Quần đảo Hoàng Sa và trận hải chiến 19-1-1974

Hải chiến Hoàng Sa là một trận chiến giữa Hải quân Việt Nam Cộng hòa và Hải quân Trung Quốc từ 17 đến 19 tháng 1 năm 1974 trên quần đảo Hoàng Sa.Phía Việt Nam Cộng hòa có 4 chiến hạm là Tuần dương hạm Lý Thường Kiệt (HQ-16), Hộ tống hạm Nhật Tảo (HQ-10), Tuần dương hạm Trần Bình Trọng (HQ-5), Khu trục hạm Trần Khánh Dư (HQ-4), 1 đại đội hải kích thuộc Hải quân Việt Nam Cộng hòa, một số biệt hải (biệt kích hải quân) và 1 trung đội địa phương quân đang trú phòng tại đảo Hoàng Sa.[6]Phía Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa có 4 chiếm hạm trực tiếp tham gia trận chiến là Liệp tiềm đĩnh (tàu chống ngầm) số 274, Liệp tiềm đĩnh số 271, Tảo lôi hạm số 389, Tảo lôi hạm số 396, 2 ngư thuyền ngụy trang số 402 và số 407.[7] Ngoài ra, phía Trung Quốc còn có lực lượng thuộc Trung đoàn 10 Hải quân lục chiến, trinh sát (không rõ số lượng). Sau khi trận chiến đã kết thúc, thì Liệp tiềm đĩnh số 282, Liệp tiềm đĩnh số 281 mới đến tăng viện........Nguồn: httpa//vi.wikipedia.org/wiki/H%E1%BA%A3ibchi%E1%BA%BFnbHo%C3%A0ngbSab1974:::http://vi.wikipedia.org/wiki/H%E1%BA%A3i_chi%E1%BA%BFn_Ho%C3%A0ng_Sa_1974
PHÁP XÁC NHẬN CHỦ QUYỀN CỦA VIỆT NAM TẠI ĐẢO HOÀNG SA TỪ NĂM 1816

Các công trình Pháp xây dựng trên đảo Hoàng Sa gồm: 
- Bia chủ quyền ở gần giữa đảo vào năm 1938, nhằm xác nhận lại chủ quyền chính thức của Việt Nam từ năm 1816.
- Hải đăng: được xây dựng ở phía bắc của đảo.
- Cầu tàu: được xây dựng ở phía nam của đảo, có một rạch nước khá sâu dẫn từ ngoài biển vào cầu tàu. 
- Đường sá: có ba con đường chủ chốt trên đảo.
- Trạm khí tượng trên đảo bắt đầu hoạt động khoảng từ năm 1938 với số hiệu 48.860 do Tổ chức Khí tượng Quốc tế cấp phát. 
- Miếu Bà: được xây ở góc tây nam của đảo trong giai đoạn sau khi Đế quốc Nhật Bản đầu hàng.
- Nhà thờ Kitô giáo: được xây dựng vào thập niên 1950.
- Ở gần giữa đảo còn có sân bóng chuyền, cột cờ.
Ảnh: Toàn cảnh các công trình kỹ thuật và hành chính do Pháp xây dựng tại đảo Hoàng Sa năm 1938.
PHÁP XÁC NHẬN CHỦ QUYỀN CỦA VIỆT NAM TẠI ĐẢO HOÀNG SA TỪ NĂM 1816

Các công trình Pháp xây dựng trên đảo Hoàng Sa gồm:
- Bia chủ quyền ở gần giữa đảo vào năm 1938, nhằm xác nhận lại chủ quyền chính thức của Việt Nam từ năm 1816.
- Hải đăng: được xây dựng ở phía bắc của đảo.
- Cầu tàu: được xây dựng ở phía nam của đảo, có một rạch nước khá sâu dẫn từ ngoài biển vào cầu tàu.
- Đường sá: có ba con đường chủ chốt trên đảo.
- Trạm khí tượng trên đảo bắt đầu hoạt động khoảng từ năm 1938 với số hiệu 48.860 do Tổ chức Khí tượng Quốc tế cấp phát.
- Miếu Bà: được xây ở góc tây nam của đảo trong giai đoạn sau khi Đế quốc Nhật Bản đầu hàng.
- Nhà thờ Kitô giáo: được xây dựng vào thập niên 1950.
- Ở gần giữa đảo còn có sân bóng chuyền, cột cờ.
Ảnh: Toàn cảnh các công trình kỹ thuật và hành chính do Pháp xây dựng tại đảo Hoàng Sa năm 1938.
PHÁP XÂY DỰNG HẢI ĐĂNG Ở HOÀNG SA

Ngày 26-10-1937, tàu Paul Bert và tàu Átrolabe  của Pháp đã vận chuyển người và vật liệu phục vụ công trình xây dựng đèn biển. Công việc lắp đặt đèn, các cọc hoa tiêu do kỹ sư Martinet chỉ huy và mọi việc giám sát do ông Don Carli – trưởng máy tàu Paul Bert – đảm nhiệm. 
Sau bốn ngày làm việc cật lực cả ngày lẫn đêm, thủy thủ đoàn tàu La Marne kết thúc công việc lắp đặt. Để phục vụ công trình, 70 tấn vật liệu đã được vận chuyển ra quần đảo Hoàng Sa, trong đó có 6 tấn kim loại.

Cột hải đăng được đúc bằng bêtông đứng trên một dải cát san hô, đã được tính toán chịu được gió lốc xoáy (300 kg/m2). Ngọn đèn sẽ cháy thường xuyên liên tục trong sáu tháng bằng gas xúc tác, nhiên liệu chứa trong một bộ gồm mười ống kim loại được thiết kế bên trong cột tháp. 

Độ chiếu sáng của hải đăng là 12 hải lý trong điều kiện thời tiết bình thường. Với kích cỡ của tháp, nếu cần thiết có thể chiếu xa thêm 2 hải lý bằng cách thêm nhiên liệu sử dụng. Khi ngọn hải đăng được thắp sáng, tàu bè dễ dàng đi lại giữa các rạn trong nhóm đảo Lưỡi Liềm.

Ảnh: Lá cờ Pháp khẳng định chủ quyền trên đảo Hoàng Sa
PHÁP XÂY DỰNG HẢI ĐĂNG Ở HOÀNG SA

Ngày 26-10-1937, tàu Paul Bert và tàu Átrolabe của Pháp đã vận chuyển người và vật liệu phục vụ công trình xây dựng đèn biển. Công việc lắp đặt đèn, các cọc hoa tiêu do kỹ sư Martinet chỉ huy và mọi việc giám sát do ông Don Carli – trưởng máy tàu Paul Bert – đảm nhiệm.
Sau bốn ngày làm việc cật lực cả ngày lẫn đêm, thủy thủ đoàn tàu La Marne kết thúc công việc lắp đặt. Để phục vụ công trình, 70 tấn vật liệu đã được vận chuyển ra quần đảo Hoàng Sa, trong đó có 6 tấn kim loại.

Cột hải đăng được đúc bằng bêtông đứng trên một dải cát san hô, đã được tính toán chịu được gió lốc xoáy (300 kg/m2). Ngọn đèn sẽ cháy thường xuyên liên tục trong sáu tháng bằng gas xúc tác, nhiên liệu chứa trong một bộ gồm mười ống kim loại được thiết kế bên trong cột tháp.

Độ chiếu sáng của hải đăng là 12 hải lý trong điều kiện thời tiết bình thường. Với kích cỡ của tháp, nếu cần thiết có thể chiếu xa thêm 2 hải lý bằng cách thêm nhiên liệu sử dụng. Khi ngọn hải đăng được thắp sáng, tàu bè dễ dàng đi lại giữa các rạn trong nhóm đảo Lưỡi Liềm.

Ảnh: Lá cờ Pháp khẳng định chủ quyền trên đảo Hoàng Sa
Một bia chủ quyền được dựng trên đảo Hoàng Sa năm 1930
Tháng 6/1938, một đơn vị lính bảo an Việt Nam được phái ra đồn trú tại Hoàng Sa.
Một bia chủ quyền được dựng trên đảo Hoàng Sa năm 1930
Tháng 6/1938, một đơn vị lính bảo an Việt Nam được phái ra đồn trú tại Hoàng Sa.
Bia chủ quyền của Việt Nam trên quần đảo Hoàng Sa.
Bia chủ quyền của Việt Nam trên quần đảo Hoàng Sa.
THỦY QUÂN LỤC CHIẾN VNCH BẮT SỐNG QUÂN TRUNG CỘNG TẠI HOÀNG SA

(Hầu hết chúng ta chỉ biết đến trận hải chiến Hoàng Sa xẩy ra vào tháng 1/1974 giữa Hải Quân VNCH và quân Trung Cộng, nhưng ít ai biết là 15 năm trước đó, tháng 1/1959, đã có một trận đánh giữa Thủy Quân Lục Chiến VNCH và quân Trung Cộng ở Hoàng Sa. Nói cho chính xác hơn là sau khi thủ tướng CSVN Phạm Văn Đồng ký công hàm công nhận quần
đảo Hoàng Sa cho Trung Cộng thì Trung Cộng đã đem dân quân đến thiết lập cơ sở tại đây, nhưng chúng đã bị TQLC/VNCH đánh đuổi và bắt sống. Người chỉ huy trực tiếp cuộc hành quân này là Trung Úy Cổ Tấn Tinh Châu, ĐĐT/ĐĐ.3/TĐ.2 TQLC. Năm 1963, Đại úy Cổ Tấn Tinh Châu là Tiểu Đoàn Trưởng TĐ.2/TQLC và sau này ông là Thiếu Tá phụ tá CHT trường Võ Bị Quốc Gia VN. Sau đây là bài viết của Mũ Xanh Cổ Tấn Tinh Châu.)

CHIẾM LẠI ĐẢO DUCAN

Vào khỏang đầu năm 1959, Chỉ Huy Trưởng TQLCVN là Thiếu Tá Lê Như Hùng, Tiểu Đoàn Trưởng TĐ.2 TQLC là Đại Úy Nguyễn Thành Yên. Tôi, Trung Úy Cổ Tấn Tinh Châu, Đại Đội trưởng ĐĐ3/TĐ2 TQLC. Đại đội tôi đang đóng ở Cam Ranh thì được lệnh đem đại đội ra kiểm soát các đảo trong quẩn đảo Hoàng Sa là Pattle (đảo chánh), Robert, Duncan, Drumont và Money. Khi đến quần đảo Hoàng Sa thì tôi đóng quân tại đảo Pattle với 2 trung đội, còn một trung đội thì đóng trên đảo Robert. Hai ngày sau tôi nhận được lệnh di chuyển bằng chiến hạm do HQ Trung Úy Vũ Xuân An (sau này là HQ đại tá, định cư ở Canada) làm hạm trưởng đến kiểm soát đảo Ducan, tên Việt Nam sau này là đảo Quang Hòa, cách đảo Pattle chừng 1 giờ 30 phút đi bằng tàu.

Tôi chỉ đi với một trung đội+, phần còn lại đóng và giữ hai đảo Pattle và Robert. Tàu chạy được khoảng gần một giờ thì hạm trưởng Vũ Xuân An chiếu ống nhòm và nói với tôi là trên đảo Ducan có lá cờ nhưng không phải là cờ đỏ sao vàng, rồi anh đưa ống nhòm cho tôi xem. Sau khi quan sát kỹ, tôi nói với anh đó là cờ Trung Cộng, cờ đỏ 5 sao vàng.

Tôi và hạm trưởng hội ý với nhau và quyết định dừng tàu lại để báo cáo về Bộ Tư Lệnh Hải Quân, vì thời gian đó TQLC còn dưới quyền chỉ huy của Bộ Tư Lệnh Hải Quân. Sau chừng một tiếng thì chúng tôi nhận được lệnh thượng cấp cho chiếm lại đảo Ducan.

Chiến hạm chở chúng tôi không phải là loại tàu đổ bộ nên tàu phải đậu cách bờ trên một cây số, vì đây là bãi san hô, không thể vào gần hơn được cũng không có xuồng để vào bờ. Tôi có nêu vần đề khó khăn này với hạm trưởng và yêu cầu báo cáo về BTL/HQ thì tôi được lệnh “bằng mọi giá phải chiếm”.

Đây là lúc khó khăn nhất mà tôi “đơn thân độc mã” phải quyết định một mình, không liên lạc được với Đại Úy Tiểu Đoàn Trưởng Nguyễn Thành Yên để vấn kế. Không có xuồng thì phải lội trên bãi san hô gập ghềnh ngập nước nông sâu chứ đâu phải bãi cát phẳng phiu như BTL/HQ nghĩ rồi cho lệnh “bẳng mọi giá”! Rõ là lệnh đi với lạc!

Đảo Ducan hình móng ngựa, có cây cối khá nhiều, nhìn lên đảo tôi thấy có hai dẫy nhà vách cây lợp lá, thấp thoáng có bóng người đi lại sinh hoạt bình thường, dường như họ không biết có Hải Quân và TQLC/VN đang chuẩn bị tấn công họ để chiếm lại đảo.

Khi có lệnh phải chiếm đảo bằng mọi giá mà tàu không vào sát bờ được, tàu cũng không có xuồng đổ bộ, để hạn chế tối đa thiệt hại cho đơn vị mình, tôi đã yêu cầu hạm trưởng yểm trợ hải pháo, tác xạ tối đa lên mục tiêu trước khi TQLC đổ bộ. Nhưng sau khi quan sát tình hình trên đảo tôi thay đổi ý định và yêu cầu HQ chỉ tác xạ lên mục tiêu khi chúng tôi đã nổ súng trước. Sở dĩ tôi thay đổi kế hoạch hỏa lực yểm trợ vì những lý do:

1/ Cờ Trung Cộng rõ ràng trên đảo, nhưng chưa xác định được những người trên đó là quân hay dân hoặc cả hai lẫn lộn nên nếu HQ tác xạ hải pháo lên đảo trước thì chắc chắn có thương vong, chết dân tội nghiệp.

2/ Dường như lực lượng trên đảo không biết sắp bị tấn công nên tôi chưa xin HQ tác xạ lên mục tiêu trước để giữ yếu tố bất ngờ.

3/ Nếu trên đảo là quân TC, có vũ khí, khi HQVN nổ súng coi như báo động cho họ chạy ra tuyến phòng thủ thì khi TQLCVN bì bõm lội nước tiến lên thì chắc chắn sẽ là những tấm bia di chuyển dưới nước để quân địch trên bờ tác xạ, thiệt hại cho TQLC là chắc chắn nhưng chưa chắc đã chiếm được đảo. Đây là những giờ phút quan trọng nhất của các cấp chỉ huy trực tiếp tại mặt trận.

