghĩa quyết định đối với sự nghiệp cách mạng Việt Nam…
… Phan Châu Trinh cho rằng sở dĩ chúng ta thua Pháp, mất nước là vì chúng ta thua họ một thời đại.

Trước đó, Phạm Phú Thứ (1821–1882) là một trong những người đầu tiên đã manh nha nhận ra vấn đề bức bách này: chúng ta lạc hậu quá xa đối với đối phương về khoa học kỹ thuật. Và với tính cách đặc trưng của người Quảng, khi đã nhận ra chân lý thì quyết liệt tận tụy đến cùng với chân lý đã khám phá, ông là một nhà cách tân sớm nhất của nước ta, vừa là một nhà lý thuyết vừa là một nhà thực hành xuất sắc, một nhà cai trị tài ba toàn diện, thậm chí trong một chừng mực nhất định có thể coi là nhà khoa học thực nghiệm đầu tiên của Việt Nam. Tuy nhiên – và cũng không thể đòi hỏi nhiều hơn ở ông – dẫu sao tư duy của ông cũng chỉ mới dừng lại ở nhận thức phải ra sức học khoa học kỹ thuật phương Tây để có thể đuổi kịp họ, không bị đè bẹp bởi sức mạnh khoa học kỹ thuật của họ.

Phan Châu Trinh (1872–1926) cũng suy nghĩ so sánh với phương Tây, nhưng sự so sánh của ông được đặt ở một tâm mức cao rộng hơn nhiều. Ông nhận ra sự lạc hậu về văn hóa cả một thời đại của chúng ta so với đối phương. Ông hiểu rằng đối mặt với phương Tây là chúng ta đối mặt với cả một thời đại khác về văn hóa, mới mẻ và tân tiến. Muốn cứu nước, phải khắc phục chính cái khoảng cách về thời đại đó, phải tự thay đổi dân tộc mình, đưa dân tộc vượt lên hẳn một thời đại mới, để từ đó, trong cuộc đối đầu, đọ sức với họ, giữa ta với họ là những đối thủ bình đẳng, ngang bằng nhau về thời đại. Đây là một bước tiến vĩ đại, một cuộc cách mạng trong tư duy. Về ý nghĩa, nó đưa công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc chính thức bước sang thời kỳ hiện đại. Nó chủ trương tạo nên một cơ sở văn hóa xã hội mới có ý nghĩa quyết định đối với sự nghiệp cách mạng Việt Nam…"
ad NH
Phan Châu Trinh tại Marsellie (1922),
Hôm nay kỷ niệm 87 năm ngày mất của cụ Phan Châu Trinh (24/3/1926 - 24/3/2013), adm đưa lên bức ảnh này.
" Phan Châu Trinh cho rằng sở dĩ chúng ta thua Pháp, mất nước là vì chúng ta thua họ một thời đại.
Suốt mấy nghìn năm lịch sử trước đó, trong tất cả các cuộc sống xâm lược của Trung Hoa, rất nhiều lần chúng ta phải ở trong những tình thế chênh lệch lực lượng rất hiểm nghèo mà bất lợi luôn nghiêng về phía ta. Song dầu có chênh lệch đến mấy về lực lượng giữa chúng ta và ọ vẫn là đồng đại. Đấy đầu là những cuộc xâm lược và chống xâm lược trong nội bộ của chế độ phong kiến phương Đông. Lần này khác hẳn, chúng ta đối đầu với những lực lượng cao hơn hẳn chúng ta cả một thời đại. Sự thất bại là tất yếu.
(...)
Muốn cứu nước, phải khắc phục chính cái khoảng cách về thời đại đó, phải tự thay đổi dân tộc mình, đưa dân tộc vượt lên hẳn một thời đại mới, để từ đó, trong cuộc đối đầu, đọ sức với họ, giữa ta với họ là những đối thủ bình đẳng, ngang bằng nhau về thời đại. Đây là một bước tiến vĩ đại, một cuộc cách mạng trong tư duy. Về ý nghĩa, nó đưa công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc chính thức bước sang thời kỳ hiện đại. Nó chủ trương tạo nên một cơ sở văn hóa xã hội mới có ý nghĩa quyết định đối với sự nghiệp cách mạng Việt Nam…
… Phan Châu Trinh cho rằng sở dĩ chúng ta thua Pháp, mất nước là vì chúng ta thua họ một thời đại.

