Tượng đài Saigon xưa (còn tiếp)

Sài Gòn ngày xưa có rất nhiều tượng đài được dựng lên. Trải qua nhiều biến cố của thời gian, những tượng đài ở Saigon xưa có tượng còn tồn tại, có tượng đã mất đi. SGNX lập nên album này để giúp các bạn dễ dàng tra cứu, tìm thông tin.
Saigon - Tượng Léon Gambetta.

Léon Gambetta sinh ngày 2/4/1838 tại Cahors và mất ngày 31/12/1882 tại Sèvres ("thọ" 44 tuổi). Ông là một danh nhân chính trị gia Cộng hoà Pháp, làm Thủ Tướng (kiêm Bộ trưởng Bộ Ngoại giao) từ 1881-1882, vào khoảng thời gian Pháp sắp bắt đầu đặt nền đô hộ trên đất nuớc VN. Ông cũng thuộc phái các chính trị gia ủng hộ việc xâm chiếm mở rộng thuộc địa cho Pháp quốc, do công trạng này mà Gambetta đã được dựng tượng tại Sài Gòn là thủ phủ của Nam kỳ là nơi đã bị Pháp chiếm sớm nhất.

Tượng Gambetta tại Sài Gòn ban đầu nằm giữa đường Norodom và Pellerin (ngày nay là giao lộ Lê Duẩn - Pasteur). Sau đó khi kinh đào Charner bị lấp để trở thành Đại lộ Charner, và Chợ cũ ở ĐL Charner bị dỡ bỏ, thì khu đất Chợ cũ được cải tạo thành Quảng trường Gambetta, với tượng đài Gambetta được dời về đây, đặt ở gần phía cuối Quảng trường như trong bức hình ở trên.

Quảng trường Gambetta (còn được gọi là Quảng trường Chợ cũ) nằm giữa 4 con đường: mặt trước là Boulevard CHARNER (Nguyễn Huệ ngày nay), mặt sau là Rue GEORGES GUYNEMER (sau này là Võ Di Nguy, rồi Hồ Tùng Mậu), phía bên phải là Rue VANNIER (sau này là Ngô Đức Kế) và bên trái là Rue Phủ Kiệt (sau 1975 là đường Hải Triều), nơi sau này có trụ sở Ngân Khố và Học viện Ngân hàng TPHCM. Vị trí tượng Gambetta trong hình này chính là vị trí hiện nay của tòa nhà Financial Tower 68 tầng.

Khi trụ sở Kho Bạc được xây dựng trên khu đất này thì tượng Gambetta được dời về Công viên Tao đàn (khi đó mang tên Parc de Maurice Long hay Jardin De Ville, và người Việt hồi đó quen gọi là "Vườn Ông Thượng" hay "Vườn Bờ-rô"). Các bản đồ Saigon năm 1928 và 1947 cho biết rõ vị trí của bức tượng này tại ĐL Charner (Place de Gambetta) và trong công viên Tao Đàn.

Theo ông Vương Hồng Sển trong cuốn Sài Gòn Năm Xưa thì năm 1945 khi Nhật đến VN, "chánh phủ Pháp muốn thâu dụng số đồng dùng vào chiến tranh, sai thợ nấu lão Gambetta, thì hỡi ôi! Thân lão là ersatz, đồ đồng giả, không dùng được..."

[NCT]
Nguồn hình: manhai.
Saigon - Tượng Léon Gambetta.

Léon Gambetta sinh ngày 2/4/1838 tại Cahors và mất ngày 31/12/1882 tại Sèvres ("thọ" 44 tuổi). Ông là một danh nhân chính trị gia Cộng hoà Pháp, làm Thủ Tướng (kiêm Bộ trưởng Bộ Ngoại giao) từ 1881-1882, vào khoảng thời gian Pháp sắp bắt đầu đặt nền đô hộ trên đất nuớc VN. Ông cũng thuộc phái các chính trị gia ủng hộ việc xâm chiếm mở rộng thuộc địa cho Pháp quốc, do công trạng này mà Gambetta đã được dựng tượng tại Sài Gòn là thủ phủ của Nam kỳ là nơi đã bị Pháp chiếm sớm nhất.

Tượng Gambetta tại Sài Gòn ban đầu nằm giữa đường Norodom và Pellerin (ngày nay là giao lộ Lê Duẩn - Pasteur). Sau đó khi kinh đào Charner bị lấp để trở thành Đại lộ Charner, và Chợ cũ ở ĐL Charner bị dỡ bỏ, thì khu đất Chợ cũ được cải tạo thành Quảng trường Gambetta, với tượng đài Gambetta được dời về đây, đặt ở gần phía cuối Quảng trường như trong bức hình ở trên.

Quảng trường Gambetta (còn được gọi là Quảng trường Chợ cũ) nằm giữa 4 con đường: mặt trước là Boulevard CHARNER (Nguyễn Huệ ngày nay), mặt sau là Rue GEORGES GUYNEMER (sau này là Võ Di Nguy, rồi Hồ Tùng Mậu), phía bên phải là Rue VANNIER (sau này là Ngô Đức Kế) và bên trái là Rue Phủ Kiệt (sau 1975 là đường Hải Triều), nơi sau này có trụ sở Ngân Khố và Học viện Ngân hàng TPHCM. Vị trí tượng Gambetta trong hình này chính là vị trí hiện nay của tòa nhà Financial Tower 68 tầng.

Khi trụ sở Kho Bạc được xây dựng trên khu đất này thì tượng Gambetta được dời về Công viên Tao đàn (khi đó mang tên Parc de Maurice Long hay Jardin De Ville, và người Việt hồi đó quen gọi là "Vườn Ông Thượng" hay "Vườn Bờ-rô"). Các bản đồ Saigon năm 1928 và 1947 cho biết rõ vị trí của bức tượng này tại ĐL Charner (Place de Gambetta) và trong công viên Tao Đàn.