Do đó tôi yêu cầu HQ sẵn sàng và chỉ trực xạ và bắn tối đa lên mục tiêu khi có súng của địch quân từ trên đảo bắn vào TQLC chúng tôi đang lội nước, đạp lên đá san hô tiến vào bờ.

Chúng tôi đổ bộ xuống, tiến quân rất chậm và khó vì bước trên đá san hô. Khi đến gần bờ thì nước lại sâu nên tiến quân không nhanh được.Có nơi chúng tôi phải kéo binh sĩ lên khỏi những vũng sâu.

Vừa tiến quân vừa hồi hộp, nếu lúc này có tiếng súng nổ trên đảo bắn ra thì TQLC chịu trận nằm giữa 2 lằn đạn. Đạn của địch từ trên đảo bắn ra và hải pháo của quân bạn Hải Quân từ ngoài biển tác xạ vào. Thương vong chắc chắn là lớn!

Rất may mắn, đã không có một tiếng súng nổ khi chúng tôi hô “xung phong” ào ạt tiến lên đảo, bắt được tất cả là 60 “thanh niên” không trang bị vũ khí, rồi đưa ra chiến hạm của Trung úy An bằng xuồng của Trung cộng.

Tôi suy nghĩ đây không phải là thường dân Trung Cộng mà là dân quân, chắc chắn chúng phải có vũ khí, nhưng chúng đã chôn dấu kỹ để khỏi lộ diện là mang quân đi xâm lăng nước láng giềng mà chỉ là giả dạng thường dân đi tha phương “cẩu sực” mà thôi, ngoài ra còn có mục đích để dò phản ứng của VNCH và Hoa Kỳ nữa. Vì vào thời điểm này TC còn quá yếu so với HK. Nghĩ vậy, nhưng đó là chuyện của thượng cấp, còn tôi chỉ là cấp đại đội trưởng TQLC đã hoàn tất nhiệm vụ, đã bắt được “dân TC” trên đảo, có nghĩa là đã thi hành nhiệm vụ xong, không tốn một viên đạn, máu TQLC có chảy nhưng do san hô đâm. Chúng tôi để nguyên hai dẫy nhà đã xây cất 5 hay 6 tháng rồi, chúng tôi chỉ tịch thu lá cờ Trung Cộng mà thôi.

Sau đó chiến hạm cũng phát giác quanh đảo Ducan thêm 5 ghe nữa, chúng tôi đuổi theo bắt được và kéo về đảo chính Pattle nơi Đại Đội 3/TĐ.2/TQLC đóng quân, còn hơn 60 “dân TC” thì đem về Đà Nẵng.

Chiều hôm đó Thiếu Tá Lê Như Hùng CHT/TQLC đã dùng máy bay Dakota (C47) bay vòng vòng trên đảo Pattle để khuyến khích khen ngợi tinh thần anh em binh sĩ, vì ở Hoàng Sa không có sân bay.

Một tuần sau, số người bị bắt trên ghe được đưa trở ra đảo Pattle và thả họ cùng trả mấy chiếc ghe lại cho họ. Còn 60 dân (quân) TC bắt được trên đảo Ducan thì một tháng sau trao trả sang Hồng Kông. Và sau đó thì TQLC chỉ đóng quân trên 2 đảo Pattle và Robert mà thôi, không có ai đóng quân trên đảo Ducan nữa.

Tôi xin nhắc lại là vào thời điểm 1959, theo tôi nghĩ thì TC chỉ muốn dò phản ứng của VNCH ra sao mà thôi, vì khi đó TC chưa đủ mạnh để “bắt nạt” các quốc gia trong vùng, và nhất là đối với HK, đồng minh của VNCH, có lực lượng hải quân hùng mạnh trên biển Đông nên TC chưa thể ngang nhiên đem quân xâm chiếm các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, chưa thể ngang nhiên vẽ cái “lưỡi bò” trên biển Đông như ngày nay.

Thời điểm sau 30/4/75, không còn VNCH, không còn Mỹ mà chỉ còn chư hầu là XHCNVN với 15 tên đầu sỏ trong bộ chính trị của đảng CSVN sẵn sàng làm tay sai, dâng đất liền, dâng biển cả, dâng mồ mả tổ tiên cha ông lên quan thầy TC.

Cái gọi là câu khuôn vàng thước ngọc của CSVN là: “Rừng vàng, biển bạc, đất phì nhiêu, các nước anh em giúp đỡ nhiều” Thì nay còn đâu? Con dân Việt bắt tôm cá ở cái “biển bạc” của nước mình thì bị tầu-Tầu đâm cho chìm mà bọn cầm quyền CSVN sợ, không dám nói là tàu-Tầu mà bẩu rằng tầu lạ! Thế mới là chuyện lạ.

ĐAU! ĐAU! ĐAU!
Hỡi dân Việt, mau mau đứng dậy.
(Mũ Xanh Cổ Tấn Tinh Châu)

Thành viên Papi  Trích từ trang FB https://www.facebook.com/photo.php?fbid=354615431287526&set=a.354615377954198.78175.236171449798592&type=1

Posted by Admin ĐN
THỦY QUÂN LỤC CHIẾN VNCH BẮT SỐNG QUÂN TRUNG CỘNG TẠI HOÀNG SA

(Hầu hết chúng ta chỉ biết đến trận hải chiến Hoàng Sa xẩy ra vào tháng 1/1974 giữa Hải Quân VNCH và quân Trung Cộng, nhưng ít ai biết là 15 năm trước đó, tháng 1/1959, đã có một trận đánh giữa Thủy Quân Lục Chiến VNCH và quân Trung Cộng ở Hoàng Sa. Nói cho chính xác hơn là sau khi thủ tướng CSVN Phạm Văn Đồng ký công hàm công nhận quần
đảo Hoàng Sa cho Trung Cộng thì Trung Cộng đã đem dân quân đến thiết lập cơ sở tại đây, nhưng chúng đã bị TQLC/VNCH đánh đuổi và bắt sống. Người chỉ huy trực tiếp cuộc hành quân này là Trung Úy Cổ Tấn Tinh Châu, ĐĐT/ĐĐ.3/TĐ.2 TQLC. Năm 1963, Đại úy Cổ Tấn Tinh Châu là Tiểu Đoàn Trưởng TĐ.2/TQLC và sau này ông là Thiếu Tá phụ tá CHT trường Võ Bị Quốc Gia VN. Sau đây là bài viết của Mũ Xanh Cổ Tấn Tinh Châu.)

CHIẾM LẠI ĐẢO DUCAN

Vào khỏang đầu năm 1959, Chỉ Huy Trưởng TQLCVN là Thiếu Tá Lê Như Hùng, Tiểu Đoàn Trưởng TĐ.2 TQLC là Đại Úy Nguyễn Thành Yên. Tôi, Trung Úy Cổ Tấn Tinh Châu, Đại Đội trưởng ĐĐ3/TĐ2 TQLC. Đại đội tôi đang đóng ở Cam Ranh thì được lệnh đem đại đội ra kiểm soát các đảo trong quẩn đảo Hoàng Sa là Pattle (đảo chánh), Robert, Duncan, Drumont và Money. Khi đến quần đảo Hoàng Sa thì tôi đóng quân tại đảo Pattle với 2 trung đội, còn một trung đội thì đóng trên đảo Robert. Hai ngày sau tôi nhận được lệnh di chuyển bằng chiến hạm do HQ Trung Úy Vũ Xuân An (sau này là HQ đại tá, định cư ở Canada) làm hạm trưởng đến kiểm soát đảo Ducan, tên Việt Nam sau này là đảo Quang Hòa, cách đảo Pattle chừng 1 giờ 30 phút đi bằng tàu.

Tôi chỉ đi với một trung đội+, phần còn lại đóng và giữ hai đảo Pattle và Robert. Tàu chạy được khoảng gần một giờ thì hạm trưởng Vũ Xuân An chiếu ống nhòm và nói với tôi là trên đảo Ducan có lá cờ nhưng không phải là cờ đỏ sao vàng, rồi anh đưa ống nhòm cho tôi xem. Sau khi quan sát kỹ, tôi nói với anh đó là cờ Trung Cộng, cờ đỏ 5 sao vàng.

Tôi và hạm trưởng hội ý với nhau và quyết định dừng tàu lại để báo cáo về Bộ Tư Lệnh Hải Quân, vì thời gian đó TQLC còn dưới quyền chỉ huy của Bộ Tư Lệnh Hải Quân. Sau chừng một tiếng thì chúng tôi nhận được lệnh thượng cấp cho chiếm lại đảo Ducan.

Chiến hạm chở chúng tôi không phải là loại tàu đổ bộ nên tàu phải đậu cách bờ trên một cây số, vì đây là bãi san hô, không thể vào gần hơn được cũng không có xuồng để vào bờ. Tôi có nêu vần đề khó khăn này với hạm trưởng và yêu cầu báo cáo về BTL/HQ thì tôi được lệnh “bằng mọi giá phải chiếm”.

Đây là lúc khó khăn nhất mà tôi “đơn thân độc mã” phải quyết định một mình, không liên lạc được với Đại Úy Tiểu Đoàn Trưởng Nguyễn Thành Yên để vấn kế. Không có xuồng thì phải lội trên bãi san hô gập ghềnh ngập nước nông sâu chứ đâu phải bãi cát phẳng phiu như BTL/HQ nghĩ rồi cho lệnh “bẳng mọi giá”! Rõ là lệnh đi với lạc!

Đảo Ducan hình móng ngựa, có cây cối khá nhiều, nhìn lên đảo tôi thấy có hai dẫy nhà vách cây lợp lá, thấp thoáng có bóng người đi lại sinh hoạt bình thường, dường như họ không biết có Hải Quân và TQLC/VN đang chuẩn bị tấn công họ để chiếm lại đảo.

Khi có lệnh phải chiếm đảo bằng mọi giá mà tàu không vào sát bờ được, tàu cũng không có xuồng đổ bộ, để hạn chế tối đa thiệt hại cho đơn vị mình, tôi đã yêu cầu hạm trưởng yểm trợ hải pháo, tác xạ tối đa lên mục tiêu trước khi TQLC đổ bộ. Nhưng sau khi quan sát tình hình trên đảo tôi thay đổi ý định và yêu cầu HQ chỉ tác xạ lên mục tiêu khi chúng tôi đã nổ súng trước. Sở dĩ tôi thay đổi kế hoạch hỏa lực yểm trợ vì những lý do:

1/ Cờ Trung Cộng rõ ràng trên đảo, nhưng chưa xác định được những người trên đó là quân hay dân hoặc cả hai lẫn lộn nên nếu HQ tác xạ hải pháo lên đảo trước thì chắc chắn có thương vong, chết dân tội nghiệp.

2/ Dường như lực lượng trên đảo không biết sắp bị tấn công nên tôi chưa xin HQ tác xạ lên mục tiêu trước để giữ yếu tố bất ngờ.

3/ Nếu trên đảo là quân TC, có vũ khí, khi HQVN nổ súng coi như báo động cho họ chạy ra tuyến phòng thủ thì khi TQLCVN bì bõm lội nước tiến lên thì chắc chắn sẽ là những tấm bia di chuyển dưới nước để quân địch trên bờ tác xạ, thiệt hại cho TQLC là chắc chắn nhưng chưa chắc đã chiếm được đảo. Đây là những giờ phút quan trọng nhất của các cấp chỉ huy trực tiếp tại mặt trận.

Do đó tôi yêu cầu HQ sẵn sàng và chỉ trực xạ và bắn tối đa lên mục tiêu khi có súng của địch quân từ trên đảo bắn vào TQLC chúng tôi đang lội nước, đạp lên đá san hô tiến vào bờ.

Chúng tôi đổ bộ xuống, tiến quân rất chậm và khó vì bước trên đá san hô. Khi đến gần bờ thì nước lại sâu nên tiến quân không nhanh được.Có nơi chúng tôi phải kéo binh sĩ lên khỏi những vũng sâu.

Vừa tiến quân vừa hồi hộp, nếu lúc này có tiếng súng nổ trên đảo bắn ra thì TQLC chịu trận nằm giữa 2 lằn đạn. Đạn của địch từ trên đảo bắn ra và hải pháo của quân bạn Hải Quân từ ngoài biển tác xạ vào. Thương vong chắc chắn là lớn!

Rất may mắn, đã không có một tiếng súng nổ khi chúng tôi hô “xung phong” ào ạt tiến lên đảo, bắt được tất cả là 60 “thanh niên” không trang bị vũ khí, rồi đưa ra chiến hạm của Trung úy An bằng xuồng của Trung cộng.

Tôi suy nghĩ đây không phải là thường dân Trung Cộng mà là dân quân, chắc chắn chúng phải có vũ khí, nhưng chúng đã chôn dấu kỹ để khỏi lộ diện là mang quân đi xâm lăng nước láng giềng mà chỉ là giả dạng thường dân đi tha phương “cẩu sực” mà thôi, ngoài ra còn có mục đích để dò phản ứng của VNCH và Hoa Kỳ nữa. Vì vào thời điểm này TC còn quá yếu so với HK. Nghĩ vậy, nhưng đó là chuyện của thượng cấp, còn tôi chỉ là cấp đại đội trưởng TQLC đã hoàn tất nhiệm vụ, đã bắt được “dân TC” trên đảo, có nghĩa là đã thi hành nhiệm vụ xong, không tốn một viên đạn, máu TQLC có chảy nhưng do san hô đâm. Chúng tôi để nguyên hai dẫy nhà đã xây cất 5 hay 6 tháng rồi, chúng tôi chỉ tịch thu lá cờ Trung Cộng mà thôi.

Sau đó chiến hạm cũng phát giác quanh đảo Ducan thêm 5 ghe nữa, chúng tôi đuổi theo bắt được và kéo về đảo chính Pattle nơi Đại Đội 3/TĐ.2/TQLC đóng quân, còn hơn 60 “dân TC” thì đem về Đà Nẵng.

Chiều hôm đó Thiếu Tá Lê Như Hùng CHT/TQLC đã dùng máy bay Dakota (C47) bay vòng vòng trên đảo Pattle để khuyến khích khen ngợi tinh thần anh em binh sĩ, vì ở Hoàng Sa không có sân bay.

