Triều đình xưa

Nguồn:
http://nguyentl.free.fr/html/photo_la_cour_royal_vn.htm

Triều Ðình (gồm có Vua và các quan) là cơ quan cai trị cả nước. Mỗi tháng Triều Ðình họp Ðại Triều 2 lần, vào các ngày mùng 1 và 15 âm lịch ở điện Thái Hoà. Các quan văn võ ở Kinh Ðô phải có mặt ở sân Rồng, đứng xếp hàng theo phẩm cấp của mình, lớn trước nhỏ sau.
Ðứng đầu các tỉnh là có quan Tổng Ðốc, sau đó là tới quan Tri Phủ, Tri Huyện và Tri Châu, các quan nầy lo việc hành pháp (áp dụng luật lệ và lo vấn đề an ninh cho dân chúng).
Muốn được làm quan phải là người có học, phải thi đậu các kỳ thi tổ chức bởi Triều Ðình như kỳ thi ở Nam Ðịnh (xin coi phần "Từ dân lên quan"). Quan càng cao chức thì khi đi lại càng có nhiều lọng (dù lớn). - Admin DDGV
Vệ binh
Vệ binh
Voi lạy
Voi lạy
Tượng binh
Tượng binh
Mã binh
Mã binh
Mã binh
Mã binh
Mã binh
Mã binh
Vệ binh
Vệ binh
Ban lễ nhạc
Ban lễ nhạc
Trưởng nhóm vệ binh
Trưởng nhóm vệ binh
Ðĩnh đồng
Ðĩnh đồng
Một người đánh chuông
Một người đánh chuông
Các quan đang làm lễ tế Nam Giao
Các quan đang làm lễ tế Nam Giao
Một cổng vào của thành xưa
Một cổng vào của thành xưa
Một ông Quan Huyện và các quan Châu
Một ông Quan Huyện và các quan Châu
Một ông quan
Một ông quan
Một ông quan uống trà
Một ông quan uống trà
Quan đi ngựa
Quan đi ngựa
Tổng Ðốc Hà Nội
Tổng Ðốc Hà Nội
Quan đi võng
Quan đi võng
Các quan lại
Các quan lại
Một ông quan
Một ông quan
Nhạc công trong hoàng cung
Nhạc công trong hoàng cung
Một người hầu của Vua
Một người hầu của Vua
Cư dinh của Hội trưởng Tôn Nhân phủ (hội đồng Hoàng tộc) (1)
Cư dinh của Hội trưởng Tôn Nhân phủ (hội đồng Hoàng tộc) (1)
Một quan Tri Châu
Một quan Tri Châu
Các quan chầu trong Sân Rồng
Các quan chầu trong Sân Rồng
Các quan chầu trong Sân Rồng
Các quan chầu trong Sân Rồng
Các quan lại
Các quan lại
Một ông quan
Một ông quan
Một ông quan và vợ
Một ông quan và vợ
Một quan lớn của triều đình
Một quan lớn của triều đình
Súng thần công
Súng thần công
Thái giám
Thái giám
Tổng Ðốc Hà Nội (1885)
Tổng Ðốc Hà Nội (1885)
Một ông quan tỉnh
Một ông quan tỉnh
Soldats annamites.
Soldats annamites.
Mirador ou poste de vigie, au bord de la rivière de Hué.
Mirador ou poste de vigie, au bord de la rivière de Hué.
Bia Bài ban (Huế).
Hai bên sân rồng có bia đá thích chữ, ấn định chỗ đứng của các quan theo thứ tự từ nhất phẩm xuống cửu phẩm, đứng trên cùng là Hoàng phái.
Bia Bài ban (Huế).
Hai bên sân rồng có bia đá thích chữ, ấn định chỗ đứng của các quan theo thứ tự từ nhất phẩm xuống cửu phẩm, đứng trên cùng là Hoàng phái.
Ảnh: Phái đoàn nhà Nguyễn do Kinh lược sứ Nam Kỳ Phan Thanh Giản (ở giữa, hàng đầu) dẫn đầu sang Pháp năm 1863.

Phan Thanh Giản (1796 – 1867) là một công thần nhà Nguyễn, làm quan trải 3 triều Minh Mạng, Thiệu Trị và Tự Đức từ 1826 – 1867, ông đã lần lượt kinh qua ít nhất 58 chức vụ lớn nhỏ.
 Thuở hàn vi, mới 7 tuổi ông Phan Thanh Giản phải chịu cảnh mồ côi mẹ, rồi cha lại bị tù (oan), cảnh nhà vô cùng nghèo khổ, cơ cực, Ông xin được thay cha vào tù. Cảm động trước tấm lòng hiếu thảo, viên quan đã cho ông ở gần nơi cha bị giam cầm, để vừa trau dồi kinh sử, vừa có cơ hội thăm cha mỗi ngày. Ông sống nhờ vào tình thương của bà dì ghẻ và những người hàng xóm tốt bụng. Sau đó ông thi đỗ đệ tam giáp tiến sĩ xuất thân khoa năm Bính Tuất, 1826 – vị tiến sĩ đầu tiên của đất Nam Kỳ – được triều đình bổ dụng làm quan.