Theo ông Vương Hồng Sển trong cuốn Sài Gòn Năm Xưa thì năm 1945 khi Nhật đến VN, "chánh phủ Pháp muốn thâu dụng số đồng dùng vào chiến tranh, sai thợ nấu lão Gambetta, thì hỡi ôi! Thân lão là ersatz, đồ đồng giả, không dùng được..."

[NCT]
Nguồn hình: manhai.
Gambetta sinh ngày 2/4/1838 tại Cahors và mất ngày 31/12/1882 tại Sèvres ("thọ" 44 tuổi). Ông là một danh nhân chính trị gia Cộng hoà Pháp, làm Thủ Tướng (kiêm Bộ trưởng Bộ Ngoại giao) từ 1881-1882, vào khoảng thời gian Pháp sắp bắt đầu đặt nền đô hộ trên đất nuớc VN. Ông cũng thuộc phái các chính trị gia ủng hộ việc xâm chiếm mở rộng thuộc địa cho Pháp quốc, do công trạng này mà Gambetta đã được dựng tượng tại Sài Gòn là thủ phủ của Nam kỳ là nơi đã bị Pháp chiếm sớm nhất. 

Theo ông Vương Hồng Sển trong cuốn Sài Gòn Năm Xưa thì năm 1945 khi Nhật đến VN, "chánh phủ Pháp muốn thâu dụng số đồng dùng vào chiến tranh, sai thợ nấu lão Gambetta, thì hỡi ôi! Thân lão là ersatz, đồ đồng giả, không dùng được..." 

[NCT]
Nguồn hình manhhai.
Gambetta sinh ngày 2/4/1838 tại Cahors và mất ngày 31/12/1882 tại Sèvres ("thọ" 44 tuổi). Ông là một danh nhân chính trị gia Cộng hoà Pháp, làm Thủ Tướng (kiêm Bộ trưởng Bộ Ngoại giao) từ 1881-1882, vào khoảng thời gian Pháp sắp bắt đầu đặt nền đô hộ trên đất nuớc VN. Ông cũng thuộc phái các chính trị gia ủng hộ việc xâm chiếm mở rộng thuộc địa cho Pháp quốc, do công trạng này mà Gambetta đã được dựng tượng tại Sài Gòn là thủ phủ của Nam kỳ là nơi đã bị Pháp chiếm sớm nhất.

Theo ông Vương Hồng Sển trong cuốn Sài Gòn Năm Xưa thì năm 1945 khi Nhật đến VN, "chánh phủ Pháp muốn thâu dụng số đồng dùng vào chiến tranh, sai thợ nấu lão Gambetta, thì hỡi ôi! Thân lão là ersatz, đồ đồng giả, không dùng được..."

[NCT]
Nguồn hình manhhai.
Saigon - Tượng đô đốc thủy quân De Genouilly nơi Quảng trường Rigault de Genouilly (sau này là QT Mê Linh cuối đường Hai Bà Trưng, nơi ngày nay là tượng đài Trần Hưng Đạo).

Phó đô đốc Charles Rigault de Genouilly (1807-1873), là Thống đốc Nam Kỳ từ tháng 2, 1859 đến tháng 10, 1859, ông cũng là Tư lệnh quân viễn chinh Pháp.

[NCT]
Nguồn hình: manhhai.
Saigon - Tượng đô đốc thủy quân De Genouilly nơi Quảng trường Rigault de Genouilly (sau này là QT Mê Linh cuối đường Hai Bà Trưng, nơi ngày nay là tượng đài Trần Hưng Đạo).

Phó đô đốc Charles Rigault de Genouilly (1807-1873), là Thống đốc Nam Kỳ từ tháng 2, 1859 đến tháng 10, 1859, ông cũng là Tư lệnh quân viễn chinh Pháp.

[NCT]
Nguồn hình: manhhai.
Saigon - Tượng đài Francis Garnier cuối thế kỷ 19. Khu vực xung quanh tượng đài này cũng mang tên Francis Garnier, và đây chính là công viên trước Nhà hát thành phố ngày nay. 

Marie Joseph François (Francis) Garnier (25/7/1835? - 21/12/1873) là một sĩ quan người Pháp và đồng thời là một nhà thám hiểm, được biết đến vì cuộc thám hiểm sông Mê Kông tại khu vực Đông Nam Á cũng như vì chiến dịch quân sự do ông chỉ huy ở Bắc Kỳ năm 1873.

[NCT]
Nguồn hình: manhhai.
Saigon - Tượng đài Francis Garnier cuối thế kỷ 19. Khu vực xung quanh tượng đài này cũng mang tên Francis Garnier, và đây chính là công viên trước Nhà hát thành phố ngày nay.

Marie Joseph François (Francis) Garnier (25/7/1835? - 21/12/1873) là một sĩ quan người Pháp và đồng thời là một nhà thám hiểm, được biết đến vì cuộc thám hiểm sông Mê Kông tại khu vực Đông Nam Á cũng như vì chiến dịch quân sự do ông chỉ huy ở Bắc Kỳ năm 1873.

[NCT]
Nguồn hình: manhhai.
Saigon - Tượng đài Francis Garnier.

Marie Joseph François (Francis) Garnier (25/7/1835? - 21/12/1873) là một sĩ quan người Pháp và đồng thời là một nhà thám hiểm, được biết đến vì cuộc thám hiểm sông Mê Kông tại khu vực Đông Nam Á cũng như vì chiến dịch quân sự do ông chỉ huy ở Bắc Kỳ năm 1873.

Francis Garnier bị giết tại Ô Cầu Giấy ngày 21 tháng 12, 1873 bởi quân của tướng Cờ đen Lưu Vĩnh Phúc. 

[NCT]
Nguồn hình: manhhai.
Saigon - Tượng đài Francis Garnier.

Marie Joseph François (Francis) Garnier (25/7/1835? - 21/12/1873) là một sĩ quan người Pháp và đồng thời là một nhà thám hiểm, được biết đến vì cuộc thám hiểm sông Mê Kông tại khu vực Đông Nam Á cũng như vì chiến dịch quân sự do ông chỉ huy ở Bắc Kỳ năm 1873.