Một tuần sau, số người bị bắt trên ghe được đưa trở ra đảo Pattle và thả họ cùng trả mấy chiếc ghe lại cho họ. Còn 60 dân (quân) TC bắt được trên đảo Ducan thì một tháng sau trao trả sang Hồng Kông. Và sau đó thì TQLC chỉ đóng quân trên 2 đảo Pattle và Robert mà thôi, không có ai đóng quân trên đảo Ducan nữa.

Tôi xin nhắc lại là vào thời điểm 1959, theo tôi nghĩ thì TC chỉ muốn dò phản ứng của VNCH ra sao mà thôi, vì khi đó TC chưa đủ mạnh để “bắt nạt” các quốc gia trong vùng, và nhất là đối với HK, đồng minh của VNCH, có lực lượng hải quân hùng mạnh trên biển Đông nên TC chưa thể ngang nhiên đem quân xâm chiếm các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, chưa thể ngang nhiên vẽ cái “lưỡi bò” trên biển Đông như ngày nay.

Thời điểm sau 30/4/75, không còn VNCH, không còn Mỹ mà chỉ còn chư hầu là XHCNVN với 15 tên đầu sỏ trong bộ chính trị của đảng CSVN sẵn sàng làm tay sai, dâng đất liền, dâng biển cả, dâng mồ mả tổ tiên cha ông lên quan thầy TC.

Cái gọi là câu khuôn vàng thước ngọc của CSVN là: “Rừng vàng, biển bạc, đất phì nhiêu, các nước anh em giúp đỡ nhiều” Thì nay còn đâu? Con dân Việt bắt tôm cá ở cái “biển bạc” của nước mình thì bị tầu-Tầu đâm cho chìm mà bọn cầm quyền CSVN sợ, không dám nói là tàu-Tầu mà bẩu rằng tầu lạ! Thế mới là chuyện lạ.

ĐAU! ĐAU! ĐAU!
Hỡi dân Việt, mau mau đứng dậy.
(Mũ Xanh Cổ Tấn Tinh Châu)

Thành viên Papi Trích từ trang FB https://www.facebook.com/photo.php?fbid=354615431287526&set=a.354615377954198.78175.236171449798592&type=1

Posted by Admin ĐN
Lời tuyên bố của Đoàn đại biểu Việt Nam tại Hội nghị San Francisco (1951). 
(Đăng trong tạp chí France-A’e số 66-67 Novembre-Décembre, 1951)
Ngày 7-9-1951, trưởng đoàn đại biểu của Chính phủ Bảo Đại Trần Văn Hữu tuyên bố tại Hội nghị San Francisco về việc ký hoà ước với Nhật Bản rằng từ lâu quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa là bộ phận của lãnh thổ Việt Nam: “… và cũng vì cần phải dứt khoát lợi dụng tất cả mọi cơ hội để dập tắt những mầm mống các tranh chấp sau này, chúng tôi khẳng định chủ quyền đã có từ lâu đời của chúng tôi đối với các quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa”.
Lời tuyên bố của Đoàn đại biểu Việt Nam tại Hội nghị San Francisco (1951).
(Đăng trong tạp chí France-A’e số 66-67 Novembre-Décembre, 1951)
Ngày 7-9-1951, trưởng đoàn đại biểu của Chính phủ Bảo Đại Trần Văn Hữu tuyên bố tại Hội nghị San Francisco về việc ký hoà ước với Nhật Bản rằng từ lâu quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa là bộ phận của lãnh thổ Việt Nam: “… và cũng vì cần phải dứt khoát lợi dụng tất cả mọi cơ hội để dập tắt những mầm mống các tranh chấp sau này, chúng tôi khẳng định chủ quyền đã có từ lâu đời của chúng tôi đối với các quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa”.
Liệt sĩ Ngụy Văn Thà
Liệt sĩ Ngụy Văn Thà
Ghi chủ quyền trên đảo
Ghi chủ quyền trên đảo
Các tàu chiến tham gia trận hải chiến 1974
Các tàu chiến tham gia trận hải chiến 1974
Người dân miền Nam biểu tình phản đối Trung Quốc đánh chiếm Hoàng Sa
Người dân miền Nam biểu tình phản đối Trung Quốc đánh chiếm Hoàng Sa
Công trình trên đảo
Công trình trên đảo
Đại tá Hà Văn Ngạc chỉ huy trận hải chiến
Đại tá Hà Văn Ngạc chỉ huy trận hải chiến
Tế lễ người lính Hoàng Sa
Tế lễ người lính Hoàng Sa
Người lính VNCH trở về sau trận 19-1-1974
Người lính VNCH trở về sau trận 19-1-1974
Mộ gió người lính Hoàng Sa
Mộ gió người lính Hoàng Sa
Mộ người lính Hoàng Sa trên đảo Lý Sơn
Mộ người lính Hoàng Sa trên đảo Lý Sơn
Tế lễ người lính Hoàng Sa
Tế lễ người lính Hoàng Sa
Những người lính VNCH đã ngã xuống trong hải chiến 19-1-1974
Những người lính VNCH đã ngã xuống trong hải chiến 19-1-1974
Lính VNCH chuẩn bị ra Hoàng Sa
Lính VNCH chuẩn bị ra Hoàng Sa
Soái hạm Trần Bình Trọng (HQ-5)
Soái hạm Trần Bình Trọng (HQ-5)
Chiến hạm HQ-16 của VNCH
Chiến hạm HQ-16 của VNCH
HQ 10 bị chìm tại trận
HQ 10 bị chìm tại trận
Tuần dương hạm Lý Thường Kiệt (HQ-16)
Tuần dương hạm Lý Thường Kiệt (HQ-16)
Công hàm năm 1958 của Phạm Văn Đồng
Công hàm năm 1958 của Phạm Văn Đồng
Phòng thủ trên đảo
Phòng thủ trên đảo
Hoàng Sa dưới thời VNCH
Hoàng Sa dưới thời VNCH
Trạm khí tượng
Trạm khí tượng
Người Pháp-Việt trên đảo
Người Pháp-Việt trên đảo
Pháp dựng hải đăng trên Hoàng Sa
Pháp dựng hải đăng trên Hoàng Sa
Tái chiếm đảo
Tái chiếm đảo
Những người lính Pháp-Việt đào giếng lấy nước ngọt trên quần đảo Hoàng Sa.
Những người lính Pháp-Việt đào giếng lấy nước ngọt trên quần đảo Hoàng Sa.
Hải đăng trên đảo Hoàng Sa
Hải đăng trên đảo Hoàng Sa
Hoàng Sa dưới thời VNCH
Hoàng Sa dưới thời VNCH
Hoàng Sa dưới thời VNCH
Hoàng Sa dưới thời VNCH
Người lính VNCH trên Hoàng Sa
Người lính VNCH trên Hoàng Sa
Đảo đá cạn
Đảo đá cạn
Quân đội VNCH trên đảo
Quân đội VNCH trên đảo
Pháp khai thác phốt phát trên Hoàng Sa
Pháp khai thác phốt phát trên Hoàng Sa
Hội nghị Sanphanxico đại diện VNCH khẳng định chủ quyền của VN trên Hoàng Sa và Trường Sa, phía Trung Quốc im lặng
Hội nghị Sanphanxico đại diện VNCH khẳng định chủ quyền của VN trên Hoàng Sa và Trường Sa, phía Trung Quốc im lặng
Tượng phật trên Hoàng Sa
Tượng phật trên Hoàng Sa
Phụ nữ Việt trên Hoàng Sa thời VNCH
Phụ nữ Việt trên Hoàng Sa thời VNCH
Hội nghị Sanfrancisco đại diện VNCH khẳng định chủ quyền của VN trên Hoàng Sa và Trường Sa, phía Trung Quốc im lặng
Hội nghị Sanfrancisco đại diện VNCH khẳng định chủ quyền của VN trên Hoàng Sa và Trường Sa, phía Trung Quốc im lặng
Bản đồ cổ trên tem
Bản đồ cổ trên tem
văn khảo tế lễ lính Hoàng Sa
văn khảo tế lễ lính Hoàng Sa
Dự trù sửa chữa Ty khí tượng 1955
Dự trù sửa chữa Ty khí tượng 1955
Hồ sơ khí tượng của Hoàng Sa
Hồ sơ khí tượng của Hoàng Sa
Năm 1969 chuẩn úy Nguyễn Văn Đức làm đảo trưởng Hoàng Sa ( ảnh chụp năm 2009)
Năm 1969 chuẩn úy Nguyễn Văn Đức làm đảo trưởng Hoàng Sa ( ảnh chụp năm 2009)
Tờ sự vụ lệnh quyết định điều chuẩn úy Nguyễn Văn Đức làm đảo trưởng Hoàng Sa tháng 10-1969 trong đợt thay quân thứ 38 của quân đội chính quyền VNCH tại Hoàng Sa - Ảnh. Thế Anh
Tờ sự vụ lệnh quyết định điều chuẩn úy Nguyễn Văn Đức làm đảo trưởng Hoàng Sa tháng 10-1969 trong đợt thay quân thứ 38 của quân đội chính quyền VNCH tại Hoàng Sa - Ảnh. Thế Anh
Bản đồ đường qua xứ Quảng Nam đời Lê, theo Thiên Nam lộ đồ vẽ lại năm 1741(bản sao chép của Dumoutier, có chữ quốc ngữ). Bãi cát vàng trên bản đồ tức là Hoàng Sa.
Bản đồ đường qua xứ Quảng Nam đời Lê, theo Thiên Nam lộ đồ vẽ lại năm 1741(bản sao chép của Dumoutier, có chữ quốc ngữ). Bãi cát vàng trên bản đồ tức là Hoàng Sa.
Quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa được thể hiện trong Đại Nam nhất thống toàn đồ năm 1838.
Quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa được thể hiện trong Đại Nam nhất thống toàn đồ năm 1838.
Bức tượng Vệ sĩ dân chài đảo Hoàng Sa đứng ở phía Tây Nam đảo Hoàng Sa, có thể xưa kia được đặt trong ngôi miếu cổ khi nhà Nguyễn dựng miếu năm 1835 đã thấy.
Bức tượng Vệ sĩ dân chài đảo Hoàng Sa đứng ở phía Tây Nam đảo Hoàng Sa, có thể xưa kia được đặt trong ngôi miếu cổ khi nhà Nguyễn dựng miếu năm 1835 đã thấy.
Chữ đề trên bia này là Hải Quân Thu Phục Tây Sa Quần Đảo Kỷ Niệm Bia (Bia kỷ niệm Hải quân thu phục quần đảo Tây Sa), Trung Hoa Dân Quốc, ngày 24 tháng 11 năm 1935.
Chữ đề trên bia này là Hải Quân Thu Phục Tây Sa Quần Đảo Kỷ Niệm Bia (Bia kỷ niệm Hải quân thu phục quần đảo Tây Sa), Trung Hoa Dân Quốc, ngày 24 tháng 11 năm 1935.
Trạm khí tượng Hoàng Sa của Việt Nam
(Văn kiện của tổ chức khí tượng thế giới (OMM) năm 1973
Trạm khí tượng Hoàng Sa của Việt Nam
(Văn kiện của tổ chức khí tượng thế giới (OMM) năm 1973
Sắc lệnh số 174-NV ngày 13/7/1961 của
Tổng thống Việt Nam Cộng hoà Ngô Đình Diệm
Ngày 13-7-1961, Chính quyền Sài Gòn đặt quần đảo Hoàng Sa, trước kia thuộc tỉnh Thừa Thiên, vào tỉnh Quảng Nam và thành lập tại quần đảo này một xã lấy tên là xã Định Hải, trực thuộc quận Hoà Vang và đặt dưới quyền một phái viên hành chính.
Sắc lệnh số 174-NV ngày 13/7/1961 của
Tổng thống Việt Nam Cộng hoà Ngô Đình Diệm
Ngày 13-7-1961, Chính quyền Sài Gòn đặt quần đảo Hoàng Sa, trước kia thuộc tỉnh Thừa Thiên, vào tỉnh Quảng Nam và thành lập tại quần đảo này một xã lấy tên là xã Định Hải, trực thuộc quận Hoà Vang và đặt dưới quyền một phái viên hành chính.
Dụ của vua Bảo Đại số 10 ngày 29/2 năm Bảo Đại thứ 13 ( 30/3/1938 ) sáp nhập quần đảo Hoàng Sa vào Thừa Thiên
Dụ của vua Bảo Đại số 10 ngày 29/2 năm Bảo Đại thứ 13 ( 30/3/1938 ) sáp nhập quần đảo Hoàng Sa vào Thừa Thiên
Văn bản bằng tiếng Việt có chữ ký màu đỏ của Vua Bảo Đại về Hoàng Sa.
"Vào ngày 2.2.1939, Khâm sứ Trung Kỳ Graffeuil gửi cho Tổng lý Ngự tiền Văn phòng Phạm Quỳnh một văn thư đề nghị tâu xin Hoàng đế Bảo Đại truy tặng Huy chương Long tinh của Nam triều cho ông Louis Fontan - người vừa qua đời trong ngày hôm ấy.
 
Trước đó, ông này giữ chức vụ Chánh cai đội hạng nhất của đội lính Khố xanh trú đóng tại đảo Hoàng Sa. Trong thời gian ra công tác tại đây, ông đã bị nhiễm phải một loại bệnh sốt rét rất nguy hiểm, rồi mất tại Nhà thương lớn ở Huế. Ngay sau khi ông lâm chung, văn thư vừa nêu liền được tống đạt.
 
Sau khi nhận được văn thư này, Tổng lý Ngự tiền Văn phòng Phạm Quỳnh giao cho quan chức dưới quyền trực tiếp của mình là Thương tá Trần Đình Tùng trách nhiệm sao y nguyên văn một bản để đính kèm vào tờ phiến đệ trình lên nhà vua.
 
Ngày 3.2.1939, nghĩa là chỉ một hôm sau, tờ phiến và bản sao văn thư ấy được Ngự tiền Văn phòng dâng lên Vua Bảo Đại. Trong tờ phiến, ông Tổng lý tuy không nhắc lại nguyên nhân cái chết của ông Fontan (vì đã có nói rõ ở văn thư đính kèm rồi), nhưng đề nghị ban thưởng "tứ hạng Long tinh" cho viên chức người Pháp ấy. Đây là một thái độ coi trọng những người thuộc chính quyền bảo hộ có công phòng thủ đảo Hoàng Sa của Nam triều.
 