Hoạn lộ của Phan Thanh Giản vô cùng lận đận, Ông đã 7 lần làm cho vua giận tức, không chỉ bị giáng chức, cách lưu mà có khi phải cam chịu theo quân tiền hiệu lực (làm lính) . Song mỗi lần như vậy, chỉ trong một thời gian ngắn ông lại được phục hồi để rồi từng bước được vinh thăng đến cực phẩm triều đình (lần lượt giữ chức Thượng thư các bộ Hình, bộ Lại, bộ Binh; 6 lần được sung Cơ mật viện đại thần, và cả Chánh sứ toàn quyền đại thần. Ở cương vị nào ông cũng chỉ biết cố gắng làm hết phận sự mình, dù vinh cũng không lấy đó làm hãnh, mà trái lại ít nhất ông cũng 4 lần dâng sớ khẩn khoản khước từ quyền cao chức trọng, nhưng vua không chấp thuận, nên đành phải vâng mệnh. 
Phan Thanh Giản được vua ban tặng tấm kim khánh với 4 chữ vàng Liêm, Bình, Cần, Cán; và do “liêm trực cẩn thận”, sau vua lại ban thêm cho tấm bi lương ngọc để tỏ lòng tin yêu, sủng ái.

Năm 1863 vua Tự Đức cử ông làm Chánh sứ sang thương thuyết với hoàng đế nước Pháp (và Y Pha Nho) xin chuộc lại 3 tỉnh miền Đông Nam Kỳ, trước khi đi, vua Tự Đức ướm hỏi: “Trước kia ngươi bỏ 3 tỉnh Nam Kỳ chắc là đã có cân nhắc, vậy ngươi còn có ý gì nữa chăng?”. Phan Thanh Giản tâu: “Tôi xét kỹ thời thế, không bỏ không được, nay tôi vâng mệnh đi sứ, việc thành hay không đều tùy nước Tây, tôi chỉ biết hết lòng hết sức mà thôi”. Vua chảy nước mắt!
Khi người Pháp tiếp tục đẩy mạnh cuộc xâm lược để chiếm nốt 3 tỉnh miền Tây Nam Kỳ, nhà vua liền khai phục và thăng bổ Phan Thanh Giản làm Hiệp biện Đại học sĩ Hộ bộ Thượng thư sung Kinh lược sứ 3 tỉnh Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên (1865) để sai phái ông vào Nam đương đầu trước làn tên mũi đạn. Phan Thanh Giản khước từ vua không chấp thuận. Sau đó lại xin hưu trí với lý do “vì tuổi già sức yếu không kham được việc lớn”, vua cũng không cho. Ông phải vâng mệnh!
Ngày 20 tháng 6 năm 1867, Pháp đánh chiếm Vĩnh Long (vốn đã được trao trả triều đình Huế ngày 25 tháng 5 năm 1863), yêu cầu ông gửi mật thư cho thủ thành An Giang và Hà Tiên buông súng đầu hàng. Trước sức mạnh áp đảo của Pháp về mặt quân sự, biết thế không thể giữ nổi, nên để tránh đổ máu vô ích, Phan Thanh Giản đã quyết định trao thành, không kháng cự, với yêu cầu người Pháp phải bảo đảm an toàn cho dân chúng. Thế là chỉ trong 5 ngày (20-24 tháng 6 năm 1867), Pháp chiếm gọn ba tỉnh miền Tây không tốn một viên đạn. Sau khi thành mất ông tuyệt thực suốt 17 ngày, rồi uống thuốc độc tự tử vào ngày 4 tháng 8 năm 1867.

Năm 1963 Trần Huy Liệu - Viện trưởng Viện Sử học nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa kết tội ông là kẻ "bán nước".
Ảnh: Phái đoàn nhà Nguyễn do Kinh lược sứ Nam Kỳ Phan Thanh Giản (ở giữa, hàng đầu) dẫn đầu sang Pháp năm 1863.