Francis Garnier bị giết tại Ô Cầu Giấy ngày 21 tháng 12, 1873 bởi quân của tướng Cờ đen Lưu Vĩnh Phúc.

[NCT]
Nguồn hình: manhhai.
Saigon - Tượng đài Chiến sĩ Trận vong Đại chiến Thế giới lần thứ nhất (1914-1918).

Tượng đài ba binh sỹ Pháp bị giật sập năm 1956. Vị trí của Công trường chiến sỹ trong hình chính là vị trí Hồ con Rùa ngày nay. 

[NCT]
Nguồn hình: manhhai.
Saigon - Tượng đài Chiến sĩ Trận vong Đại chiến Thế giới lần thứ nhất (1914-1918).

Tượng đài ba binh sỹ Pháp bị giật sập năm 1956. Vị trí của Công trường chiến sỹ trong hình chính là vị trí Hồ con Rùa ngày nay.

[NCT]
Nguồn hình: manhhai.
Saigon - Công trường chiến sĩ trận vong với tượng đài ba binh sỹ Pháp bằng đồng và một hồ nước nhỏ được xây dựng năm 1927 để tưởng niệm lính Pháp và lính Đông Dương chết trong thế chiến thứ nhất. Tượng đài ba binh sỹ Pháp bị giật sập năm 1956. Vị trí của Công trường chiến sỹ trong hình chính là vị trí Hồ con Rùa ngày nay.

[NCT]
Nguồn hình: manhhai.
Saigon - Công trường chiến sĩ trận vong với tượng đài ba binh sỹ Pháp bằng đồng và một hồ nước nhỏ được xây dựng năm 1927 để tưởng niệm lính Pháp và lính Đông Dương chết trong thế chiến thứ nhất. Tượng đài ba binh sỹ Pháp bị giật sập năm 1956. Vị trí của Công trường chiến sỹ trong hình chính là vị trí Hồ con Rùa ngày nay.

[NCT]
Nguồn hình: manhhai.
Saigon 1972 - Hồ con rùa và hình con rùa thuở còn nguyên vẹn.

Con rùa trong hình là lời giải đáp cho câu hỏi của nhiều bạn "Tại sao hồ Con Rùa hổng có con rùa nào hết?!"

Công trình xây dựng tại vòng xoay hồ con rùa là Đài kỷ niệm Viện trợ Quốc tế cho Việt Nam Cộng Hòa tức miền Nam VN trước năm 1975. Tháp cao nhất ở giữa nhìn như một bông hoa chính là hình ảnh cách điệu của những bàn tay đón nhận viện trợ. Bia trên lưng rùa một mặt thì khắc câu tri ân các quốc gia đã viện trợ, một mặt khắc tên tất cả các nước đó.

Con rùa được làm bằng lá đồng mỏng, ốp trên khung sườn bằng thép góc và thép lá. Vì vậy không tốn kém mấy về vật liệu và dễ thực hiện (giống như tượng Nữ thần Tự do bên Mỹ).

[NCT]
Nguồn hình: manhhai.
Saigon 1972 - Hồ con rùa và hình con rùa thuở còn nguyên vẹn.

Con rùa trong hình là lời giải đáp cho câu hỏi của nhiều bạn "Tại sao hồ Con Rùa hổng có con rùa nào hết?!"

Công trình xây dựng tại vòng xoay hồ con rùa là Đài kỷ niệm Viện trợ Quốc tế cho Việt Nam Cộng Hòa tức miền Nam VN trước năm 1975. Tháp cao nhất ở giữa nhìn như một bông hoa chính là hình ảnh cách điệu của những bàn tay đón nhận viện trợ. Bia trên lưng rùa một mặt thì khắc câu tri ân các quốc gia đã viện trợ, một mặt khắc tên tất cả các nước đó.

Con rùa được làm bằng lá đồng mỏng, ốp trên khung sườn bằng thép góc và thép lá. Vì vậy không tốn kém mấy về vật liệu và dễ thực hiện (giống như tượng Nữ thần Tự do bên Mỹ).

[NCT]
Nguồn hình: manhhai.
Saigon - Tượng linh mục Bá Đa Lộc và Hoàng tử Cảnh phía trước Nhà thờ Đức Bà.

Năm 1903, người Pháp cho dựng tượng đồng Pigneau de Béhaine (còn gọi là Giám mục Bá Đa Lộc hoặc Giám mục Adran vì vị này làm Giám mục hiệu tòa Adran) dẫn hoàng tử Cảnh (con vua Gia Long) để ca ngợi công lao của nước Pháp "bảo hộ", "khai hóa" cho Việt Nam. Tượng đài này bao gồm một bệ bằng đá hoa cương đỏ hình trụ tròn và bên trên là bức tượng tạc hình Giám mục Adran với phẩm phục giám mục, tay trái dẫn hoàng tử Cảnh, tay phải cầm Hiệp ước Versailles năm 1787.

[NCT]
Nguồn hình: wikipedia.org
Saigon - Tượng linh mục Bá Đa Lộc và Hoàng tử Cảnh phía trước Nhà thờ Đức Bà.

Năm 1903, người Pháp cho dựng tượng đồng Pigneau de Béhaine (còn gọi là Giám mục Bá Đa Lộc hoặc Giám mục Adran vì vị này làm Giám mục hiệu tòa Adran) dẫn hoàng tử Cảnh (con vua Gia Long) để ca ngợi công lao của nước Pháp "bảo hộ", "khai hóa" cho Việt Nam. Tượng đài này bao gồm một bệ bằng đá hoa cương đỏ hình trụ tròn và bên trên là bức tượng tạc hình Giám mục Adran với phẩm phục giám mục, tay trái dẫn hoàng tử Cảnh, tay phải cầm Hiệp ước Versailles năm 1787.