Đọc xong tờ phiến và văn thư đính kèm, Vua Bảo Đại chấp nhận ngay những lời đề nghị trong đó. Nhà vua đã "ngự phê" hai chữ "Chuẩn y" và ký tắt hai chữ "BĐ" (Bảo Đại) bằng viết chì màu đỏ".
http://www.donghuongtth.com/news/news.aspx?cat=2&post=282
Văn bản bằng tiếng Việt có chữ ký màu đỏ của Vua Bảo Đại về Hoàng Sa.
"Vào ngày 2.2.1939, Khâm sứ Trung Kỳ Graffeuil gửi cho Tổng lý Ngự tiền Văn phòng Phạm Quỳnh một văn thư đề nghị tâu xin Hoàng đế Bảo Đại truy tặng Huy chương Long tinh của Nam triều cho ông Louis Fontan - người vừa qua đời trong ngày hôm ấy.

Trước đó, ông này giữ chức vụ Chánh cai đội hạng nhất của đội lính Khố xanh trú đóng tại đảo Hoàng Sa. Trong thời gian ra công tác tại đây, ông đã bị nhiễm phải một loại bệnh sốt rét rất nguy hiểm, rồi mất tại Nhà thương lớn ở Huế. Ngay sau khi ông lâm chung, văn thư vừa nêu liền được tống đạt.

Sau khi nhận được văn thư này, Tổng lý Ngự tiền Văn phòng Phạm Quỳnh giao cho quan chức dưới quyền trực tiếp của mình là Thương tá Trần Đình Tùng trách nhiệm sao y nguyên văn một bản để đính kèm vào tờ phiến đệ trình lên nhà vua.

Ngày 3.2.1939, nghĩa là chỉ một hôm sau, tờ phiến và bản sao văn thư ấy được Ngự tiền Văn phòng dâng lên Vua Bảo Đại. Trong tờ phiến, ông Tổng lý tuy không nhắc lại nguyên nhân cái chết của ông Fontan (vì đã có nói rõ ở văn thư đính kèm rồi), nhưng đề nghị ban thưởng "tứ hạng Long tinh" cho viên chức người Pháp ấy. Đây là một thái độ coi trọng những người thuộc chính quyền bảo hộ có công phòng thủ đảo Hoàng Sa của Nam triều.

Đọc xong tờ phiến và văn thư đính kèm, Vua Bảo Đại chấp nhận ngay những lời đề nghị trong đó. Nhà vua đã "ngự phê" hai chữ "Chuẩn y" và ký tắt hai chữ "BĐ" (Bảo Đại) bằng viết chì màu đỏ".
http://www.donghuongtth.com/news/news.aspx?cat=2&post=282
Một trang trong cuốn Hải Ngoại Kỷ Sự (1695) của Thích Đại Sán,một nhà sư Trung Quốc đời Khang Hy, thuật lại chuyến du hànhtới xứ Đàng Trong, thừa nhận chủ quyền hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Đại Việt.
Một trang trong cuốn Hải Ngoại Kỷ Sự (1695) của Thích Đại Sán,một nhà sư Trung Quốc đời Khang Hy, thuật lại chuyến du hànhtới xứ Đàng Trong, thừa nhận chủ quyền hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Đại Việt.
Đại Thanh Nhất Thống Toàn Đồ, đảo nhỏ ở phía dưới là Hải Nam, gần đó bên trái là Giao Chỉ, đảo lớn hơn bên phải là Đài Loan.
Đời nhà Thanh, từ thế kỷ thứ XVII đến XX, theo bản đồ Hoàng Thanh Nhất Thống Dư Địa Bản Đồ do triều đình nhà Thanh ấn hành năm 1894 thì đến cuối thế kỷ XIX "lãnh thổ của Trung Quốc chỉ chạy đến đảo Hải Nam là hết”. Qua thế kỷ XX, sự kiện này còn được xác nhận trong cuốn Trung Quốc Địa Lý Học Giáo Khoa Thư xuất bản năm 1906 với đoạn như sau: "Điểm cực nam của Trung Quốc là bờ biển Châu Nhai thuộc quận Quỳnh Châu (Hải Nam) tại vĩ tuyến 18”. Các quận Châu Nhai và Đạm Nhĩ thuộc đảo Hải Nam kéo dài từ vĩ tuyến 20 (ngang Thanh Hoá) đến vĩ tuyến 18 (ngang Nghệ An – Hà Tĩnh). Trong khi quần đảo Hoàng Sa tọa lạc về phía nam, từ vĩ tuyến 17 đến vĩ tuyến 15 (Quảng Trị, Thừa Thiên, Quảng Nam, Quảng Ngãi) và quần đảo Trường Sa tọa lạc tại các vĩ tuyến 12 đến vĩ tuyến 8 (Cam Ranh – Cà Mau). Bản đồ Đại Thanh Đế Quốc do triều đình nhà Thanh ấn hành cũng không thấy vẽ các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa (cũng không thấy ghi theo cách gọi của Trung Quốc là Tây Sa, Nam Sa, Vịnh Lạc, Tuyên Đức...). Hơn nữa, trong bộ Hải Quốc Đồ Ký, cuốn Hải Lục của Vương Bỉnh Nam (1820-1842) chép: "Vạn Lý Trường Sa (Hoàng Sa) là dải cát dài ngoài biển được dùng làm phên dậu che chắn mặt ngoài bờ cõi nước An Nam”. Như vậy, tư liệu này của Trung Quốc đã thừa nhận quần đảo Hoàng Sa là lãnh thổ trên biển của Việt Nam. Trong bộ sách địa lý Đại Thanh Nhất Thống Chí do Quốc Sử Quán nhà Thanh biên soạn năm 1842 với lời tựa của hoàng đế Thanh Tuyên Tông, không có chỗ nào ghi Thiên Lý Trường Sa hay Vạn Lý Trường Sa (quần đảo Hoàng Sa). Trong cuốn Hải Quốc Văn Kiến Lục của Trần Luân Quýnh (1744), vùng biển của Việt Nam tại Biển Đông được ghi bằng các danh xưng Việt Hải và Việt Dương. Trong vụ ngư dân đảo Hải Nam cướp tàu chở đồng bị đắm tại quần đảo Hoàng Sa những năm 1895-1896, để trả lời văn thư phản kháng của Chính phủ Anh, Tổng đốc Lưỡng Quảng Trung Hoa đã phủ nhận trách nhiệm với lý do: "Hoàng Sa không liên hệ gì tới Trung Quốc”. Ngoài ra cuốn Hải Ngoại Kỷ Sự (1695) của Thích Đại Sán một nhà sư thời Khang Hy đã đến đất Thuận Hóa của chúa Nguyễn ngày 29 tháng giêng năm Ất Hợi (13-3-1695) thuật lại chuyến hải hành này và ghi nhận chủ quyền của Đại Việt trong việc chiếm hữu, kiểm soát và khai thác vùng Biển Đông nơi tọa lạc hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa ít nhất là từ thế kỷ thứ XVII.

Các tài liệu cổ của Trung Hoa rõ ràng cho thấy hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa (mà Trung Quốc gọi là Tây Sa và Nam Sa) đã được người Việt Nam phát hiện, sử dụng trong nhiều thế kỷ một cách hoà bình và liên tục không có sự phản đối của bất cứ quốc gia nào kể cả của Trung Quốc. Điều đó được minh chứng từ tư liệu chính sử của nhiều triều đại Trung Quốc trong đó đã mặc nhiên thừa nhận chủ quyền của người Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa trong suốt hơn 22 thế kỷ từ thời Tần, Hán cho đến đầu thế kỷ XX.
Đại Thanh Nhất Thống Toàn Đồ, đảo nhỏ ở phía dưới là Hải Nam, gần đó bên trái là Giao Chỉ, đảo lớn hơn bên phải là Đài Loan.
Đời nhà Thanh, từ thế kỷ thứ XVII đến XX, theo bản đồ Hoàng Thanh Nhất Thống Dư Địa Bản Đồ do triều đình nhà Thanh ấn hành năm 1894 thì đến cuối thế kỷ XIX "lãnh thổ của Trung Quốc chỉ chạy đến đảo Hải Nam là hết”. Qua thế kỷ XX, sự kiện này còn được xác nhận trong cuốn Trung Quốc Địa Lý Học Giáo Khoa Thư xuất bản năm 1906 với đoạn như sau: "Điểm cực nam của Trung Quốc là bờ biển Châu Nhai thuộc quận Quỳnh Châu (Hải Nam) tại vĩ tuyến 18”. Các quận Châu Nhai và Đạm Nhĩ thuộc đảo Hải Nam kéo dài từ vĩ tuyến 20 (ngang Thanh Hoá) đến vĩ tuyến 18 (ngang Nghệ An – Hà Tĩnh). Trong khi quần đảo Hoàng Sa tọa lạc về phía nam, từ vĩ tuyến 17 đến vĩ tuyến 15 (Quảng Trị, Thừa Thiên, Quảng Nam, Quảng Ngãi) và quần đảo Trường Sa tọa lạc tại các vĩ tuyến 12 đến vĩ tuyến 8 (Cam Ranh – Cà Mau). Bản đồ Đại Thanh Đế Quốc do triều đình nhà Thanh ấn hành cũng không thấy vẽ các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa (cũng không thấy ghi theo cách gọi của Trung Quốc là Tây Sa, Nam Sa, Vịnh Lạc, Tuyên Đức...). Hơn nữa, trong bộ Hải Quốc Đồ Ký, cuốn Hải Lục của Vương Bỉnh Nam (1820-1842) chép: "Vạn Lý Trường Sa (Hoàng Sa) là dải cát dài ngoài biển được dùng làm phên dậu che chắn mặt ngoài bờ cõi nước An Nam”. Như vậy, tư liệu này của Trung Quốc đã thừa nhận quần đảo Hoàng Sa là lãnh thổ trên biển của Việt Nam. Trong bộ sách địa lý Đại Thanh Nhất Thống Chí do Quốc Sử Quán nhà Thanh biên soạn năm 1842 với lời tựa của hoàng đế Thanh Tuyên Tông, không có chỗ nào ghi Thiên Lý Trường Sa hay Vạn Lý Trường Sa (quần đảo Hoàng Sa). Trong cuốn Hải Quốc Văn Kiến Lục của Trần Luân Quýnh (1744), vùng biển của Việt Nam tại Biển Đông được ghi bằng các danh xưng Việt Hải và Việt Dương. Trong vụ ngư dân đảo Hải Nam cướp tàu chở đồng bị đắm tại quần đảo Hoàng Sa những năm 1895-1896, để trả lời văn thư phản kháng của Chính phủ Anh, Tổng đốc Lưỡng Quảng Trung Hoa đã phủ nhận trách nhiệm với lý do: "Hoàng Sa không liên hệ gì tới Trung Quốc”. Ngoài ra cuốn Hải Ngoại Kỷ Sự (1695) của Thích Đại Sán một nhà sư thời Khang Hy đã đến đất Thuận Hóa của chúa Nguyễn ngày 29 tháng giêng năm Ất Hợi (13-3-1695) thuật lại chuyến hải hành này và ghi nhận chủ quyền của Đại Việt trong việc chiếm hữu, kiểm soát và khai thác vùng Biển Đông nơi tọa lạc hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa ít nhất là từ thế kỷ thứ XVII.

Các tài liệu cổ của Trung Hoa rõ ràng cho thấy hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa (mà Trung Quốc gọi là Tây Sa và Nam Sa) đã được người Việt Nam phát hiện, sử dụng trong nhiều thế kỷ một cách hoà bình và liên tục không có sự phản đối của bất cứ quốc gia nào kể cả của Trung Quốc. Điều đó được minh chứng từ tư liệu chính sử của nhiều triều đại Trung Quốc trong đó đã mặc nhiên thừa nhận chủ quyền của người Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa trong suốt hơn 22 thế kỷ từ thời Tần, Hán cho đến đầu thế kỷ XX.
Bản đồ “Hoàng triều trực tỉnh địa dư toàn đồ” của Trung Quốc xuất bản năm 1904 cho thấy mạn cực nam của Trung Quốc có ghi rõ là đảo Hải Nam không hề có Hoàng Sa, Trường Sa.
Bản đồ “Hoàng triều trực tỉnh địa dư toàn đồ” của Trung Quốc xuất bản năm 1904 cho thấy mạn cực nam của Trung Quốc có ghi rõ là đảo Hải Nam không hề có Hoàng Sa, Trường Sa.
Tuyên bố của Chính phủ Việt Nam Cộng Hoà, 14-2-1974:

Tuyên bố của Chính phủ Việt Nam Cộng Hoà
 
Nghĩa vụ cao cả và cấp thiết của một chánh phủ là bảo vệ chủ quyền, độc lập và sự vẹn toàn lãnh thổ của quốc gia. Chánh phủ Việt Nam Cộng Hòa cương quyết làm tròn nghĩa vụ này, bất luận những khó khăn trở ngại có thể gặp phải và bất chấp những sự phản đối không căn cứ dầu phát xuất từ đâu.
 
Trước sự chiếm đóng bất hợp pháp của Trung Cộng bằng quân sự trên Quần đảo Hoàng Sa, nguyên là một phần đất thuộc lãnh thổ Việt Nam Cộng Hoà, Chính phủ Việt Nam Cộng Hoà xét thấy cần thiết phải long trọng tuyên bố trước công luận thế giới, bạn cũng như thù, rằng:
 
Quần đảo Hoàng Sa và Quần đảo Trường Sa là một phần không thể cắt rời của lãnh thổ Việt Nam Cộng Hòa. Chính phủ và toàn dân Việt Nam Cộng Hòa sẽ không khuất phục trước bạo lực và bác bỏ tất cả hoặc một phần chủ quyền của họ trên những quần đảo này.
 
Chừng nào mà bất cứ một hòn đảo nào của phần lãnh thổ đó của Việt Nam Cộng Hòa vẫn bị một nước khác chiếm đóng bằng bạo lực, thì Chính phủ và toàn dân Việt Nam Cộng Hòa sẽ tiếp tục tranh đấu để lấy lại quyền lợi hợp pháp của mình.
 
Kẻ chiếm đóng bất hợp pháp sẽ phải chịu hoàn toàn trách nhiệm về bất cứ tình trạng căng thẳng nào bắt nguồn từ đó.
 
Nhân cơ hội này, Chính phủ Việt Nam Cộng Hòa cũng long trọng tái xác nhận chủ quyền của Việt Nam Cộng Hòa trên các hải đảo ngoài khơi miền Trung và Nam phần Việt Nam, đã luôn luôn được chấp nhận như một phần lãnh thổ của Việt Nam Cộng Hòa trên căn bản không thể chối cãi được về địa lý, lịch sử, chứng cứ hợp pháp và bởi vì những điều thực tế.
 