Trước đó, Phạm Phú Thứ (1821–1882) là một trong những người đầu tiên đã manh nha nhận ra vấn đề bức bách này: chúng ta lạc hậu quá xa đối với đối phương về khoa học kỹ thuật. Và với tính cách đặc trưng của người Quảng, khi đã nhận ra chân lý thì quyết liệt tận tụy đến cùng với chân lý đã khám phá, ông là một nhà cách tân sớm nhất của nước ta, vừa là một nhà lý thuyết vừa là một nhà thực hành xuất sắc, một nhà cai trị tài ba toàn diện, thậm chí trong một chừng mực nhất định có thể coi là nhà khoa học thực nghiệm đầu tiên của Việt Nam. Tuy nhiên – và cũng không thể đòi hỏi nhiều hơn ở ông – dẫu sao tư duy của ông cũng chỉ mới dừng lại ở nhận thức phải ra sức học khoa học kỹ thuật phương Tây để có thể đuổi kịp họ, không bị đè bẹp bởi sức mạnh khoa học kỹ thuật của họ.

Phan Châu Trinh (1872–1926) cũng suy nghĩ so sánh với phương Tây, nhưng sự so sánh của ông được đặt ở một tâm mức cao rộng hơn nhiều. Ông nhận ra sự lạc hậu về văn hóa cả một thời đại của chúng ta so với đối phương. Ông hiểu rằng đối mặt với phương Tây là chúng ta đối mặt với cả một thời đại khác về văn hóa, mới mẻ và tân tiến. Muốn cứu nước, phải khắc phục chính cái khoảng cách về thời đại đó, phải tự thay đổi dân tộc mình, đưa dân tộc vượt lên hẳn một thời đại mới, để từ đó, trong cuộc đối đầu, đọ sức với họ, giữa ta với họ là những đối thủ bình đẳng, ngang bằng nhau về thời đại. Đây là một bước tiến vĩ đại, một cuộc cách mạng trong tư duy. Về ý nghĩa, nó đưa công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc chính thức bước sang thời kỳ hiện đại. Nó chủ trương tạo nên một cơ sở văn hóa xã hội mới có ý nghĩa quyết định đối với sự nghiệp cách mạng Việt Nam…"
ad NH
Sương Nguyệt Ánh
Sương Nguyệt Ánh
Đạm Phương và chồng
Đạm Phương và chồng
Đạm Phương
Đạm Phương
Nguyễn Thượng Hiền
Nguyễn Thượng Hiền
Lê Văn Duyệt
Lê Văn Duyệt
Ngô Đình Khả
Ngô Đình Khả
Trần Trọng Kim
Trần Trọng Kim
Cao Xuân Dục
Cao Xuân Dục
Tôn Thất Thuyết
Tôn Thất Thuyết
Phạm Quỳnh
Phạm Quỳnh
Phan Đình Phùng
Phan Đình Phùng
Thói hư tật xấu của người Việ trong con mắt các nhà tri thức nửa đầu thế kỷ 20

DÂN KHÍ BẠC NHƯỢC (Phan Chu Trinh – Thư gửi Chính phủ Pháp, 1906)

Nước Nam độ bốn mươi năm nay, vận nước ngày một suy, suốt từ trên đến dưới chỉ biết chuyện lười biếng vui chơi. Pháp chế luật không còn có cái gì ra trò, nhân tài cũng tiêu diệt đi mất cả. Người trên thì lâu lâu được thăng trật(1), chẳng qua như sống lâu lên lão làng; người dưới thì đem của mua quan , thật là tiền bạc phá lề luật. (...). Suốt cả thành thị cho đến hương thôn, đứa gian giảo thì như ma như quỷ, lừa gạt bóc lột, cái gì mà chẳng dám làm; đứa hèn yếu thì như lợn như bò, giẫm cổ đè đầu, cũng không dám ho he một tiếng.