[NCT]
Nguồn hình: wikipedia.org
Saigon - Tượng Đức Mẹ Hòa Bình.

Năm 1958, Linh mục Phạm Văn Thiên, người cai quản giáo xứ Saigon lúc bấy giờ, sau 1 chuyến đi sang Ý, đã đặt 1 đức tượng Đức Mẹ Hoà Bình bằng đá cẩm thạch Carrara của Ý. Nơi tạc bức tượng là Pietrasanta, cách Rome 500km. 

Tượng hoàn tất và được đưa xuống tàu ngày 8.01.1959, tới Saigon vào ngày 15.02.1959.

[NCT]
Nguồn hình: wikimedia.org
Saigon - Tượng Đức Mẹ Hòa Bình.

Năm 1958, Linh mục Phạm Văn Thiên, người cai quản giáo xứ Saigon lúc bấy giờ, sau 1 chuyến đi sang Ý, đã đặt 1 đức tượng Đức Mẹ Hoà Bình bằng đá cẩm thạch Carrara của Ý. Nơi tạc bức tượng là Pietrasanta, cách Rome 500km.

Tượng hoàn tất và được đưa xuống tàu ngày 8.01.1959, tới Saigon vào ngày 15.02.1959.

[NCT]
Nguồn hình: wikimedia.org
Saigon 1969 - Tượng nhà bác học Trương Vĩnh Ký phía sau Nhà thờ Đức Bà Saigon. Hiện nay, tượng này đã được di dời về trong khuôn viên của Bảo tàng Mỹ thuật thành phố trên đường Phó Đức Chính.

Trương Vĩnh Ký (1837 – 1898) vốn có tên khai sanh là Jean Baptiste Trương Chánh Ký, sau mới đổi là Trương Vĩnh Ký, thường gọi là Pétrus Ký, hiệu là Sĩ Tải. Ông có tri thức uyên bác, am tường và có cống hiến lớn trên nhiều lĩnh vực văn hóa cổ kim Đông Tây, nên đương thời ông được giới học thuật Châu Âu liệt vào 18 nhà bác học trên thế giới. Ngoài ra, vì biết và sử dụng thông thạo 27 ngoại ngữ, nên ông trở thành nhà bác học biết nhiều thứ tiếng nhất ở Việt Nam, và đứng vào hàng những người biết nhiều ngoại ngữ bậc nhất trên thế giới. Ông là người khai sanh ra tờ "Gia Định báo" - tờ báo bằng chữ quốc ngữ đầu tiên của Việt Nam.

Hiện Sài Gòn Năm Xưa vẫn chưa rõ bực tượng Trương Vĩnh Ký được xây dựng vào thời gian nào, mong quý bạn đóng góp thêm thông tin để bài này được đầy đủ hơn.

Tái bút: Nhằm giúp quý bạn dễ dàng trong việc theo dõi bài và tra cứu thông tin từ fanpage, SGNX sẽ tiến hành đăng và tổng hợp lại các thông tin thành những chủ đề nhỏ, và các bài đó trong cùng chủ đề sẽ được tập hợp trong một album. Album hình sẽ được SGNX tổng hợp và cho đăng lên vào một trong hai ngày cuối tuần: thứ 7 và chủ nhật. Chủ đề của tuần này là "Tượng đài ở Saigon xưa". Mong quý bạn của trang nhà đón theo dõi!

[NCT]
Nguồn hình: manhhai.
Saigon 1969 - Tượng nhà bác học Trương Vĩnh Ký phía sau Nhà thờ Đức Bà Saigon. Hiện nay, tượng này đã được di dời về trong khuôn viên của Bảo tàng Mỹ thuật thành phố trên đường Phó Đức Chính.

Trương Vĩnh Ký (1837 – 1898) vốn có tên khai sanh là Jean Baptiste Trương Chánh Ký, sau mới đổi là Trương Vĩnh Ký, thường gọi là Pétrus Ký, hiệu là Sĩ Tải. Ông có tri thức uyên bác, am tường và có cống hiến lớn trên nhiều lĩnh vực văn hóa cổ kim Đông Tây, nên đương thời ông được giới học thuật Châu Âu liệt vào 18 nhà bác học trên thế giới. Ngoài ra, vì biết và sử dụng thông thạo 27 ngoại ngữ, nên ông trở thành nhà bác học biết nhiều thứ tiếng nhất ở Việt Nam, và đứng vào hàng những người biết nhiều ngoại ngữ bậc nhất trên thế giới. Ông là người khai sanh ra tờ "Gia Định báo" - tờ báo bằng chữ quốc ngữ đầu tiên của Việt Nam.

Hiện Sài Gòn Năm Xưa vẫn chưa rõ bực tượng Trương Vĩnh Ký được xây dựng vào thời gian nào, mong quý bạn đóng góp thêm thông tin để bài này được đầy đủ hơn.

Tái bút: Nhằm giúp quý bạn dễ dàng trong việc theo dõi bài và tra cứu thông tin từ fanpage, SGNX sẽ tiến hành đăng và tổng hợp lại các thông tin thành những chủ đề nhỏ, và các bài đó trong cùng chủ đề sẽ được tập hợp trong một album. Album hình sẽ được SGNX tổng hợp và cho đăng lên vào một trong hai ngày cuối tuần: thứ 7 và chủ nhật. Chủ đề của tuần này là "Tượng đài ở Saigon xưa". Mong quý bạn của trang nhà đón theo dõi!

[NCT]
Nguồn hình: manhhai.
Saigon 1968 - Tượng đài "Chiến sĩ Vô danh" giữa ngã tư Hồng Bàng-Tổng Đốc Phương.

[NCT]
Nguồn hình: manhhai.
Saigon 1968 - Tượng đài "Chiến sĩ Vô danh" giữa ngã tư Hồng Bàng-Tổng Đốc Phương.

[NCT]
Nguồn hình: manhhai.
Saigon 1971 - Tượng đài Thủy quân lục chiến trên đường Lê Lợi xưa.