Chính phủ Việt Nam Cộng Hòa cương quyết bảo vệ chủ quyền quốc gia trên những quần đảo này bằng tất cả mọi phương tiện. Ðể gìn giữ truyền thống tôn trọng hoà bình, Chính phủ Việt Nam Cộng Hòa sẵn sàng giải quyết, bằng sự thương lượng, về các tranh chấp quốc tế có thể bắt nguồn từ các quần đảo đó, nhưng điều đó không có nghĩa là Chính phủ Việt Nam Cộng Hòa sẽ từ bỏ chủ quyền của mình trên bất cứ phần lãnh thổ nào của quốc gia.
 
Tuyên bố bởi Chính phủ Việt Nam Cộng Hòa vào ngày 14 tháng 2 năm 1974.

Trích từ http://www.nguyenthaihocfoundation.org/lichsuVN/tuyenbo_vnch.htm
Posted by Admin ĐN
Tuyên bố của Chính phủ Việt Nam Cộng Hoà, 14-2-1974:

Tuyên bố của Chính phủ Việt Nam Cộng Hoà

Nghĩa vụ cao cả và cấp thiết của một chánh phủ là bảo vệ chủ quyền, độc lập và sự vẹn toàn lãnh thổ của quốc gia. Chánh phủ Việt Nam Cộng Hòa cương quyết làm tròn nghĩa vụ này, bất luận những khó khăn trở ngại có thể gặp phải và bất chấp những sự phản đối không căn cứ dầu phát xuất từ đâu.

Trước sự chiếm đóng bất hợp pháp của Trung Cộng bằng quân sự trên Quần đảo Hoàng Sa, nguyên là một phần đất thuộc lãnh thổ Việt Nam Cộng Hoà, Chính phủ Việt Nam Cộng Hoà xét thấy cần thiết phải long trọng tuyên bố trước công luận thế giới, bạn cũng như thù, rằng:

Quần đảo Hoàng Sa và Quần đảo Trường Sa là một phần không thể cắt rời của lãnh thổ Việt Nam Cộng Hòa. Chính phủ và toàn dân Việt Nam Cộng Hòa sẽ không khuất phục trước bạo lực và bác bỏ tất cả hoặc một phần chủ quyền của họ trên những quần đảo này.

Chừng nào mà bất cứ một hòn đảo nào của phần lãnh thổ đó của Việt Nam Cộng Hòa vẫn bị một nước khác chiếm đóng bằng bạo lực, thì Chính phủ và toàn dân Việt Nam Cộng Hòa sẽ tiếp tục tranh đấu để lấy lại quyền lợi hợp pháp của mình.

Kẻ chiếm đóng bất hợp pháp sẽ phải chịu hoàn toàn trách nhiệm về bất cứ tình trạng căng thẳng nào bắt nguồn từ đó.

Nhân cơ hội này, Chính phủ Việt Nam Cộng Hòa cũng long trọng tái xác nhận chủ quyền của Việt Nam Cộng Hòa trên các hải đảo ngoài khơi miền Trung và Nam phần Việt Nam, đã luôn luôn được chấp nhận như một phần lãnh thổ của Việt Nam Cộng Hòa trên căn bản không thể chối cãi được về địa lý, lịch sử, chứng cứ hợp pháp và bởi vì những điều thực tế.

Chính phủ Việt Nam Cộng Hòa cương quyết bảo vệ chủ quyền quốc gia trên những quần đảo này bằng tất cả mọi phương tiện. Ðể gìn giữ truyền thống tôn trọng hoà bình, Chính phủ Việt Nam Cộng Hòa sẵn sàng giải quyết, bằng sự thương lượng, về các tranh chấp quốc tế có thể bắt nguồn từ các quần đảo đó, nhưng điều đó không có nghĩa là Chính phủ Việt Nam Cộng Hòa sẽ từ bỏ chủ quyền của mình trên bất cứ phần lãnh thổ nào của quốc gia.

Tuyên bố bởi Chính phủ Việt Nam Cộng Hòa vào ngày 14 tháng 2 năm 1974.

Trích từ http://www.nguyenthaihocfoundation.org/lichsuVN/tuyenbo_vnch.htm
Posted by Admin ĐN
Tuyên Cáo của Bộ Ngoại Giao Việt Nam Cộng Hòa
về hành động Gây hấn của Trung Cộng
(19.1.1974)
 
Sau khi mạo nhận ngày 11/1/1974 chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam Cộng Hòa, Trung Cộng đã đưa Hải quân tới khu vực Hoàng Sa, và đổ bộ quân lính lên các đảo Cam Tuyền, Quang Hòa và Duy Mộng.
 
Lực lượng Hải quân Trung Cộng gồm 11 chiến đĩnh thuộc nhiều loại và trọng lượng khác nhau, kể cả tàu loại Komar có trang bị hỏa tiễn.
 
Để bảo vệ sự vẹn toàn lãnh thổ và nền an ninh quốc gia trước cuộc xâm lăng quân sự này, các lực lượng Hải quân Việt Nam Cộng Hòa trấn đóng trong khu vực này đã ra lệnh cho bọn xâm nhập phải rời khỏi khu vực.
 
Thay vì tuân lệnh, các tàu Trung Cộng, kể từ 18/1/1974, lại có những hành động khiêu khích như đâm thẳng vào các chiến đĩnh Việt Nam.
 
Sáng nay ngày 19/1/1974 hồi 10 giờ 20, một hộ tống hạm Trung Cộng thuộc loại Kronstadt đã khai hỏa bắn vào khu trục hạm “Trần Khánh Dư” mang số HQ-04 của Việt Nam Cộng Hòa. Để tự vệ, các chiến hạm Việt Nam đã phản pháo và gây hư hại cho hộ tống hạm Trung Cộng. Cuộc giao tranh hiện còn tiếp diễn và đang gây thiệt hại về nhân mạng và vật chất cho cả đôi bên.

Các hành động quân sự của Trung Quốc là hành vi xâm phạm trắng trợn vào lãnh thổ Việt Nam Cộng Hòa, và một lần nữa vạch trần chánh sách bành trướng đế quốc mà Trung Cộng liên tục theo đuổi, đã được biểu lộ qua cuộc thôn tính Tây Tạng, cuộc xâm lăng Đại Hàn và Ấn Độ trước kia.
 
Việc Trung Cộng ngày nay xâm phạm lãnh thổ Việt Nam Cộng Hòa không những chỉ đe dọa chủ quyền và an ninh của Việt Nam Cộng Hòa mà còn là một hiểm họa đối với nền hòa bình và an ninh của Đông Nam Á và toàn thế giới.
 
Với tư cách một nước nhỏ bị một cường quốc vô cớ tấn công, Việt Nam Cộng Hòa kêu gọi toàn thể các dân tộc yêu chuộng công lý và hòa bình trên thế giới hãy cương quyết lên án các hành vi chiến tranh thô bạo của Trung Cộng nhắm vào một quốc gia độc lập và có chủ quyền để buộc Trung Cộng phải tức khắc chấm dứt các hành động nguy hiểm đó.
 
Làm ngơ để cho Trung Cộng tự do tiến hành cuộc xâm lấn trắng trợn này là khuyến khích kẻ gây hấn tiếp tục theo đuổi chánh sách bành trướng của chúng và sự kiện này đe dọa sự sống còn của những nước nhỏ đặc biệt là những nước ở Á Châu.
 
Trong suốt lịch sử, dân tộc Việt Nam đã đánh bại nhiều cuộc ngoại xâm. Ngày nay, Chánh phủ và nhân dân Việt Nam Cộng Hòa cũng nhất định bảo vệ sự toàn vẹn lãnh thổ quốc gia.

Trích từ http://www.nguyenthaihocfoundation.org/lichsuVN/tuyenbo_vnch.htm
Posted by Admin ĐN
Tuyên Cáo của Bộ Ngoại Giao Việt Nam Cộng Hòa
về hành động Gây hấn của Trung Cộng
(19.1.1974)

Sau khi mạo nhận ngày 11/1/1974 chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam Cộng Hòa, Trung Cộng đã đưa Hải quân tới khu vực Hoàng Sa, và đổ bộ quân lính lên các đảo Cam Tuyền, Quang Hòa và Duy Mộng.

Lực lượng Hải quân Trung Cộng gồm 11 chiến đĩnh thuộc nhiều loại và trọng lượng khác nhau, kể cả tàu loại Komar có trang bị hỏa tiễn.

Để bảo vệ sự vẹn toàn lãnh thổ và nền an ninh quốc gia trước cuộc xâm lăng quân sự này, các lực lượng Hải quân Việt Nam Cộng Hòa trấn đóng trong khu vực này đã ra lệnh cho bọn xâm nhập phải rời khỏi khu vực.

Thay vì tuân lệnh, các tàu Trung Cộng, kể từ 18/1/1974, lại có những hành động khiêu khích như đâm thẳng vào các chiến đĩnh Việt Nam.

Sáng nay ngày 19/1/1974 hồi 10 giờ 20, một hộ tống hạm Trung Cộng thuộc loại Kronstadt đã khai hỏa bắn vào khu trục hạm “Trần Khánh Dư” mang số HQ-04 của Việt Nam Cộng Hòa. Để tự vệ, các chiến hạm Việt Nam đã phản pháo và gây hư hại cho hộ tống hạm Trung Cộng. Cuộc giao tranh hiện còn tiếp diễn và đang gây thiệt hại về nhân mạng và vật chất cho cả đôi bên.

Các hành động quân sự của Trung Quốc là hành vi xâm phạm trắng trợn vào lãnh thổ Việt Nam Cộng Hòa, và một lần nữa vạch trần chánh sách bành trướng đế quốc mà Trung Cộng liên tục theo đuổi, đã được biểu lộ qua cuộc thôn tính Tây Tạng, cuộc xâm lăng Đại Hàn và Ấn Độ trước kia.

Việc Trung Cộng ngày nay xâm phạm lãnh thổ Việt Nam Cộng Hòa không những chỉ đe dọa chủ quyền và an ninh của Việt Nam Cộng Hòa mà còn là một hiểm họa đối với nền hòa bình và an ninh của Đông Nam Á và toàn thế giới.

Với tư cách một nước nhỏ bị một cường quốc vô cớ tấn công, Việt Nam Cộng Hòa kêu gọi toàn thể các dân tộc yêu chuộng công lý và hòa bình trên thế giới hãy cương quyết lên án các hành vi chiến tranh thô bạo của Trung Cộng nhắm vào một quốc gia độc lập và có chủ quyền để buộc Trung Cộng phải tức khắc chấm dứt các hành động nguy hiểm đó.

Làm ngơ để cho Trung Cộng tự do tiến hành cuộc xâm lấn trắng trợn này là khuyến khích kẻ gây hấn tiếp tục theo đuổi chánh sách bành trướng của chúng và sự kiện này đe dọa sự sống còn của những nước nhỏ đặc biệt là những nước ở Á Châu.

Trong suốt lịch sử, dân tộc Việt Nam đã đánh bại nhiều cuộc ngoại xâm. Ngày nay, Chánh phủ và nhân dân Việt Nam Cộng Hòa cũng nhất định bảo vệ sự toàn vẹn lãnh thổ quốc gia.

Trích từ http://www.nguyenthaihocfoundation.org/lichsuVN/tuyenbo_vnch.htm
Posted by Admin ĐN
Hình chụp từ tàu HQ-4:  Chiếc tàu võ trang Nam Ngư 407 ngoan cố này bị "tông" bên tả hạm sau đó chừng 10 phút.
Posted by Admin ĐN
Hình chụp từ tàu HQ-4: Chiếc tàu võ trang Nam Ngư 407 ngoan cố này bị "tông" bên tả hạm sau đó chừng 10 phút.
Posted by Admin ĐN
Đề Đốc Chơn đón mừng những chiến sĩ trở về từ Hoàng Sa.
Posted by Admin ĐN
Đề Đốc Chơn đón mừng những chiến sĩ trở về từ Hoàng Sa.
Posted by Admin ĐN
Bài tường trình về cuộc hải chiến tại Hoàng Sa và trường hợp tử trận của các chiến sĩ Hải Quân VNCH trên chiến hạm HQ-10 Nhựt Tảo.
Posted by Admin ĐN
Bài tường trình về cuộc hải chiến tại Hoàng Sa và trường hợp tử trận của các chiến sĩ Hải Quân VNCH trên chiến hạm HQ-10 Nhựt Tảo.
Posted by Admin ĐN
Danh sách các chiến sĩ Hải Quân đã tử thương trên chiến hạm HQ-10 Nhựt Tảo.
Posted by Admin ĐN
Danh sách các chiến sĩ Hải Quân đã tử thương trên chiến hạm HQ-10 Nhựt Tảo.
Posted by Admin ĐN
Cuộc biểu tình phản đối Trung Quốc xâm lược Hoàng Sa vào năm 1974.
Posted by Admin ĐN
Cuộc biểu tình phản đối Trung Quốc xâm lược Hoàng Sa vào năm 1974.
Posted by Admin ĐN
Báo chí miền Nam Việt Nam viết về Trung Quốc xâm chiếm Hoàng Sa.
Posted by Admin ĐN
Báo chí miền Nam Việt Nam viết về Trung Quốc xâm chiếm Hoàng Sa.
Posted by Admin ĐN
Lá thư của Hải Quân VNCH báo tin cho gia đình Đại Úy Huỳnh Duy Thạch đã hy sinh trong trân hải chiến với Trung Quốc tại Hoàng Sa.
Posted by Admin ĐN
Lá thư của Hải Quân VNCH báo tin cho gia đình Đại Úy Huỳnh Duy Thạch đã hy sinh trong trân hải chiến với Trung Quốc tại Hoàng Sa.
Posted by Admin ĐN
Sinh viên miền Nam Việt Nam du học nước ngoài xuống đường biểu tình phản đối Trung Cộng xâm lăng Hoàng Sa.  Hình chụp tại Nhật, Gia Nã Đại, và Pháp.
Posted by Admin ĐN
Sinh viên miền Nam Việt Nam du học nước ngoài xuống đường biểu tình phản đối Trung Cộng xâm lăng Hoàng Sa. Hình chụp tại Nhật, Gia Nã Đại, và Pháp.
Posted by Admin ĐN
Hình ảnh chiếc trục lôi hạm 389 của Trung Quốc bị loại khỏi vòng chiến phải ủi vào bãi san hô để không bị chìm.