(1) trật: cấp bậc phẩm hàm.

 
PHÁP LUẬT ĐƠN SƠ (Quốc dân độc bản, tài liệu của Đông Kinh nghĩa thục, 1907)

Dân trí càng mở mang thì pháp luật càng phải tinh tế. Luật lệ nước ta sơ sài hết sức. Những điều rõ ràng thì hoặc là phiền toái vô dụng, hoặc là khe khắt quá khó lòng giữ đúng (...) Những điều ta nói ta làm hàng ngày mà theo luật quy tội, thì sáng bị tội đồ, tội lưu, chiều bị tội phạt trượng. Đến những điều đáng phải theo cũng không thể theo được. Trên cũng như dưới đều mơ mơ màng màng, cơ hồ thành một nước không có pháp luật. Dân không giữ chữ tín, trong dân gian người ta làm khế ước với nhau, thường mực chưa khô đã bội ước. Quy tắc của trường học, kế hoạch của công sở phần lớn nằm trên giấy, treo lên cho vui mắt, đọc lên cho vui tai mà thôi. Trên dưới không tin nhau, mà mong giữ đúng pháp luật thì thật là khó thay! Đã không giữ được thì thay đổi đi là hơn.

 
LÀM RA VẺ YÊU NƯỚC ĐỂ MƯU LỢI RIÊNG (Phan Bội Châu - Cao đẳng quốc dân, 1928)

Chứng bệnh hay giả dối là chứng bệnh chung của người nước ta mà ở trong lại có một chứng đặc biệt là chứng ái quốc giả... Nào đám truy điệu, nào tiệc hoan nghênh, nào là kỷ niệm anh hùng, nào là sùng bái chí sĩ, chuông dồn trống giục, Nam hát Bắc hò, xem ở trong một đám lúc nhúc lao nhao, cũng đã có mấy phần người biết quyền nước đã mất thì tính mạng không còn, hồn nước có về thì giang sơn mới sống. Nếu những tấm lòng ái quốc đó mà thật thà chắc chắn thì giống Tiên Rồng chẳng hạnh phúc lắm sao? Nhưng tội tình thay, khốn khổ thay, người ưu thời mẫn thế chẳng bao nhiêu mà người rao danh thì đầy đường đầy ngõ.

Giọt nước mắt khóc nước vẫn ngày đêm chan chứa mà xem cho kỹ thì rặt nước mắt gừng; tiếng chuông trống kêu hồn vẫn trong ngoài gióng giả mà nghe cho tới nơi thì rặt là chuông trò trống hội; ngoài miệng thì ái quốc mà trong bụng vẫn là kim khánh mề đay; trước mặt người thì ái quốc mà đến lúc đếm khuya thanh vắng thì tính toán những chuyện chó săn chim mồi. Cha ôi! Trời ơi! ái quốc gì, ái quốc thế ư? Đeo mặt nạ ái quốc để phỉnh chúng lừa đời, một mặt thời mua chuốc lấy tiếng chí sĩ chân nhân, một mặt thì ôm chặt lấy lốt ông tham bà đốc.

biên soạn Vương Trí Nhàn
Thói hư tật xấu của người Việ trong con mắt các nhà tri thức nửa đầu thế kỷ 20

DÂN KHÍ BẠC NHƯỢC (Phan Chu Trinh – Thư gửi Chính phủ Pháp, 1906)

Nước Nam độ bốn mươi năm nay, vận nước ngày một suy, suốt từ trên đến dưới chỉ biết chuyện lười biếng vui chơi. Pháp chế luật không còn có cái gì ra trò, nhân tài cũng tiêu diệt đi mất cả. Người trên thì lâu lâu được thăng trật(1), chẳng qua như sống lâu lên lão làng; người dưới thì đem của mua quan , thật là tiền bạc phá lề luật. (...). Suốt cả thành thị cho đến hương thôn, đứa gian giảo thì như ma như quỷ, lừa gạt bóc lột, cái gì mà chẳng dám làm; đứa hèn yếu thì như lợn như bò, giẫm cổ đè đầu, cũng không dám ho he một tiếng.