[NCT]
Nguồn hình: manhhai.
Saigon 1971 - Tượng đài Thủy quân lục chiến trên đường Lê Lợi xưa.

[NCT]
Nguồn hình: manhhai.
Saigon 1969 - Tượng Phù Đổng Thiên Vương, Thánh tổ Binh chủng Thiết giáp, Quân đội Việt Nam Cộng hòa.

Sở dĩ Pù Đổng Thiên Vương được suy tôn là thánh tổ Thiết giáp vì truyền thuyết ông mặc áo giáp sắt, cưỡi ngựa sắt ra trận đánh tan giặc Ân.

[NCT]
Nguồn hình: manhhai.
Saigon 1969 - Tượng Phù Đổng Thiên Vương, Thánh tổ Binh chủng Thiết giáp, Quân đội Việt Nam Cộng hòa.

Sở dĩ Pù Đổng Thiên Vương được suy tôn là thánh tổ Thiết giáp vì truyền thuyết ông mặc áo giáp sắt, cưỡi ngựa sắt ra trận đánh tan giặc Ân.

[NCT]
Nguồn hình: manhhai.
Tượng đài An Dương Vương trong lúc đang thi công.

An Dương Vương được suy tôn là Thánh tổ của lực lượng Pháo binh, quân lực Việt Nam Cộng hòa.

Sở dĩ người ta suy tôn An Dương Vương là Thánh tổ Pháo binh là dựa vào truyền thuyết Nỏ thần. Trên thực tế, kỹ thuật bắn ra nhiều mũi tên cùng lúc là thật chứ không phải là hư cấu. Thời An Dương Vương, xuất hiện nỏ liên châu do tướng quân Cao Lỗ chế tạo. Khi Triệu Đà cho quân xâm lược Âu Lạc, chúng đã bị các tay nỏ liên châu bắn tên ra như mưa, thây chết đầy nội và phải lui binh.
Đương thời, nỏ liên châu trở thành thứ vũ khí thần dũng vô địch của nước Âu Lạc.

[NCT]
Nguồn hình: manhhai.
Tượng đài An Dương Vương trong lúc đang thi công.

An Dương Vương được suy tôn là Thánh tổ của lực lượng Pháo binh, quân lực Việt Nam Cộng hòa.

Sở dĩ người ta suy tôn An Dương Vương là Thánh tổ Pháo binh là dựa vào truyền thuyết Nỏ thần. Trên thực tế, kỹ thuật bắn ra nhiều mũi tên cùng lúc là thật chứ không phải là hư cấu. Thời An Dương Vương, xuất hiện nỏ liên châu do tướng quân Cao Lỗ chế tạo. Khi Triệu Đà cho quân xâm lược Âu Lạc, chúng đã bị các tay nỏ liên châu bắn tên ra như mưa, thây chết đầy nội và phải lui binh.
Đương thời, nỏ liên châu trở thành thứ vũ khí thần dũng vô địch của nước Âu Lạc.

[NCT]
Nguồn hình: manhhai.
Saigon 1970 - Khu vực ngã sáu Nguyễn Tri Phương với tượng đài An Dương Vương phía trên cột đá. Công trình này được xây dựng dựa trên cảm hứng từ Quảng trường Trafgalar (Trafgalar Square) ở London. (Hình ảnh Quảng trường Trafgalar sẽ được cung cấp phía dưới comment.)

Photo by Jerry Bosworth.

[NCT]
Nguồn hình: manhhai.

Tái bút: Hôm nay cũng là tròn 2 năm ngày Sài Gòn Năm Xưa được thành lập. Ban Quản trị SGNX xin cảm ơn tất cả các thành viên đã theo dõi và ủng hộ cho SGNX trong suốt thời gian vừa qua.
Saigon 1970 - Khu vực ngã sáu Nguyễn Tri Phương với tượng đài An Dương Vương phía trên cột đá. Công trình này được xây dựng dựa trên cảm hứng từ Quảng trường Trafgalar (Trafgalar Square) ở London. (Hình ảnh Quảng trường Trafgalar sẽ được cung cấp phía dưới comment.)

Photo by Jerry Bosworth.

[NCT]
Nguồn hình: manhhai.

Tái bút: Hôm nay cũng là tròn 2 năm ngày Sài Gòn Năm Xưa được thành lập. Ban Quản trị SGNX xin cảm ơn tất cả các thành viên đã theo dõi và ủng hộ cho SGNX trong suốt thời gian vừa qua.
Tượng tướng Trần Nguyên Hãn tại vòng xoay Quách Thị Trang.

Trần Nguyễn Hãn được coi như là thánh tổ của Binh chủng Truyền Tin Quân Đội VNCH. Bức tượng này cũng là do Binh chủng Truyền Tin đắp nên.

Trần Nguyên Hãn là con cháu nhà Trần, cháu ruột của Trần Nguyên Đán, dòng dõi Thượng tướng Trần Quang Khải, anh em (con cô, con cậu) với Nguyễn Trãi. Ông quê ở xã Sơn Đông (nay thuộc huyện Lập Thạnh, Vĩnh Phúc), lập nhiều công nên khi xét công lao ông được đứng hàng đầu với chức Tả tướng quốc. Trong thời gian kháng chiến, Trần Nguyên Hãn đã dùng những chú chim bồ câu mà ông nuôi dưỡng, huấn luyện để chuyển thư qua lại với chủ tướng Lê Lợi và các đầu mối quân sự khác. Có lần khi đang đóng quân trấn giữ thành Võ Ninh thì bị quân Minh kéo đến vây chặt, tình thế rất nguy khốn, Trần Nguyên Hãn đã viết thư cầu cứu rồi buộc vào chân chim. Nhờ thư do chim câu mang đến, Bình Định Vương Lê Lợi biết được tình hình liền lập tức cho quân tiếp viện đến Võ Ninh phá vỡ vòng vây giải cứu. - Trích vtc.vn

[NCT]
Nguồn hình: manhhai.
Tượng tướng Trần Nguyên Hãn tại vòng xoay Quách Thị Trang.