Posted by Admin ĐN
Hình ảnh chiếc trục lôi hạm 389 của Trung Quốc bị loại khỏi vòng chiến phải ủi vào bãi san hô để không bị chìm.

Posted by Admin ĐN
Trích từ lời chú thích của phía Trung Quốc, TQ gọi Hoàng Sa của Việt Nam là Tây Sa:  "Sau thắng lợi của trận hải chiến Tây Sa, quân ta thừa thế thu hồi lại tất cả những hòn đảo đã bị Nam Việt xâm chiếm, bắt sống hơn 40 sĩ quan binh lính Nam Việt, trong đó có cả 1 cố vấn Mỹ."
Trích từ http://xuandienhannom.blogspot.com/2011/12/tai-lieu-ve-tran-hai-chien-hoang-sa-do.html
Posted by Admin ĐN
Trích từ lời chú thích của phía Trung Quốc, TQ gọi Hoàng Sa của Việt Nam là Tây Sa: "Sau thắng lợi của trận hải chiến Tây Sa, quân ta thừa thế thu hồi lại tất cả những hòn đảo đã bị Nam Việt xâm chiếm, bắt sống hơn 40 sĩ quan binh lính Nam Việt, trong đó có cả 1 cố vấn Mỹ."
Trích từ http://xuandienhannom.blogspot.com/2011/12/tai-lieu-ve-tran-hai-chien-hoang-sa-do.html
Posted by Admin ĐN
Tàu đánh cá vũ trang Trung Quốc chặn đường tàu Việt Nam ra quần đảo Hoàng Sa tháng 1-1974.  Tàu đánh cá vũ trang Trung Quốc đã bị tàu Hải Quân Việt Nam tông vài phút sau đó.
Posted by Admin ĐN
Tàu đánh cá vũ trang Trung Quốc chặn đường tàu Việt Nam ra quần đảo Hoàng Sa tháng 1-1974. Tàu đánh cá vũ trang Trung Quốc đã bị tàu Hải Quân Việt Nam tông vài phút sau đó.
Posted by Admin ĐN
Sinh viên Thủ khoa Hải quân Ngụy Văn Thà.  Thuyền trưởng Thà đã tử thương trên chiến hạm Nhật Tảo HQ-10 trong trận hải chiến Hoàng Sa năm 1974.
Posted by Admin ĐN
Sinh viên Thủ khoa Hải quân Ngụy Văn Thà. Thuyền trưởng Thà đã tử thương trên chiến hạm Nhật Tảo HQ-10 trong trận hải chiến Hoàng Sa năm 1974.
Posted by Admin ĐN
Ông Hoàng Tùng - Ủy viên Trung Ương Đảng phát biểu, “Vì ta bận đánh Mỹ, không có thời gian và chưa đủ khả năng để giải phóng Hoàng Sa nên nhờ bạn Trung Quốc giải phóng. Sau này mình thống nhất đất nước rồi phía bạn sẽ trả cho mình”. Trích lời kể lại trong cuộc phỏng vấn GS Hà Văn Thịnh.
http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/the-39th-anniv-of-theloss-of-hoangsa-mlam-01192013092838.html
Posted by Admin ĐN
Ông Hoàng Tùng - Ủy viên Trung Ương Đảng phát biểu, “Vì ta bận đánh Mỹ, không có thời gian và chưa đủ khả năng để giải phóng Hoàng Sa nên nhờ bạn Trung Quốc giải phóng. Sau này mình thống nhất đất nước rồi phía bạn sẽ trả cho mình”. Trích lời kể lại trong cuộc phỏng vấn GS Hà Văn Thịnh.
http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/the-39th-anniv-of-theloss-of-hoangsa-mlam-01192013092838.html
Posted by Admin ĐN
Giấy báo tử 1 người lính hy sinh khi bảo vệ đảo Gạc Ma -Trường Sa 1988
Giấy báo tử 1 người lính hy sinh khi bảo vệ đảo Gạc Ma -Trường Sa 1988
DANH SÁCH 74 LIỆT SĨ HY SINH TRONG TRẬN HOÀNG SA 19-1-1974

(Danh sách thu thập được chỉ có 68 liệt sĩ có đầy đủ họ tên)

1, Trung sĩ Trần Văn Ba (HQ 10)

2, Hạ sĩ Phạm Văn Ba (HQ 10)

3, Đại úy Vũ Văn Bang (HQ 10)

4, Hạ sĩ Trần Văn Bảy (HQ 10)

5, Thượng sĩ nhất quản nội trưởng ... Châu (HQ 10)

6, Trung sĩ nhất VT Phan Tiến Chung (HQ 10)

7, Hạ sĩ Nguyễn Xuân Cường (HQ 10)

8, Hạ sĩ Trần Văn Cường (HQ 10)

9, Trung sĩ Trần Văn Đàm (HQ 10)

10, Hạ sĩ nhất vận chuyển Nguyễn Thành Danh (HQ 4)

11, Hạ sĩ vận chuyển Trương Hồng Đào (HQ 10)

12, Hạ sĩ nhất Trần Văn Định (HQ 10)

13, Trung úy Lê Văn Đơn (Người nhái)

14,  Hạ sĩ Nguyễn Văn Đông (HQ 10)

15, Trung úy Phạm Văn Đồng (HQ 10)

16, Trung úy Nguyễn Văn Đồng (HQ 5)

17, Trung sĩ.... Đức (HQ 10)

18, TT1/TP Nguyễn Văn Đức (HQ 10)

19, Trung sĩ Lê Anh Dũng (HQ 10)

20, Hạ sĩ Nguyễn Văn Duyên (HQ 16)

21, Thượng sĩ Nguyễn Phú Hào (HQ 5)

22, Hạ sĩ Nguyễn Ngọc Hòa (HQ 10)

23, Hạ sĩ Nguyễn Văn Hoàng (HQ 10)

24, Trung úy Vũ Ðình Huân (HQ 10)

25, Hạ sĩ Phan Văn Hùng (HQ 10)

26, Thượng sĩ nhất Võ Thế Kiệt (HQ 10)

27, Thượng sĩ Hoàng Ngọc Lễ (HQ 10)

28, TT1/TX Phạm Văn Lèo (HQ 10)

29, Thượng sĩ nhất CK Phan Tấn Liêng (HQ 10)

30, Hạ sĩ Nguyễn Văn Lợi (HQ 10)

31, TT1/CK Dương Văn Lợi (HQ 10)

32, Hạ sĩ Ðỗ Văn Long (Người nhái)

33, Trung sĩ Lai Viết Luận (HQ 10)

34, Hạ sĩ nhất Ðinh Hoàng Mai (HQ 10)

35, Hạ sĩ nhất Nguyễn Quang Mến (HQ 10)

36, Hạ sĩ nhất Trần Văn Mộng (HQ 10)

37, Trung sĩ ... Nam (HQ 10)

38, TT1/TP Nguyễn Văn Nghĩa (HQ 10)

39, Trung sĩ Ngô Văn Ơn (HQ 10)

40, Hạ sĩ Nguyễn Văn Phương (HQ 10)

41, TT1/PT Nguyễn Hữu Phương (HQ 10)

42, Thượng sị nhất Nguyễn Ðình Quang (HQ 5)

43, TT1/TP Lý Phùng Quy (HQ 10)

44, Trung sĩ Phạm Văn Quý (HQ 10)

45, Trung sĩ Huỳnh Kim Sang (HQ 10)

46, Hạ sĩ Ngô Sáu (HQ 10)

47, Trung sĩ Nguyễn Tấn Sĩ (HQ 10)

48, TT/TP Thi Văn Sinh (HQ 10)

49, Trung sĩ Vận chuyển Ngô Tấn Sơn (HQ 10)

50, Hạ sĩ nhất vận chuyển Lê Văn Tây (HQ 10)

51, Trung tá Ngụy Văn Thà (HQ 10)

52, Đại úy Huỳnh Duy Thạch (HQ 10)

53, Hạ sĩ Nguyễn Văn Thân (HQ 10)

54, TT/DT.... Thanh (HQ 10)

55, Trung úy Ngô Chí Thành (HQ 10)

56, Hạ sĩ Trần Văn Thêm (HQ 10)

57, Hạ sĩ Phan Văn Thép (HQ 10)

58, Hạ sĩ nhất vận chuyển Lương Thanh Thi (HQ 10)

59, Thượng sĩ ... Thọ (HQ 10)

60, TT1/VT Phạm Văn Thu (HQ 10)

61, TT1/DT Ðinh Văn Thục (HQ 10)

62, Trung sĩ Vương Thương (HQ 10)

63, TT Nguyễn Văn Tiến (Người nhái)

64, Thiếu tá Hạm phó Nguyễn Thành Trí (HQ 10)

65, Trung sĩ Nguyễn Thành Trọng (HQ 10)

66, Hạ sĩ vận chuyển Huỳnh Công Trứ (HQ 10)

67, Thượng sĩ Ðinh Hữu Từ (Người nhái)

68, Trung sĩ Nguyễn Văn Tuân (HQ 10)

69, TT1/CK Châu Túy Tuấn (HQ 10)

70, Biệt hải Nguyễn Văn Vượng (HQ 4)

71, Trung úy Nguyễn Phúc Xá (HQ 10)

72, Trung sĩ Nguyễn Vĩnh Xuân (HQ 10)

73, Trung sĩ Nguyễn Quang Xuân (HQ 10)

74, Trung sĩ... Xuân (HQ 16)

Ad DTT
DANH SÁCH 74 LIỆT SĨ HY SINH TRONG TRẬN HOÀNG SA 19-1-1974

(Danh sách thu thập được chỉ có 68 liệt sĩ có đầy đủ họ tên)

1, Trung sĩ Trần Văn Ba (HQ 10)

2, Hạ sĩ Phạm Văn Ba (HQ 10)

3, Đại úy Vũ Văn Bang (HQ 10)

4, Hạ sĩ Trần Văn Bảy (HQ 10)

5, Thượng sĩ nhất quản nội trưởng ... Châu (HQ 10)

6, Trung sĩ nhất VT Phan Tiến Chung (HQ 10)

7, Hạ sĩ Nguyễn Xuân Cường (HQ 10)

8, Hạ sĩ Trần Văn Cường (HQ 10)

9, Trung sĩ Trần Văn Đàm (HQ 10)

10, Hạ sĩ nhất vận chuyển Nguyễn Thành Danh (HQ 4)

11, Hạ sĩ vận chuyển Trương Hồng Đào (HQ 10)

12, Hạ sĩ nhất Trần Văn Định (HQ 10)

13, Trung úy Lê Văn Đơn (Người nhái)

14, Hạ sĩ Nguyễn Văn Đông (HQ 10)

15, Trung úy Phạm Văn Đồng (HQ 10)

16, Trung úy Nguyễn Văn Đồng (HQ 5)

17, Trung sĩ.... Đức (HQ 10)

18, TT1/TP Nguyễn Văn Đức (HQ 10)

19, Trung sĩ Lê Anh Dũng (HQ 10)

20, Hạ sĩ Nguyễn Văn Duyên (HQ 16)

21, Thượng sĩ Nguyễn Phú Hào (HQ 5)

22, Hạ sĩ Nguyễn Ngọc Hòa (HQ 10)

23, Hạ sĩ Nguyễn Văn Hoàng (HQ 10)

24, Trung úy Vũ Ðình Huân (HQ 10)

25, Hạ sĩ Phan Văn Hùng (HQ 10)

26, Thượng sĩ nhất Võ Thế Kiệt (HQ 10)

27, Thượng sĩ Hoàng Ngọc Lễ (HQ 10)

28, TT1/TX Phạm Văn Lèo (HQ 10)

29, Thượng sĩ nhất CK Phan Tấn Liêng (HQ 10)

30, Hạ sĩ Nguyễn Văn Lợi (HQ 10)

31, TT1/CK Dương Văn Lợi (HQ 10)

32, Hạ sĩ Ðỗ Văn Long (Người nhái)

33, Trung sĩ Lai Viết Luận (HQ 10)

34, Hạ sĩ nhất Ðinh Hoàng Mai (HQ 10)

35, Hạ sĩ nhất Nguyễn Quang Mến (HQ 10)

36, Hạ sĩ nhất Trần Văn Mộng (HQ 10)

37, Trung sĩ ... Nam (HQ 10)

38, TT1/TP Nguyễn Văn Nghĩa (HQ 10)

39, Trung sĩ Ngô Văn Ơn (HQ 10)

40, Hạ sĩ Nguyễn Văn Phương (HQ 10)

41, TT1/PT Nguyễn Hữu Phương (HQ 10)

42, Thượng sị nhất Nguyễn Ðình Quang (HQ 5)

43, TT1/TP Lý Phùng Quy (HQ 10)

44, Trung sĩ Phạm Văn Quý (HQ 10)

45, Trung sĩ Huỳnh Kim Sang (HQ 10)

46, Hạ sĩ Ngô Sáu (HQ 10)

47, Trung sĩ Nguyễn Tấn Sĩ (HQ 10)

48, TT/TP Thi Văn Sinh (HQ 10)

49, Trung sĩ Vận chuyển Ngô Tấn Sơn (HQ 10)

50, Hạ sĩ nhất vận chuyển Lê Văn Tây (HQ 10)

51, Trung tá Ngụy Văn Thà (HQ 10)

52, Đại úy Huỳnh Duy Thạch (HQ 10)

53, Hạ sĩ Nguyễn Văn Thân (HQ 10)

54, TT/DT.... Thanh (HQ 10)

55, Trung úy Ngô Chí Thành (HQ 10)

56, Hạ sĩ Trần Văn Thêm (HQ 10)

57, Hạ sĩ Phan Văn Thép (HQ 10)

58, Hạ sĩ nhất vận chuyển Lương Thanh Thi (HQ 10)

59, Thượng sĩ ... Thọ (HQ 10)

60, TT1/VT Phạm Văn Thu (HQ 10)

61, TT1/DT Ðinh Văn Thục (HQ 10)

62, Trung sĩ Vương Thương (HQ 10)

63, TT Nguyễn Văn Tiến (Người nhái)

64, Thiếu tá Hạm phó Nguyễn Thành Trí (HQ 10)

65, Trung sĩ Nguyễn Thành Trọng (HQ 10)

66, Hạ sĩ vận chuyển Huỳnh Công Trứ (HQ 10)

67, Thượng sĩ Ðinh Hữu Từ (Người nhái)

68, Trung sĩ Nguyễn Văn Tuân (HQ 10)

69, TT1/CK Châu Túy Tuấn (HQ 10)

70, Biệt hải Nguyễn Văn Vượng (HQ 4)

71, Trung úy Nguyễn Phúc Xá (HQ 10)

72, Trung sĩ Nguyễn Vĩnh Xuân (HQ 10)

73, Trung sĩ Nguyễn Quang Xuân (HQ 10)

74, Trung sĩ... Xuân (HQ 16)

Ad DTT
Những năm tháng hạnh phúc ngắn ngủi của trung tá Ngụy Văn Thà và bà Huỳnh Thị Sinh.