(1) trật: cấp bậc phẩm hàm.


PHÁP LUẬT ĐƠN SƠ (Quốc dân độc bản, tài liệu của Đông Kinh nghĩa thục, 1907)

Dân trí càng mở mang thì pháp luật càng phải tinh tế. Luật lệ nước ta sơ sài hết sức. Những điều rõ ràng thì hoặc là phiền toái vô dụng, hoặc là khe khắt quá khó lòng giữ đúng (...) Những điều ta nói ta làm hàng ngày mà theo luật quy tội, thì sáng bị tội đồ, tội lưu, chiều bị tội phạt trượng. Đến những điều đáng phải theo cũng không thể theo được. Trên cũng như dưới đều mơ mơ màng màng, cơ hồ thành một nước không có pháp luật. Dân không giữ chữ tín, trong dân gian người ta làm khế ước với nhau, thường mực chưa khô đã bội ước. Quy tắc của trường học, kế hoạch của công sở phần lớn nằm trên giấy, treo lên cho vui mắt, đọc lên cho vui tai mà thôi. Trên dưới không tin nhau, mà mong giữ đúng pháp luật thì thật là khó thay! Đã không giữ được thì thay đổi đi là hơn.


LÀM RA VẺ YÊU NƯỚC ĐỂ MƯU LỢI RIÊNG (Phan Bội Châu - Cao đẳng quốc dân, 1928)

Chứng bệnh hay giả dối là chứng bệnh chung của người nước ta mà ở trong lại có một chứng đặc biệt là chứng ái quốc giả... Nào đám truy điệu, nào tiệc hoan nghênh, nào là kỷ niệm anh hùng, nào là sùng bái chí sĩ, chuông dồn trống giục, Nam hát Bắc hò, xem ở trong một đám lúc nhúc lao nhao, cũng đã có mấy phần người biết quyền nước đã mất thì tính mạng không còn, hồn nước có về thì giang sơn mới sống. Nếu những tấm lòng ái quốc đó mà thật thà chắc chắn thì giống Tiên Rồng chẳng hạnh phúc lắm sao? Nhưng tội tình thay, khốn khổ thay, người ưu thời mẫn thế chẳng bao nhiêu mà người rao danh thì đầy đường đầy ngõ.

Giọt nước mắt khóc nước vẫn ngày đêm chan chứa mà xem cho kỹ thì rặt nước mắt gừng; tiếng chuông trống kêu hồn vẫn trong ngoài gióng giả mà nghe cho tới nơi thì rặt là chuông trò trống hội; ngoài miệng thì ái quốc mà trong bụng vẫn là kim khánh mề đay; trước mặt người thì ái quốc mà đến lúc đếm khuya thanh vắng thì tính toán những chuyện chó săn chim mồi. Cha ôi! Trời ơi! ái quốc gì, ái quốc thế ư? Đeo mặt nạ ái quốc để phỉnh chúng lừa đời, một mặt thời mua chuốc lấy tiếng chí sĩ chân nhân, một mặt thì ôm chặt lấy lốt ông tham bà đốc.