Trần Nguyễn Hãn được coi như là thánh tổ của Binh chủng Truyền Tin Quân Đội VNCH. Bức tượng này cũng là do Binh chủng Truyền Tin đắp nên.

Trần Nguyên Hãn là con cháu nhà Trần, cháu ruột của Trần Nguyên Đán, dòng dõi Thượng tướng Trần Quang Khải, anh em (con cô, con cậu) với Nguyễn Trãi. Ông quê ở xã Sơn Đông (nay thuộc huyện Lập Thạnh, Vĩnh Phúc), lập nhiều công nên khi xét công lao ông được đứng hàng đầu với chức Tả tướng quốc. Trong thời gian kháng chiến, Trần Nguyên Hãn đã dùng những chú chim bồ câu mà ông nuôi dưỡng, huấn luyện để chuyển thư qua lại với chủ tướng Lê Lợi và các đầu mối quân sự khác. Có lần khi đang đóng quân trấn giữ thành Võ Ninh thì bị quân Minh kéo đến vây chặt, tình thế rất nguy khốn, Trần Nguyên Hãn đã viết thư cầu cứu rồi buộc vào chân chim. Nhờ thư do chim câu mang đến, Bình Định Vương Lê Lợi biết được tình hình liền lập tức cho quân tiếp viện đến Võ Ninh phá vỡ vòng vây giải cứu. - Trích vtc.vn

[NCT]
Nguồn hình: manhhai.
Saigon 1971 - Tượng An DươngVương trước Hội trường Diên Hồng, Bến Chương Dương.

Tượng này ngày nay được đặt tại Bảo tàng Mỹ thuật thành phố - nhà chú Hỏa. Chỉ cần đi dọc đường Phó Đức Chính là bạn có thể thấy bức tượng này.

[NCT]
Nguồn hình: manhhai.
Saigon 1971 - Tượng An DươngVương trước Hội trường Diên Hồng, Bến Chương Dương.

Tượng này ngày nay được đặt tại Bảo tàng Mỹ thuật thành phố - nhà chú Hỏa. Chỉ cần đi dọc đường Phó Đức Chính là bạn có thể thấy bức tượng này.

[NCT]
Nguồn hình: manhhai.
Tượng ông Quách Diệm trong khuôn viên Bảo tàng Mỹ thuật thành phố - đường Phó Đức Chính.

Thực ra, ông Quách Đàm - người có công xây dựng chợ Bình Tây - lại không phải tên là Đàm. Tên thật của ông chính xác là Diễm (hay cũng gọi là Diệm).

Về sự lầm lẫn này có thể từ một trong hai nguyên nhân: một là nhìn lầm mặt chữ, có thể là do người Việt đầu tiên đã sơ ý nhìn chữ Diệm ra chữ Đàm rồi phiên âm sai, vì chữ Diệm dễ lầm với mấy chữ Đàm như sau: (đàm, viết lối hành thư),  (đàm), (đàm), (đàm); hai là nghe lầm âm, việc này có thể do người Pháp ký âm và viết tên Quách Diệm là Quach Dam (Quach-dam) bởi nghe người Triều Châu phát âm Diệm là “iam”, gần như âm Đàm.

Trên những văn bản chữ Hán do các học giả Hoa kiều ở Chợ Lớn như Lý Văn Hùng, Thi Đạt Chí... viết trong khoảng 1950-1960 đều viết Quách Diệm, trong Hoa kiều chí - Việt Nam (Đài Bắc, 1958) và Quảng Đông tỉnh chí - Hoa kiều chí (1996) đều viết tên là Diệm, tiểu sử nhân vật này trong các sách kể trên đều không nói Quách Diệm còn có tên khác là Đàm.

Tượng Quách Diệm xưa được đặt ngay giữa chợ Bình Tây, sau năm 75 tượng bị cất trong một nhà kho của Phòng văn hoá thông tin quận 6, tới năm 2003 thì được đem trưng bày tại Bảo tàng Mỹ thuật cho tới nay.

[NCT]
Nguồn hình: nguoiduatin.vn
Tượng ông Quách Diệm trong khuôn viên Bảo tàng Mỹ thuật thành phố - đường Phó Đức Chính.

Thực ra, ông Quách Đàm - người có công xây dựng chợ Bình Tây - lại không phải tên là Đàm. Tên thật của ông chính xác là Diễm (hay cũng gọi là Diệm).

Về sự lầm lẫn này có thể từ một trong hai nguyên nhân: một là nhìn lầm mặt chữ, có thể là do người Việt đầu tiên đã sơ ý nhìn chữ Diệm ra chữ Đàm rồi phiên âm sai, vì chữ Diệm dễ lầm với mấy chữ Đàm như sau: (đàm, viết lối hành thư), (đàm), (đàm), (đàm); hai là nghe lầm âm, việc này có thể do người Pháp ký âm và viết tên Quách Diệm là Quach Dam (Quach-dam) bởi nghe người Triều Châu phát âm Diệm là “iam”, gần như âm Đàm.

Trên những văn bản chữ Hán do các học giả Hoa kiều ở Chợ Lớn như Lý Văn Hùng, Thi Đạt Chí... viết trong khoảng 1950-1960 đều viết Quách Diệm, trong Hoa kiều chí - Việt Nam (Đài Bắc, 1958) và Quảng Đông tỉnh chí - Hoa kiều chí (1996) đều viết tên là Diệm, tiểu sử nhân vật này trong các sách kể trên đều không nói Quách Diệm còn có tên khác là Đàm.

Tượng Quách Diệm xưa được đặt ngay giữa chợ Bình Tây, sau năm 75 tượng bị cất trong một nhà kho của Phòng văn hoá thông tin quận 6, tới năm 2003 thì được đem trưng bày tại Bảo tàng Mỹ thuật cho tới nay.