(Nguồn Facebook của HD)

Ad DTT
Những năm tháng hạnh phúc ngắn ngủi của trung tá Ngụy Văn Thà và bà Huỳnh Thị Sinh.

(Nguồn Facebook của HD)

Ad DTT
Ba cô con gái nhỏ, 7 tuổi, 5 tuổi và 3 tuổi của trung tá Ngụy Văn Thà bên cạnh ông nội và mẹ trong ngày truy điệu cha.
Ba cô con gái nhỏ, 7 tuổi, 5 tuổi và 3 tuổi của trung tá Ngụy Văn Thà bên cạnh ông nội và mẹ trong ngày truy điệu cha.
Lễ truy điệu thiếu tá Nguyễn Thành Trí.
Lễ truy điệu thiếu tá Nguyễn Thành Trí.
Lá đơn do Hà Liễu, Cai Hợp phường Cù Lao Ré đứng tên xin chấn chỉnh lại đội Hoàng Sa vào năm 1775

ad NH
Lá đơn do Hà Liễu, Cai Hợp phường Cù Lao Ré đứng tên xin chấn chỉnh lại đội Hoàng Sa vào năm 1775

ad NH
Bản nhạc "HQ4 đánh chìm tầu Trung cộng" của Vũ Thái Hòa
Bản nhạc "HQ4 đánh chìm tầu Trung cộng" của Vũ Thái Hòa
Bí mật quân lương và thiết kế khinh thuyền của Hải đội Hoàng Sa 
 
Đội Hoàng Sa kiêm quản Bắc Hải được biên chế và tổ chức như một thủy đội đặc biệt kiểm soát một vùng biển rộng lớn phía Bắc lên đến phủ Liêm Châu (Hải Nam – Trung Quốc), phía Nam xuống đến Hà Tiên.

Cách đây hơn 4 thế kỷ, triều Nguyễn với tư duy biển vượt trội so với các triều đại đã lập nên một tổ chức bán quân sự có một không hai trong lịch sử Việt Nam đó là Đội Hoàng Sa kiêm quản Bắc Hải (gọi tắt là đội Hoàng Sa). 
Thủy đội đặc biệt

Đội Hoàng Sa tuyển mộ dân binh từ các phủ Cảnh Dương, Quy Nhơn, Bình Khang, Tư Chính… nhưng nòng cốt vẫn là dân của Cù Lao Ré và vùng biển Ba Làng An của Quảng Ngãi.

Xuất phát từ tháng hai và trở về đất liền vào tháng tám hàng năm. Ngoài nhiệm vụ khai thác sản vật ở quần đảo Hoàng Sa cho triều đình, đội Hoàng Sa còn có nhiệm vụ thực thi chủ quyền đối với các đảo từ Hoàng Sa đến Trường Sa, Phú Quý, Phú Quốc… 

Năm Bính Thân (1836), vâng mệnh vua Minh Mạng, Chánh đội trưởng suất đội thủy quân Phạm Hữu Nhật, người tộc Phạm Văn ở thôn Đông xã An Vĩnh dẫn đầu 70 suất đinh là dân binh trên đảo Lý Sơn vượt biển đến Hoàng Sa với nhiệm vụ đo đạc, cắm mốc, dựng bia chủ quyền.

Trong cuộc đời của Chánh đội trưởng suất đội thủy quân Phạm Hữu Nhật không biết có bao nhiêu chuyến đi Hoàng Sa nhưng năm 1854 là chuyến đi cuối cùng không có ngày trở lại như câu hát ru bi tráng ở Cù Lao Ré: “Hoàng Sa trời nước mênh mông. Người đi thì có mà không thấy về”.

Theo truyền thống của người dân Lý Sơn, gia đình và tộc Phạm Văn đã chiêu hồn và làm mộ gió. Linh vị của ngài được thờ trong tất cả các miếu Hoàng Sa ở Lý Sơn và trong đất liền. Tên Hữu Nhật được đặt cho một hòn đảo trong nhóm đảo Lưỡi Liềm này đã bị Trung Quốc hoàn toàn chiếm đóng sau ngày 19.1.1974.
Từ những trang sách của hoàng tộc
Đội Hoàng Sa lừng lẫy một thời trên biển Đông nhờ có sự bảo hộ của triều đình nhà Nguyễn nhưng quan trọng nhất là họ nắm giữ được những bí mật để tồn tại và chiến đấu (giả định nếu có) giữa biển khơi khắc nghiệt, vượt trội hơn thủy quân và sau này là hải quân của những quốc gia lân cận.

Theo ông Nguyễn Phúc Ưng Viên, hiện đang sống ở Sài Gòn là cháu của vua Minh Mạng cho biết đội Hoàng Sa của ra đảo với bí mật quân lương của nhà Nguyễn.

Trong bộ sách Nguyễn Phúc tộc đế phá tường giải đồ của nhà Nguyễn cho thấy trên mạn thuyền của Đội Hoàng Sa có trồng 7 loại rau là rau lang, rau muống, rau húng, hành, hẹ, tỏi, me đất và đến đời Tự Đức thứ 12 thì có thêm rau sam bay.  

 Tỏi Lý Sơn cũng nằm trong bí mật quân lương của Đội Hoàng Sa. Trong ảnh là hai ngôi mộ gió nằm giữa ruộng tỏi thôn Tây. 
Trong sách Nguyễn Phúc tộc dược y minh kính cũng của nhà Nguyễn chỉ rõ dược lý những loại rau nằm trong bí mật quân lương nói trên đối với cơ thể con người như rau muống bổ sung chất sắt, rau húng cân bằng lượng đường, me đất cân bằng tiêu hóa… và thần dược tỏi như tỏi ở Lý Sơn thì khỏi nói.
Ngoài những loại rau mang theo nói trên, dân binh trong Hải đội Hoàng Sa qua những tư liệu của ông Ưng Viên còn cho thấy họ có thể ăn được rau muống biển nhờ vào công thức chế biến đặc biệt được các ngự y trong triều hướng dẫn và giữ bí mật tuyệt đối. Chính vì vậy, món ăn “độc dị” này đến nay vẫn hoàn toàn xa lạ với dân gian.

Rau muống biển, trong sách dược lý của triều Nguyễn được gọi là cứu mệnh thảo, ngoài việc mang lại dinh dưỡng nó còn có tác dụng chống say sóng nhưng nếu không biết chế biến mà ăn vào có thể trở thành “đoạt mệnh thảo”.

Lênh đến trên biển cả hàng nửa năm trời, rau được trồng trên thuyền như kể trên, cá tôm ngoài biển có sẵn, dân binh trong Hải đội Hoàng Sa còn mang theo món thịt thưng và cám gạo vốn là bí mật quân lương của cả triều Nguyễn và triều Tây Sơn.

Thịt thưng là loại thịt nấu với dầu phụng và nước ớt, có thể để được cả hàng năm trời. Món được xem là bí mật quân lương này đã phổ biến trong dân gian và nay trở thành đặc sản của Bình Định và Huế.

Người phục dựng khinh thuyền

Chiến thuyền mông đồng hai đáy của hải quân triều Nguyễn khắc trên Chương Đỉnh trong đại nội Huế thực chất chỉ phù hợp trong các cuộc thủy chiến và duyên chiến. Với hải trình Hoàng Sa xa xôi những chiến thuyền nặng nề đó trở nên bất lợi. Vậy trong suốt quá trình hoạt động của mình Đội Hoàng Sa đã dùng loại thuyền gì để chinh phục biển?

Cách đây hơn hai chục năm, tình cờ nhân việc đi viết lại câu đối cho nhà thờ tộc Nguyễn ở xã An Hải, cụ Võ Hiển Đạt đã phát hiện ra bản vẽ của khinh thuyền Hoàng Sa trong một tư liệu cổ của dòng họ này lưu lại.

Theo bản vẽ đó, khinh thuyền Hoàng Sa là loại ghe câu phổ biến đối với ngư dân vùng biển Lý Sơn và Quảng Ngãi ngày xưa. Trong bản vẽ cổ, ghe câu có chiều dài từ 10 -12 mét, rộng từ 2,5 – 3 mét, cao 0,8 – 1 mét có hai cột buồm. Đây cũng chính là loại ghe bầu nổi tiếng ở Quảng Nam dưới thời kỳ Châu Ấn Thuyền giao lưu buôn bán với Nhật Bản ở Cửa Đại Hội An.

Cụ Võ Hiển Đạt là người có công phát hiện ra bản vẽ khinh thuyền và nhiều tư liệu khác về Hoàng Sa ở Lý Sơn 
Tra cứu thêm nhiều thư tịch nữa, cụ Võ Hiển Đạt đã phục dựng thành công khinh thuyền Hoàng Sa vào khoảng những năm 90. Hiện nay, mô hình hai chiếc khinh thuyền ở Bảo tàng Quảng Ngãi và Bảo tàng Hải đội Hoàng Sa ở Lý Sơn đều do cụ Võ Hiển Đạt phục dựng.
Ở Lý Sơn có câu hát ru: “Hoàng Sa lắm đảo nhiều cồn. Chiếc chiếu bó tròn mấy sợi dây mây”. Thoạt nghe không ai hiểu cho đến khi được người dân Lý Sơn giải thích hoặc tận mắt nhìn thấy mô hình khinh thuyền Hoàng Sa.

Đội hùng binh Hoàng Sa của Lý Sơn ngày xưa có những chuyến ra đi không ngày trở lại. Ngoài những vật dụng cần thiết, mỗi người mang theo một chiếc chiếu cói và bảy sợi dây mây. Chẳng may gặp nạn, xác của dân binh được bó trong chiếc chiếu bằng dây mây thả trôi lênh đênh trên biển. May mắn lắm họ được sóng đánh dạt trở lại đất liền. Bằng không thân xác cứ phiêu dạt sớm hôm trên biển, người thân chiêu hồn vào hình nhân đất sét dưới những nấm mộ gió ở Lý Sơn.

Cụ Võ Hiển Đạt năm nay 84 tuổi hiện sống tại thôn Tây xã An Vĩnh đảo Lý Sơn cũng chính là người phát hiện tờ lệnh quý báu của dòng họ Đặng ở thôn Đồng Hộ xã An Hải năm 2009. Tờ lệnh nay sau đó được hiến tặng cho Nhà nước để làm bằng chứng Hoàng Sa là của Việt Nam.

Dòng họ Võ ở thôn Tây là một trong 13 dòng họ ở đảo Lý Sơn có công lao gìn giữ Hoàng Sa cho tổ quốc. Cho đến nay, tài liệu tìm được cho thấy cai đội Võ Văn Thiết, được triều đình phong tước Hội Nghĩa Hầu là cai đội đi Hoàng Sa sớm nhất. Tờ chiếu dòng họ còn giữ ghi năm Thái Đức thứ 9 (1786) ông được phong tước và chỉ thị ra Hoàng Sa.

Cụ Võ Hiển Đạt là hậu duệ của cai đội Võ Văn Thiết là người sau này tiếp nối cha ông coi sóc Âm Linh Tự thờ những vong hồn trôi sông lạc chợ và binh lính Hoàng Sa.

Posst by ad NH
Bí mật quân lương và thiết kế khinh thuyền của Hải đội Hoàng Sa

Đội Hoàng Sa kiêm quản Bắc Hải được biên chế và tổ chức như một thủy đội đặc biệt kiểm soát một vùng biển rộng lớn phía Bắc lên đến phủ Liêm Châu (Hải Nam – Trung Quốc), phía Nam xuống đến Hà Tiên.

Cách đây hơn 4 thế kỷ, triều Nguyễn với tư duy biển vượt trội so với các triều đại đã lập nên một tổ chức bán quân sự có một không hai trong lịch sử Việt Nam đó là Đội Hoàng Sa kiêm quản Bắc Hải (gọi tắt là đội Hoàng Sa).
Thủy đội đặc biệt

Đội Hoàng Sa tuyển mộ dân binh từ các phủ Cảnh Dương, Quy Nhơn, Bình Khang, Tư Chính… nhưng nòng cốt vẫn là dân của Cù Lao Ré và vùng biển Ba Làng An của Quảng Ngãi.

Xuất phát từ tháng hai và trở về đất liền vào tháng tám hàng năm. Ngoài nhiệm vụ khai thác sản vật ở quần đảo Hoàng Sa cho triều đình, đội Hoàng Sa còn có nhiệm vụ thực thi chủ quyền đối với các đảo từ Hoàng Sa đến Trường Sa, Phú Quý, Phú Quốc…

Năm Bính Thân (1836), vâng mệnh vua Minh Mạng, Chánh đội trưởng suất đội thủy quân Phạm Hữu Nhật, người tộc Phạm Văn ở thôn Đông xã An Vĩnh dẫn đầu 70 suất đinh là dân binh trên đảo Lý Sơn vượt biển đến Hoàng Sa với nhiệm vụ đo đạc, cắm mốc, dựng bia chủ quyền.

Trong cuộc đời của Chánh đội trưởng suất đội thủy quân Phạm Hữu Nhật không biết có bao nhiêu chuyến đi Hoàng Sa nhưng năm 1854 là chuyến đi cuối cùng không có ngày trở lại như câu hát ru bi tráng ở Cù Lao Ré: “Hoàng Sa trời nước mênh mông. Người đi thì có mà không thấy về”.

Theo truyền thống của người dân Lý Sơn, gia đình và tộc Phạm Văn đã chiêu hồn và làm mộ gió. Linh vị của ngài được thờ trong tất cả các miếu Hoàng Sa ở Lý Sơn và trong đất liền. Tên Hữu Nhật được đặt cho một hòn đảo trong nhóm đảo Lưỡi Liềm này đã bị Trung Quốc hoàn toàn chiếm đóng sau ngày 19.1.1974.
Từ những trang sách của hoàng tộc
Đội Hoàng Sa lừng lẫy một thời trên biển Đông nhờ có sự bảo hộ của triều đình nhà Nguyễn nhưng quan trọng nhất là họ nắm giữ được những bí mật để tồn tại và chiến đấu (giả định nếu có) giữa biển khơi khắc nghiệt, vượt trội hơn thủy quân và sau này là hải quân của những quốc gia lân cận.