biên soạn Vương Trí Nhàn
cụ Phan Bội Châu
cụ Phan Bội Châu
cụ Hoàng Diệu
cụ Hoàng Diệu
Tổng đốc Thành Hà Nội - Nguyễn Tri Phương (1800 - 1873) Giáo sư họa sỹ Trần Văn Phú họa lại  từ bức tranh của người pháp vẽ năm 1873. Ảnh: tư liệu
Tổng đốc Thành Hà Nội - Nguyễn Tri Phương (1800 - 1873) Giáo sư họa sỹ Trần Văn Phú họa lại từ bức tranh của người pháp vẽ năm 1873. Ảnh: tư liệu
cụ Huỳng Thúc Kháng
cụ Huỳng Thúc Kháng
cụ Nguyễn Trãi
cụ Nguyễn Trãi
Cụ Trần Cao Vân, một trong những người chủ chốt của cuộc khởi nghĩa Duy Tân năm 1916
Cụ Trần Cao Vân, một trong những người chủ chốt của cuộc khởi nghĩa Duy Tân năm 1916
Thượng thư Tôn Thất Hân và Nguyễn Hữu Bài
Thượng thư Tôn Thất Hân và Nguyễn Hữu Bài
Cụ Vi Văn Lý thân sinh của ông Vi Văn Định-Tống Đốc Lạng Sơn
Cụ Vi Văn Lý thân sinh của ông Vi Văn Định-Tống Đốc Lạng Sơn
Tống Đốc Cao Xuân Dục
Tống Đốc Cao Xuân Dục
Tống Đốc Phương
Tống Đốc Phương
Cụ Phan Thành Tài, người đứng đầu cuộc khởi nghĩa Duy Tân tại Quảng Nam
Cụ Phan Thành Tài, người đứng đầu cuộc khởi nghĩa Duy Tân tại Quảng Nam
Thượng Thư Phan Thanh Giản năm 1879
Thượng Thư Phan Thanh Giản năm 1879
Thượng Thư Phan Thanh Giản
Thượng Thư Phan Thanh Giản
Thượng thư bộ lại Nguyễn Hữu Bài
Thượng thư bộ lại Nguyễn Hữu Bài
Nguyễn Văn Tường
Nguyễn Văn Tường
Kinh Lược xứ Bắc Kỳ Hoàng Cao Khải
Kinh Lược xứ Bắc Kỳ Hoàng Cao Khải
Kinh lược xứ Bắc Kỳ Hoàng Cao Khải.
Kinh lược xứ Bắc Kỳ Hoàng Cao Khải.
Ðại thần Trương Như Cương, người đã trải qua 3 triều Thành Thái, Duy Tân và Khải Ðịnh
Ðại thần Trương Như Cương, người đã trải qua 3 triều Thành Thái, Duy Tân và Khải Ðịnh
Thượng thư Cao Xuân Dục
Thượng thư Cao Xuân Dục
Lưu Vĩnh Phúc (1837 - 1917), tự Uyên Đình, là một quân nhân Trung Quốc thời kỳ nhà Thanh. Ông có thể coi là tổng thống thứ nhì và cũng là cuối cùng của Đài Loan Dân Chủ từ ngày 5/6/1895 cho tới 21/10/1895.
Quân Cờ đen tuy đánh được Pháp một số trận, nhưng cũng nhũng nhiễu tàn hại dân. Lúc bấy giờ Ông Ích Khiêm là một trong số những quan lại không hài lòng về việc thuê quân Cờ đen, đồng thời cũng chê trách các quan võ bất lực, lúc hữu sự phải nhờ vào người Tàu để đánh giặc. Ông có làm bài thơ trách:
Áo chúa cơm vua hưởng bấy lâu
Đến khi có giặc phải thuê Tàu
Từng phen võng giá mau chân nhẩy
Ðến bước chông gai thấy mặt đâu
Tiền bạc quyên hoài dân xác mướp
Trâu dê ngày hiến đứa răng bầu
Ai ôi hãy chống trời Nam lại
Kẻo nửa dân ta phải cạo đầu.
ad NH
Lưu Vĩnh Phúc (1837 - 1917), tự Uyên Đình, là một quân nhân Trung Quốc thời kỳ nhà Thanh. Ông có thể coi là tổng thống thứ nhì và cũng là cuối cùng của Đài Loan Dân Chủ từ ngày 5/6/1895 cho tới 21/10/1895.
Quân Cờ đen tuy đánh được Pháp một số trận, nhưng cũng nhũng nhiễu tàn hại dân. Lúc bấy giờ Ông Ích Khiêm là một trong số những quan lại không hài lòng về việc thuê quân Cờ đen, đồng thời cũng chê trách các quan võ bất lực, lúc hữu sự phải nhờ vào người Tàu để đánh giặc. Ông có làm bài thơ trách:
Áo chúa cơm vua hưởng bấy lâu
Đến khi có giặc phải thuê Tàu
Từng phen võng giá mau chân nhẩy
Ðến bước chông gai thấy mặt đâu
Tiền bạc quyên hoài dân xác mướp
Trâu dê ngày hiến đứa răng bầu
Ai ôi hãy chống trời Nam lại
Kẻo nửa dân ta phải cạo đầu.
ad NH
Lưu Vĩnh Phúc (tiếng Trung: 劉永福) (1837—1917) lãnh đạo quân Cờ đen.
Lưu Vĩnh Phúc (tiếng Trung: 劉永福) (1837—1917) lãnh đạo quân Cờ đen.
Đặng Huy Trứ - một danh sỹ triều Nguyễn đã đưa kỹ thuật nhiếp ảnh vào Việt Nam. Ông mở hiệu ảnh đầu tiên lấy tên là “Cảm hiếu Đường” tại phố Thanh Hà, Hà Nội.
Đặng Huy Trứ là trí thức Nho học và là nhà kinh tế, nhà quân sự, nhà chính trị yêu nước, có tư tưởng canh tân. Ông ra làm quan triều Nguyễn năm 1856, vào lúc thực dân Pháp mở đầu cuộc xâm lược nước ta. Sau khi Pháp đánh Hà Nội lần thứ nhất năm 1873, ông rút lên căn cứ Đồn Vàng, cùng Hoàng Kế Viêm chống Pháp. Ông mất tại Đồn Vàng năm Nhâm Tuất (1874) và thi hài của ông được đưa về an táng tại quê nhà, Huế.