[NCT]
Nguồn hình: nguoiduatin.vn
Saigon 1953-1954 - Thánh lễ diễn ra tại một nhà thờ ở vùng đất Gia Định những năm 1953-1954.

Bức tượng trong hình là tượng của Tổng lãnh thiên thần Micae - thánh tổ của Binh chủng nhảy dù xưa.

[NCT]
Nguồn hình: Sài Gòn Xưa & Nay.
Saigon 1953-1954 - Thánh lễ diễn ra tại một nhà thờ ở vùng đất Gia Định những năm 1953-1954.

Bức tượng trong hình là tượng của Tổng lãnh thiên thần Micae - thánh tổ của Binh chủng nhảy dù xưa.

[NCT]
Nguồn hình: Sài Gòn Xưa & Nay.
Sài Gòn 1960s - Bưu điện Chợ Lớn.

Trong hình là Bưu điện trung tâm của Chợ Lớn. Ngôi nhà nơi toạ lạc bưu điện trước đây là vị trí của Chợ Lớn cũ, sau này do chợ cũ quá chật hẹp nên người Pháp cho xây chợ mới - chợ Bình Tây ngày nay.

Ngoài ra, trong hình ta còn thấy có 1 tượng đài. Đó là tượng của Phan Đình Phùng - lãnh đạo cuộc khởi nghĩa Hương Khê (1885-1896) trong phong trào Cần Vương chống Pháp ở cuối thế kỷ 19 trong lịch sử Việt Nam.

Phan Đình Phùng còn được coi là Thánh tổ Quân cụ vì vào năm 1887, Cao Thắng - người tùy tướng tài ba lỗi lạc của Phan Đình Phùng - sau mấy tháng trời lao động, đã chế tạo được súng đạn đánh Pháp, đặc biệt là súng trường kiểu “1874”.

[NCT]
Nguồn hình: Skyscrappercity.com
Sài Gòn 1960s - Bưu điện Chợ Lớn.

Trong hình là Bưu điện trung tâm của Chợ Lớn. Ngôi nhà nơi toạ lạc bưu điện trước đây là vị trí của Chợ Lớn cũ, sau này do chợ cũ quá chật hẹp nên người Pháp cho xây chợ mới - chợ Bình Tây ngày nay.

Ngoài ra, trong hình ta còn thấy có 1 tượng đài. Đó là tượng của Phan Đình Phùng - lãnh đạo cuộc khởi nghĩa Hương Khê (1885-1896) trong phong trào Cần Vương chống Pháp ở cuối thế kỷ 19 trong lịch sử Việt Nam.

Phan Đình Phùng còn được coi là Thánh tổ Quân cụ vì vào năm 1887, Cao Thắng - người tùy tướng tài ba lỗi lạc của Phan Đình Phùng - sau mấy tháng trời lao động, đã chế tạo được súng đạn đánh Pháp, đặc biệt là súng trường kiểu “1874”.

[NCT]
Nguồn hình: Skyscrappercity.com
Saigon 1963 - Tượng Hai Bà Trưng ở Công trường Mê Linh bị người dân giật sập sau sự kiện đảo chính.

[NCT]
Nguồn hình: manhhai.
Saigon 1963 - Tượng Hai Bà Trưng ở Công trường Mê Linh bị người dân giật sập sau sự kiện đảo chính.

[NCT]
Nguồn hình: manhhai.
Saigon 1966 - Cột đá tại công trường Mê Linh.

Trước khi xảy ra sự kiện đảo chính vào năm 1963, trên cột đá này có đặt tượng Hai Bà Trưng, được đúc bởi lệnh của Đệ nhất phu nhân Trần Lệ Xuân. 

Sau khi đảo chính, tượng Hai Bà Trưng bị giật đổ vì người ta cho rằng đây chính bà Xuân lấy hình mẫu hai mẹ con mình để đúc nên tượng Hai Bà Trưng.

Năm 1967, Binh chủng Hải quân Việt Nam Cộng hòa cho dựng tượng Trần Hưng Đạo tại vị trí này.

[NCT]
Nguồn hình: manhhai.
Saigon 1966 - Cột đá tại công trường Mê Linh.

Trước khi xảy ra sự kiện đảo chính vào năm 1963, trên cột đá này có đặt tượng Hai Bà Trưng, được đúc bởi lệnh của Đệ nhất phu nhân Trần Lệ Xuân.

Sau khi đảo chính, tượng Hai Bà Trưng bị giật đổ vì người ta cho rằng đây chính bà Xuân lấy hình mẫu hai mẹ con mình để đúc nên tượng Hai Bà Trưng.

Năm 1967, Binh chủng Hải quân Việt Nam Cộng hòa cho dựng tượng Trần Hưng Đạo tại vị trí này.

[NCT]
Nguồn hình: manhhai.
Saigon - Các đoàn viên của tổ chức Thanh nữ Cộng hòa diễu hành ngang qua tượng Hai Bà Trưng tại Công trường Mê Linh.

Tượng Hai Bà Trưng được xây dựng dưới sự chỉ đạo của bà Trần Lệ Xuân, người ta đồn đại rằng bức tượng này được tạc dựa trên hình mẫu của hai mẹ con bà Xuân. Sau sự kiện đảo chính 1963, người ta đã cho giật sập bức tượng này. Sau đó, tại vị trí này, vào năm 1967, binh chủng Hải quân Việt Nam Cộng hòa cho xây dựng tượng tướng quân Trần Hưng Đạo như ngày nay.

[NCT]
Nguồn hình: manhhai.
Saigon - Các đoàn viên của tổ chức Thanh nữ Cộng hòa diễu hành ngang qua tượng Hai Bà Trưng tại Công trường Mê Linh.