Theo ông Nguyễn Phúc Ưng Viên, hiện đang sống ở Sài Gòn là cháu của vua Minh Mạng cho biết đội Hoàng Sa của ra đảo với bí mật quân lương của nhà Nguyễn.

Trong bộ sách Nguyễn Phúc tộc đế phá tường giải đồ của nhà Nguyễn cho thấy trên mạn thuyền của Đội Hoàng Sa có trồng 7 loại rau là rau lang, rau muống, rau húng, hành, hẹ, tỏi, me đất và đến đời Tự Đức thứ 12 thì có thêm rau sam bay.

Tỏi Lý Sơn cũng nằm trong bí mật quân lương của Đội Hoàng Sa. Trong ảnh là hai ngôi mộ gió nằm giữa ruộng tỏi thôn Tây.
Trong sách Nguyễn Phúc tộc dược y minh kính cũng của nhà Nguyễn chỉ rõ dược lý những loại rau nằm trong bí mật quân lương nói trên đối với cơ thể con người như rau muống bổ sung chất sắt, rau húng cân bằng lượng đường, me đất cân bằng tiêu hóa… và thần dược tỏi như tỏi ở Lý Sơn thì khỏi nói.
Ngoài những loại rau mang theo nói trên, dân binh trong Hải đội Hoàng Sa qua những tư liệu của ông Ưng Viên còn cho thấy họ có thể ăn được rau muống biển nhờ vào công thức chế biến đặc biệt được các ngự y trong triều hướng dẫn và giữ bí mật tuyệt đối. Chính vì vậy, món ăn “độc dị” này đến nay vẫn hoàn toàn xa lạ với dân gian.

Rau muống biển, trong sách dược lý của triều Nguyễn được gọi là cứu mệnh thảo, ngoài việc mang lại dinh dưỡng nó còn có tác dụng chống say sóng nhưng nếu không biết chế biến mà ăn vào có thể trở thành “đoạt mệnh thảo”.

Lênh đến trên biển cả hàng nửa năm trời, rau được trồng trên thuyền như kể trên, cá tôm ngoài biển có sẵn, dân binh trong Hải đội Hoàng Sa còn mang theo món thịt thưng và cám gạo vốn là bí mật quân lương của cả triều Nguyễn và triều Tây Sơn.

Thịt thưng là loại thịt nấu với dầu phụng và nước ớt, có thể để được cả hàng năm trời. Món được xem là bí mật quân lương này đã phổ biến trong dân gian và nay trở thành đặc sản của Bình Định và Huế.

Người phục dựng khinh thuyền

Chiến thuyền mông đồng hai đáy của hải quân triều Nguyễn khắc trên Chương Đỉnh trong đại nội Huế thực chất chỉ phù hợp trong các cuộc thủy chiến và duyên chiến. Với hải trình Hoàng Sa xa xôi những chiến thuyền nặng nề đó trở nên bất lợi. Vậy trong suốt quá trình hoạt động của mình Đội Hoàng Sa đã dùng loại thuyền gì để chinh phục biển?

Cách đây hơn hai chục năm, tình cờ nhân việc đi viết lại câu đối cho nhà thờ tộc Nguyễn ở xã An Hải, cụ Võ Hiển Đạt đã phát hiện ra bản vẽ của khinh thuyền Hoàng Sa trong một tư liệu cổ của dòng họ này lưu lại.

Theo bản vẽ đó, khinh thuyền Hoàng Sa là loại ghe câu phổ biến đối với ngư dân vùng biển Lý Sơn và Quảng Ngãi ngày xưa. Trong bản vẽ cổ, ghe câu có chiều dài từ 10 -12 mét, rộng từ 2,5 – 3 mét, cao 0,8 – 1 mét có hai cột buồm. Đây cũng chính là loại ghe bầu nổi tiếng ở Quảng Nam dưới thời kỳ Châu Ấn Thuyền giao lưu buôn bán với Nhật Bản ở Cửa Đại Hội An.

Cụ Võ Hiển Đạt là người có công phát hiện ra bản vẽ khinh thuyền và nhiều tư liệu khác về Hoàng Sa ở Lý Sơn
Tra cứu thêm nhiều thư tịch nữa, cụ Võ Hiển Đạt đã phục dựng thành công khinh thuyền Hoàng Sa vào khoảng những năm 90. Hiện nay, mô hình hai chiếc khinh thuyền ở Bảo tàng Quảng Ngãi và Bảo tàng Hải đội Hoàng Sa ở Lý Sơn đều do cụ Võ Hiển Đạt phục dựng.
Ở Lý Sơn có câu hát ru: “Hoàng Sa lắm đảo nhiều cồn. Chiếc chiếu bó tròn mấy sợi dây mây”. Thoạt nghe không ai hiểu cho đến khi được người dân Lý Sơn giải thích hoặc tận mắt nhìn thấy mô hình khinh thuyền Hoàng Sa.

Đội hùng binh Hoàng Sa của Lý Sơn ngày xưa có những chuyến ra đi không ngày trở lại. Ngoài những vật dụng cần thiết, mỗi người mang theo một chiếc chiếu cói và bảy sợi dây mây. Chẳng may gặp nạn, xác của dân binh được bó trong chiếc chiếu bằng dây mây thả trôi lênh đênh trên biển. May mắn lắm họ được sóng đánh dạt trở lại đất liền. Bằng không thân xác cứ phiêu dạt sớm hôm trên biển, người thân chiêu hồn vào hình nhân đất sét dưới những nấm mộ gió ở Lý Sơn.

Cụ Võ Hiển Đạt năm nay 84 tuổi hiện sống tại thôn Tây xã An Vĩnh đảo Lý Sơn cũng chính là người phát hiện tờ lệnh quý báu của dòng họ Đặng ở thôn Đồng Hộ xã An Hải năm 2009. Tờ lệnh nay sau đó được hiến tặng cho Nhà nước để làm bằng chứng Hoàng Sa là của Việt Nam.

Dòng họ Võ ở thôn Tây là một trong 13 dòng họ ở đảo Lý Sơn có công lao gìn giữ Hoàng Sa cho tổ quốc. Cho đến nay, tài liệu tìm được cho thấy cai đội Võ Văn Thiết, được triều đình phong tước Hội Nghĩa Hầu là cai đội đi Hoàng Sa sớm nhất. Tờ chiếu dòng họ còn giữ ghi năm Thái Đức thứ 9 (1786) ông được phong tước và chỉ thị ra Hoàng Sa.

Cụ Võ Hiển Đạt là hậu duệ của cai đội Võ Văn Thiết là người sau này tiếp nối cha ông coi sóc Âm Linh Tự thờ những vong hồn trôi sông lạc chợ và binh lính Hoàng Sa.

Posst by ad NH
Quân dân Sài Gòn tháng 1.1974 dưới tượng đức thánh Trần, tại bến Bạch Đằng chào đón những người lính  trở về sau trận Hoàng Sa.

ad NH
Quân dân Sài Gòn tháng 1.1974 dưới tượng đức thánh Trần, tại bến Bạch Đằng chào đón những người lính trở về sau trận Hoàng Sa.

ad NH
Trung sĩ Phạm Ngọc Đa tham gia trận Hải chiến bảo vệ Hoàng Sa 17/1/1974.

Anh phục vụ trên tàu HQ-10 Hải quân VNCH, trút hơi thở cuối cùng chỉ 15 phút trước khi bè cứu sinh gặp con tàu Hà Lan.
Trung sĩ Phạm Ngọc Đa tham gia trận Hải chiến bảo vệ Hoàng Sa 17/1/1974.

Anh phục vụ trên tàu HQ-10 Hải quân VNCH, trút hơi thở cuối cùng chỉ 15 phút trước khi bè cứu sinh gặp con tàu Hà Lan.
Ảnh: Thẻ bài và những vật dụng của Đoàn hùng binh Hoàng Sa kiêm quản Bắc Hải (thời Nguyễn).

Sử ghi chép lại rằng: dưới thời các chúa Nguyễn, sau đó là các vua triều Nguyễn, việc thành lập các Hải đội Hoàng Sa, Bắc Hải là minh chứng lịch sử khẳng định trung thực nhất Nhà nước phong kiến Việt Nam trong công cuộc chinh phục Biển Đông, gây dựng chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. 

Trải qua nhiều thế kỉ, có rất nhiều võ quan, binh lính đã hi sinh khi làm nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền, cắm mốc, dựng bia tại các quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa.

Theo ghi chép trong “Phủ biên tạp lục” của Lê Quý Đôn năm 1776 (từng làm Hiệp trấn xứ Thuận Hóa thế kỷ XVIII) kể rằng: “Nhà Nguyễn thiết lập đội Hoàng Sa gồm 70 suất, lấy người ở An Vĩnh (xã An Vĩnh, huyện đảo Lý Sơn ngày nay) bổ sung. Mỗi năm họ luân phiên nhau đi biển. Khi đi, ngoài những vật dụng cần thiết mang theo cho chuyến đi, mỗi hùng binh của Hải đội Hoàng Sa, Bắc Hải còn chuẩn bị cho mình 1 đôi chiếu, 7 nẹp tre, 7 sợi dây mây, 1 thẻ bài khắc tên họ, quê quán mang theo để đồng đội bó xác nếu hi sinh trên biển. Trong chuyến đi, chẳng may hi sinh thì các đồng đội sẽ làm nghi lễ “tiễn đưa”, sau đó bó thi hài thả xuống biển. Tất cả đồng đội đều cúi đầu nguyện ước thi hài binh sỹ đã mất sẽ trôi dạt vào bờ để người dân biết tên họ, quê quán người hi sinh vì nước mà chôn cất.
Ảnh: Thẻ bài và những vật dụng của Đoàn hùng binh Hoàng Sa kiêm quản Bắc Hải (thời Nguyễn).

Sử ghi chép lại rằng: dưới thời các chúa Nguyễn, sau đó là các vua triều Nguyễn, việc thành lập các Hải đội Hoàng Sa, Bắc Hải là minh chứng lịch sử khẳng định trung thực nhất Nhà nước phong kiến Việt Nam trong công cuộc chinh phục Biển Đông, gây dựng chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Trải qua nhiều thế kỉ, có rất nhiều võ quan, binh lính đã hi sinh khi làm nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền, cắm mốc, dựng bia tại các quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa.

Theo ghi chép trong “Phủ biên tạp lục” của Lê Quý Đôn năm 1776 (từng làm Hiệp trấn xứ Thuận Hóa thế kỷ XVIII) kể rằng: “Nhà Nguyễn thiết lập đội Hoàng Sa gồm 70 suất, lấy người ở An Vĩnh (xã An Vĩnh, huyện đảo Lý Sơn ngày nay) bổ sung. Mỗi năm họ luân phiên nhau đi biển. Khi đi, ngoài những vật dụng cần thiết mang theo cho chuyến đi, mỗi hùng binh của Hải đội Hoàng Sa, Bắc Hải còn chuẩn bị cho mình 1 đôi chiếu, 7 nẹp tre, 7 sợi dây mây, 1 thẻ bài khắc tên họ, quê quán mang theo để đồng đội bó xác nếu hi sinh trên biển. Trong chuyến đi, chẳng may hi sinh thì các đồng đội sẽ làm nghi lễ “tiễn đưa”, sau đó bó thi hài thả xuống biển. Tất cả đồng đội đều cúi đầu nguyện ước thi hài binh sỹ đã mất sẽ trôi dạt vào bờ để người dân biết tên họ, quê quán người hi sinh vì nước mà chôn cất.
MAO TRẠCH ĐÔNG CHỈ ĐẠO ĐÁNH CHIẾM HOÀNG SA NĂM 1974.

Việc đánh chiếm quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam năm 1974 là quyết định “đánh trận cuối cùng” của Mao Trạch Đông và là quyết định “đánh trận đầu tiên” của Đặng Tiểu Bình khi được phục chức. 

Diệp Kiếm Anh viết báo cáo gửi Mao Trạch Đông đề nghị phái quân ra quần đảo Hoàng Sa.

Mao Trạch Đông phê vào bản báo cáo của Chu Ân Lai, Diệp Kiếm Anh: “Đồng ý!”, đồng thời nói thêm, “trận này không thể không đánh”.

http://giaoduc.net.vn/Quoc-te/Tan-Hoa-Xa-Mao-Trach-Dong-chi-dao-danh-chiem-Hoang-Sa-nam-1974-post82067.gd

Ảnh: Mao Trạch Đông năm 1960 (bên phải).
MAO TRẠCH ĐÔNG CHỈ ĐẠO ĐÁNH CHIẾM HOÀNG SA NĂM 1974.

Việc đánh chiếm quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam năm 1974 là quyết định “đánh trận cuối cùng” của Mao Trạch Đông và là quyết định “đánh trận đầu tiên” của Đặng Tiểu Bình khi được phục chức.

Diệp Kiếm Anh viết báo cáo gửi Mao Trạch Đông đề nghị phái quân ra quần đảo Hoàng Sa.

Mao Trạch Đông phê vào bản báo cáo của Chu Ân Lai, Diệp Kiếm Anh: “Đồng ý!”, đồng thời nói thêm, “trận này không thể không đánh”.

http://giaoduc.net.vn/Quoc-te/Tan-Hoa-Xa-Mao-Trach-Dong-chi-dao-danh-chiem-Hoang-Sa-nam-1974-post82067.gd

Ảnh: Mao Trạch Đông năm 1960 (bên phải).
Lá thư được trung sĩ Phạm Ngọc Đa gửi đi từ tàu HQ-10.
Ngày 19-1-1974 trung sĩ Phạm Ngọc Đa hy sinh trong trận chiến bảo vệ quần đảo Hoàng Sa, tàu HQ-10 Nhật Tảo bị Trung Quốc bắn chìm.
Lá thư được trung sĩ Phạm Ngọc Đa gửi đi từ tàu HQ-10.
Ngày 19-1-1974 trung sĩ Phạm Ngọc Đa hy sinh trong trận chiến bảo vệ quần đảo Hoàng Sa, tàu HQ-10 Nhật Tảo bị Trung Quốc bắn chìm.

Xem Thêm