Quốc sử triều Nguyễn ghi rằng: Năm Ất Sửu (1865) nhân chuyến sang thăm Trung Quốc, ông Đặng Huy Trứ đến Hương Cảng. Tại đây lần đầu tiên ông được tiếp xúc với kỹ thuật nhiếp ảnh. Ông chụp hai bức chân dung của mình đem về nước. Năm Đinh Mão (1867), trong chuyến đi công cán Quảng Đông, Trung Quốc, ông nhờ người bạn, một quan chức nhà Thanh là Dương Khải Trí, mua hộ cho một bộ đò nghề chụp ảnh. Khi về nước, ông lấy Lạc Sinh Công Điếm sửa lại và lập ra hiệu ảnh Cảm Hiếu Đường.

ad NH
Đặng Huy Trứ - một danh sỹ triều Nguyễn đã đưa kỹ thuật nhiếp ảnh vào Việt Nam. Ông mở hiệu ảnh đầu tiên lấy tên là “Cảm hiếu Đường” tại phố Thanh Hà, Hà Nội.
Đặng Huy Trứ là trí thức Nho học và là nhà kinh tế, nhà quân sự, nhà chính trị yêu nước, có tư tưởng canh tân. Ông ra làm quan triều Nguyễn năm 1856, vào lúc thực dân Pháp mở đầu cuộc xâm lược nước ta. Sau khi Pháp đánh Hà Nội lần thứ nhất năm 1873, ông rút lên căn cứ Đồn Vàng, cùng Hoàng Kế Viêm chống Pháp. Ông mất tại Đồn Vàng năm Nhâm Tuất (1874) và thi hài của ông được đưa về an táng tại quê nhà, Huế.

Quốc sử triều Nguyễn ghi rằng: Năm Ất Sửu (1865) nhân chuyến sang thăm Trung Quốc, ông Đặng Huy Trứ đến Hương Cảng. Tại đây lần đầu tiên ông được tiếp xúc với kỹ thuật nhiếp ảnh. Ông chụp hai bức chân dung của mình đem về nước. Năm Đinh Mão (1867), trong chuyến đi công cán Quảng Đông, Trung Quốc, ông nhờ người bạn, một quan chức nhà Thanh là Dương Khải Trí, mua hộ cho một bộ đò nghề chụp ảnh. Khi về nước, ông lấy Lạc Sinh Công Điếm sửa lại và lập ra hiệu ảnh Cảm Hiếu Đường.