Tượng Hai Bà Trưng được xây dựng dưới sự chỉ đạo của bà Trần Lệ Xuân, người ta đồn đại rằng bức tượng này được tạc dựa trên hình mẫu của hai mẹ con bà Xuân. Sau sự kiện đảo chính 1963, người ta đã cho giật sập bức tượng này. Sau đó, tại vị trí này, vào năm 1967, binh chủng Hải quân Việt Nam Cộng hòa cho xây dựng tượng tướng quân Trần Hưng Đạo như ngày nay.

[NCT]
Nguồn hình: manhhai.
Saigon - Tượng Đức thánh Trần Hưng Đạo tại Công trường Mê Linh.

Trần Hưng Đạo (1228 - 1300), còn được gọi là Hưng Đạo Vương, tên thật là Trần Quốc Tuấn; là nhà chính trị, nhà quân sự kiệt xuất, và là nhà văn Việt Nam thời Trần. Ngài được suy tôn là Thánh tổ của Hải quân Việt Nam Cộng hòa.

Vấn đề tại sao người xưa chọn Trần Hưng Đạo là Thánh tổ Hải quân vẫn là một dấu hỏi lớn, tuy nhiên chiến thắng Bạch Đằng Giang (1288) đã cho thấy tài cầm quân kiệt xuất của ngài Quốc công Tiết chế Trần Hưng Đạo, đặc biệt là trong thủy chiến.

Năm 1984, Hội đồng khoa học Hoàng gia Anh đã đưa ông vào danh sách 10 vị tướng xuất sắc nhất của thế giới.

Tượng Trần Hưng Đạo tại Công trường Mê Linh là hình ảnh vị Đại tướng trong y phục võ tướng, một tay tỳ lên độc kiếm, một tay chỉ xuống lòng sông và nói : "Phen này nếu ta không phá xong giặc Nguyên, thề không trở lại khúc sông này nữa".

[NCT]
Nguồn hình: Skyscrappercity.com
Saigon - Tượng Đức thánh Trần Hưng Đạo tại Công trường Mê Linh.

Trần Hưng Đạo (1228 - 1300), còn được gọi là Hưng Đạo Vương, tên thật là Trần Quốc Tuấn; là nhà chính trị, nhà quân sự kiệt xuất, và là nhà văn Việt Nam thời Trần. Ngài được suy tôn là Thánh tổ của Hải quân Việt Nam Cộng hòa.

Vấn đề tại sao người xưa chọn Trần Hưng Đạo là Thánh tổ Hải quân vẫn là một dấu hỏi lớn, tuy nhiên chiến thắng Bạch Đằng Giang (1288) đã cho thấy tài cầm quân kiệt xuất của ngài Quốc công Tiết chế Trần Hưng Đạo, đặc biệt là trong thủy chiến.

Năm 1984, Hội đồng khoa học Hoàng gia Anh đã đưa ông vào danh sách 10 vị tướng xuất sắc nhất của thế giới.

Tượng Trần Hưng Đạo tại Công trường Mê Linh là hình ảnh vị Đại tướng trong y phục võ tướng, một tay tỳ lên độc kiếm, một tay chỉ xuống lòng sông và nói : "Phen này nếu ta không phá xong giặc Nguyên, thề không trở lại khúc sông này nữa".

[NCT]
Nguồn hình: Skyscrappercity.com
Saigon xưa - Tượng voi đồng trong Sở thú Saigon.

Tượng con voi bằng đồng trong Sở thú do vua Xiêm-La (Thái Lan) Paramindr Mah Prajahhipok tặng nhân dịp ngài đến thăm Sài Gòn. Tượng đặt tại đây ngày 14-4-1930. Hiện nay, tượng này vẫn còn nằm trong khuôn viên Sở thú nhưng vị trí thì hơi khác một chút so với ban đầu.

[NCT]
Nguồn hình: manhhai.
Saigon xưa - Tượng voi đồng trong Sở thú Saigon.

Tượng con voi bằng đồng trong Sở thú do vua Xiêm-La (Thái Lan) Paramindr Mah Prajahhipok tặng nhân dịp ngài đến thăm Sài Gòn. Tượng đặt tại đây ngày 14-4-1930. Hiện nay, tượng này vẫn còn nằm trong khuôn viên Sở thú nhưng vị trí thì hơi khác một chút so với ban đầu.

[NCT]
Nguồn hình: manhhai.
Saigon 1967-1968 - Tượng đài "Tổ quốc - Không gian" phía trước Tòa Đô chánh.

Năm 1967, trong đợt xây dựng các tượng đài biểu trưng của các binh chủng thuộc Quân lực Việt Nam Cộng Hòa, binh chủng Không quân đã cho dựng nên một tác phẩm điêu khắc kỷ hà để nói lên tinh thần bảo vệ vùng trời và Tổ quốc. 

Tượng đài bị dỡ đi sau 1975 nhưng không rõ tung tích.

[NCT]
Nguồn hình: manhhai.
Saigon 1967-1968 - Tượng đài "Tổ quốc - Không gian" phía trước Tòa Đô chánh.

Năm 1967, trong đợt xây dựng các tượng đài biểu trưng của các binh chủng thuộc Quân lực Việt Nam Cộng Hòa, binh chủng Không quân đã cho dựng nên một tác phẩm điêu khắc kỷ hà để nói lên tinh thần bảo vệ vùng trời và Tổ quốc.

Tượng đài bị dỡ đi sau 1975 nhưng không rõ tung tích.

[NCT]
Nguồn hình: manhhai.
Saigon 1966 - Tượng đài An Dương Vương.

Tượng này lúc xưa đặt tại Bến Chương Dương, trước Hội trường Diên Hồng. Ngày nay, người ta đã dời tượng này về trong khuôn viên của Bảo tàng Mỹ thuật.

[NCT]
Nguồn hình: manhhai.
Saigon 1966 - Tượng đài An Dương Vương.

Tượng này lúc xưa đặt tại Bến Chương Dương, trước Hội trường Diên Hồng. Ngày nay, người ta đã dời tượng này về trong khuôn viên của Bảo tàng Mỹ thuật.

[NCT]
Nguồn hình: manhhai.

Xem Thêm