Phan Thanh Giản (1796 – 1867) là một công thần nhà Nguyễn, làm quan trải 3 triều Minh Mạng, Thiệu Trị và Tự Đức từ 1826 – 1867, ông đã lần lượt kinh qua ít nhất 58 chức vụ lớn nhỏ.
Thuở hàn vi, mới 7 tuổi ông Phan Thanh Giản phải chịu cảnh mồ côi mẹ, rồi cha lại bị tù (oan), cảnh nhà vô cùng nghèo khổ, cơ cực, Ông xin được thay cha vào tù. Cảm động trước tấm lòng hiếu thảo, viên quan đã cho ông ở gần nơi cha bị giam cầm, để vừa trau dồi kinh sử, vừa có cơ hội thăm cha mỗi ngày. Ông sống nhờ vào tình thương của bà dì ghẻ và những người hàng xóm tốt bụng. Sau đó ông thi đỗ đệ tam giáp tiến sĩ xuất thân khoa năm Bính Tuất, 1826 – vị tiến sĩ đầu tiên của đất Nam Kỳ – được triều đình bổ dụng làm quan.

Hoạn lộ của Phan Thanh Giản vô cùng lận đận, Ông đã 7 lần làm cho vua giận tức, không chỉ bị giáng chức, cách lưu mà có khi phải cam chịu theo quân tiền hiệu lực (làm lính) . Song mỗi lần như vậy, chỉ trong một thời gian ngắn ông lại được phục hồi để rồi từng bước được vinh thăng đến cực phẩm triều đình (lần lượt giữ chức Thượng thư các bộ Hình, bộ Lại, bộ Binh; 6 lần được sung Cơ mật viện đại thần, và cả Chánh sứ toàn quyền đại thần. Ở cương vị nào ông cũng chỉ biết cố gắng làm hết phận sự mình, dù vinh cũng không lấy đó làm hãnh, mà trái lại ít nhất ông cũng 4 lần dâng sớ khẩn khoản khước từ quyền cao chức trọng, nhưng vua không chấp thuận, nên đành phải vâng mệnh.
Phan Thanh Giản được vua ban tặng tấm kim khánh với 4 chữ vàng Liêm, Bình, Cần, Cán; và do “liêm trực cẩn thận”, sau vua lại ban thêm cho tấm bi lương ngọc để tỏ lòng tin yêu, sủng ái.

Năm 1863 vua Tự Đức cử ông làm Chánh sứ sang thương thuyết với hoàng đế nước Pháp (và Y Pha Nho) xin chuộc lại 3 tỉnh miền Đông Nam Kỳ, trước khi đi, vua Tự Đức ướm hỏi: “Trước kia ngươi bỏ 3 tỉnh Nam Kỳ chắc là đã có cân nhắc, vậy ngươi còn có ý gì nữa chăng?”. Phan Thanh Giản tâu: “Tôi xét kỹ thời thế, không bỏ không được, nay tôi vâng mệnh đi sứ, việc thành hay không đều tùy nước Tây, tôi chỉ biết hết lòng hết sức mà thôi”. Vua chảy nước mắt!
Khi người Pháp tiếp tục đẩy mạnh cuộc xâm lược để chiếm nốt 3 tỉnh miền Tây Nam Kỳ, nhà vua liền khai phục và thăng bổ Phan Thanh Giản làm Hiệp biện Đại học sĩ Hộ bộ Thượng thư sung Kinh lược sứ 3 tỉnh Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên (1865) để sai phái ông vào Nam đương đầu trước làn tên mũi đạn. Phan Thanh Giản khước từ vua không chấp thuận. Sau đó lại xin hưu trí với lý do “vì tuổi già sức yếu không kham được việc lớn”, vua cũng không cho. Ông phải vâng mệnh!
Ngày 20 tháng 6 năm 1867, Pháp đánh chiếm Vĩnh Long (vốn đã được trao trả triều đình Huế ngày 25 tháng 5 năm 1863), yêu cầu ông gửi mật thư cho thủ thành An Giang và Hà Tiên buông súng đầu hàng. Trước sức mạnh áp đảo của Pháp về mặt quân sự, biết thế không thể giữ nổi, nên để tránh đổ máu vô ích, Phan Thanh Giản đã quyết định trao thành, không kháng cự, với yêu cầu người Pháp phải bảo đảm an toàn cho dân chúng. Thế là chỉ trong 5 ngày (20-24 tháng 6 năm 1867), Pháp chiếm gọn ba tỉnh miền Tây không tốn một viên đạn. Sau khi thành mất ông tuyệt thực suốt 17 ngày, rồi uống thuốc độc tự tử vào ngày 4 tháng 8 năm 1867.

Năm 1963 Trần Huy Liệu - Viện trưởng Viện Sử học nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa kết tội ông là kẻ "bán nước".

Xem Thêm