ad NH
Quan triều Nguyễn.
Quan triều Nguyễn.
Phan Liêm (潘蘝,[1] 1833 - 1896) con thứ 3 của Phan Thanh Giản, chụp năm 1896.
 Ông là lãnh tụ nghĩa quân kháng Pháp và là quan nhà Nguyễn, Việt Nam.
Mộ phần của ông ở chùa Trà Am, thôn Tư Tây, xã Thủy An, Thành phố Huế hiện nay, cách chợ Đông ba khoảng 15 km, sát bên núi. 
ad NH
Phan Liêm (潘蘝,[1] 1833 - 1896) con thứ 3 của Phan Thanh Giản, chụp năm 1896.
Ông là lãnh tụ nghĩa quân kháng Pháp và là quan nhà Nguyễn, Việt Nam.
Mộ phần của ông ở chùa Trà Am, thôn Tư Tây, xã Thủy An, Thành phố Huế hiện nay, cách chợ Đông ba khoảng 15 km, sát bên núi.
ad NH
Quan Thượng thư Bộ Hình triều Nguyễn Trần Đình Bá, người đã thu thập cuốn “Địa dư đồ khảo”.
ad NH
Quan Thượng thư Bộ Hình triều Nguyễn Trần Đình Bá, người đã thu thập cuốn “Địa dư đồ khảo”.
ad NH
Tiến sỹ Phạm Phú Thứ (1821–1882) một đại thần triều nhà Nguyễn, và là một trong số người có quan điểm canh tân nước Việt Nam trong những năm nửa cuối thế kỷ 19.
Lăng mộ Phạm Phú Thứ ở làng Đông Bàn thôn Nam Hà 1 xã Điện Trung huyện Điện Bàn tỉnh Quảng Nam.
ad NH
Tiến sỹ Phạm Phú Thứ (1821–1882) một đại thần triều nhà Nguyễn, và là một trong số người có quan điểm canh tân nước Việt Nam trong những năm nửa cuối thế kỷ 19.
Lăng mộ Phạm Phú Thứ ở làng Đông Bàn thôn Nam Hà 1 xã Điện Trung huyện Điện Bàn tỉnh Quảng Nam.
ad NH
Phạm Thận Duật ( 1825–1885) là một đại thần triều Nguyễn. Ông là người cùng với Tôn Thất Phan thay mặt triều đình vua Tự Đức ký vào bản Hòa ước Giáp Thân 1884 (Hòa ước Patenotre). 
Ông cũng là một nhà sử học nổi tiếng, từng giữ chức vụ Phó tổng tài Quốc sử quán kiêm quản Quốc tử giám, là người duyệt cuối cùng bản Quốc sử Khâm định Việt sử thông giám cương mục, từng là thầy dạy học cho hai hoàng thân là vua Dục Đức và Đồng Khánh sau này.
ad NH
Phạm Thận Duật ( 1825–1885) là một đại thần triều Nguyễn. Ông là người cùng với Tôn Thất Phan thay mặt triều đình vua Tự Đức ký vào bản Hòa ước Giáp Thân 1884 (Hòa ước Patenotre).
Ông cũng là một nhà sử học nổi tiếng, từng giữ chức vụ Phó tổng tài Quốc sử quán kiêm quản Quốc tử giám, là người duyệt cuối cùng bản Quốc sử Khâm định Việt sử thông giám cương mục, từng là thầy dạy học cho hai hoàng thân là vua Dục Đức và Đồng Khánh sau này.
ad NH
Nguyễn Văn Tường (1824-1886), là đại thần phụ chính của nhà Nguyễn.
ad NH
Nguyễn Văn Tường (1824-1886), là đại thần phụ chính của nhà Nguyễn.
ad NH
Nguyễn Quán Nho (1638-1708).
Là người làng Đông Triều, xã Vãn Hà, huyện Thụy Nguyên, thuộc thừa tuyên Thanh Hóa thời Hậu Lê.
Thủa nhỏ nhà nghèo, cha mất sớm nhưng Nguyễn Quán Nho rất ham học, ông đỗ Tiến sĩ khi mới 30 tuổi, sau làm chức Tể tướng.

Ngày Nguyễn Quán Nho vinh quy bái tổ về làng, mặc cho các quan lại hàng tổng hàng huyện chuẩn bị đón rước, mẹ ông vẫn bình thản ra ao làng vớt bèo về nuôi lợn. Khi lý trưởng mời bà về dự lễ rước quan trạng, bà nói rằng:

- Nó thi đỗ là việc của nó sao lại phải đón rước, tôi đang bận vớt bèo!
Nguyễn Quán Nho nghe kể lại, vội cởi áo mũ, cởi giày, xắn quần ra ao làng cầm gậy vớt đầy rổ bèo đem về nhà rồi mời mẹ ra đình làng làm lễ.

Khi làm quan vì việc công bận bịu không về thăm mẹ được nên nhân ngày Tết mới gom góp tiền bổng lộc sắm cho mẹ già chiếc áo lụa và sai lính đem về. Mẹ ông giở ra thấy tấm áo quý chưa từng được mặc, nhưng lại tỏ ra không vui vì nghĩ đây là của bất chính. Bà nói Bổng lộc của quan là dầu mỡ của dân hay sao, rồi bà đốt tấm áo, gói nắm tro gửi lại cho quan. Khi mở ra, Quán Nho hiểu thâm ý của mẹ, suốt đời ông đã sống thanh liêm, không bòn rút của dân lành.

Khi ông mất, dân quê ông khóc thương ông:
Chàng về Vạn Vạc(1) chàng ơi.
Con chàng bỏ đói ai nuôi cho chàng.

Hiện nay mộ Nguyễn Quán Nho ở tại thị trấn Vạn Hà, Thiệu Hóa, Thanh Hóa.

1. Vạn là làng Vạn hay Vạn Hà, Vãn Hà, nay thuộc thị trấn Vạn Hà, Vạc là làng Vạc, quê của Nguyễn Quán Nho
Nguyễn Quán Nho (1638-1708).
Là người làng Đông Triều, xã Vãn Hà, huyện Thụy Nguyên, thuộc thừa tuyên Thanh Hóa thời Hậu Lê.
Thủa nhỏ nhà nghèo, cha mất sớm nhưng Nguyễn Quán Nho rất ham học, ông đỗ Tiến sĩ khi mới 30 tuổi, sau làm chức Tể tướng.

Ngày Nguyễn Quán Nho vinh quy bái tổ về làng, mặc cho các quan lại hàng tổng hàng huyện chuẩn bị đón rước, mẹ ông vẫn bình thản ra ao làng vớt bèo về nuôi lợn. Khi lý trưởng mời bà về dự lễ rước quan trạng, bà nói rằng:

- Nó thi đỗ là việc của nó sao lại phải đón rước, tôi đang bận vớt bèo!
Nguyễn Quán Nho nghe kể lại, vội cởi áo mũ, cởi giày, xắn quần ra ao làng cầm gậy vớt đầy rổ bèo đem về nhà rồi mời mẹ ra đình làng làm lễ.

Khi làm quan vì việc công bận bịu không về thăm mẹ được nên nhân ngày Tết mới gom góp tiền bổng lộc sắm cho mẹ già chiếc áo lụa và sai lính đem về. Mẹ ông giở ra thấy tấm áo quý chưa từng được mặc, nhưng lại tỏ ra không vui vì nghĩ đây là của bất chính. Bà nói Bổng lộc của quan là dầu mỡ của dân hay sao, rồi bà đốt tấm áo, gói nắm tro gửi lại cho quan. Khi mở ra, Quán Nho hiểu thâm ý của mẹ, suốt đời ông đã sống thanh liêm, không bòn rút của dân lành.

Khi ông mất, dân quê ông khóc thương ông:
Chàng về Vạn Vạc(1) chàng ơi.
Con chàng bỏ đói ai nuôi cho chàng.

Hiện nay mộ Nguyễn Quán Nho ở tại thị trấn Vạn Hà, Thiệu Hóa, Thanh Hóa.

1. Vạn là làng Vạn hay Vạn Hà, Vãn Hà, nay thuộc thị trấn Vạn Hà, Vạc là làng Vạc, quê của Nguyễn Quán Nho

Xem Thêm