Bộ tranh Triều đình Huế (1895) và những bức họa lễ phục Nam Giao

Nguyễn Văn Nhân là người ở phường Kim Liên, tổng Kim Liên, huyện Vĩnh Thuận, phủ Hoài Đức, tỉnh Hà Nội. Ông sinh khoảng 1840, là nghệ nhân truyền thần và trang trí, làm chức Kí lục (có thể là chuyên viên chuyên trách nghề vẽ) tại Tòa khâm sứ Trung kỳ cho đến lúc hồi hưu vào năm 1900 (khoảng 60 tuổi). Sau đó tiếp tục cộng tác với học giả L. Cadière trong vai trò người khởi xướng ý tưởng và được giao nhiệm vụ phụ trách phần đồ họa chuyên đề l’Art à Hué cho tập san Hội những người bạn Cố đô Huế (Bulletin des Amis du Vieux Hué – BAVH) do L. Cadière điều phối. Nguyễn Văn Nhân qua đời trước khi tuyển tập đồ họa này được xuất bản, năm 1919.

Nguyễn Văn Nhân có thể được xem là nghệ nhân thuộc thế hệ đầu tiên tiếp xúc với nghệ thuật phương Tây một cách tự phát bằng ý thức tự học thông qua môi trường công vụ đặc thù. Và là người đầu tiên ứng dụng các kỹ thuật tạo hình phương Tây kết hợp với truyền thống vẽ truyền thần bản địa, và bước đầu đạt được những thành tựu đáng trân trọng qua các tác phẩm hiện đang được lưu giữ.

Tác phẩm chính: chân dung thiền sư Linh Cơ, thiền sư Phước Chỉ, chân dung Phạm Phú Thứ v.v., bộ tranh Triều đình Huế (la Cour de Hué), bộ tranh Đại lễ phục triều đình An Nam (Grande Tenue de la Cour d’Annam ) gồm 54 bức… Các tác phẩm này hiện đang được tiếp tục khảo sát, nghiên cứu để minh định các vấn đề liên quan.

Bộ tranh “Triều đình Huế” này nằm trong chuyên đề tư liệu lịch sử được Nguyễn Văn Nhân (NVN) vẽ năm 1895, tức trước bộ tranh “Đại lễ phục triều đình An Nam” (la Grande tenue de la Cour d’Annam) 7 năm (tháng 12 năm 1902). Chắc chắn rằng, bộ tranh không chỉ gồm sáu (6) bức như hiện đang được trưng bày tại Viện bảo tàng Lịch sử Việt Nam, Hà Nội. Bởi lẽ, với đề tài “Triều đình Huế” ông không thể chỉ vẽ 4 bộ (thay vì 6 bộ), và ngoài Viện Cơ mật còn có Tôn nhơn phủ, Viện Đô sát, Quang lộc tự, Thái thường tự… cùng các cơ quan cơ yếu khác; đồng thời, lễ Phục mạng cũng chỉ là một lễ thường trong rất nhiều nghi thức quan trọng khác của triều đình nhà Nguyễn. Do đó, khi đối chiếu với bộ tranh hoàn chỉnh về đề tài Đại lễ phục gồm có tới 54 bức, cho thấy có khả năng đây là một mảng đề tài lớn khác của NVN, tuy nhiên đã bị thất tán và chưa được sưu tập đầy đủ.

Cùng bút pháp hiện thực quen thuộc dễ nhận thấy như trong Đại lễ phục triều đình An Nam, ở bộ tranh này, NVN đã sử dụng thủ pháp ước lệ để dễ dàng miêu tả công việc đặc thù của các cơ quan. Chẳng hạn, Bộ Công thợ thuyền đứng, ngồi cưa xẻ chạm trổ vật liệu dùng trong xây dựng; Bộ Hộ tấp nập thương nhân vào ra giao dịch tài chánh thuế khóa; Bộ Lễ trưng bày áo mão cân đai, vật phẩm cúng tế... Một điểm thú vị khác, NVN ngoài việc miêu tả tư liệu, các nhân vật trong tranh ông cũng hiện rõ ràng, sinh động dưới bút pháp truyền thần chân thực của một nghệ nhân bậc thầy. Có thể thấy điều này khi đối chiếu ảnh chân dung của các vị thượng thư đương nhiệm như Trương Như Cương (Bộ Hộ), Đào Tấn (Bộ Công)…

Cuối album là những bức họa thể hiện lễ phục tế Nam Giao thời Nguyễn ( http://soi.com.vn/?p=33200&cat=16 )

Trần Đình Sơn
1. Viện Cơ mật (le Conseil Secret):  Viện Cơ mật được thành lập năm 1835, dưới triều Minh Mạng (1820-1840). Nhà vua đích thân chọn bốn vị quan lớn (văn, võ) từ tam phẩm trở lên sung vào Viện để bàn bạc các việc trọng yếu của đất nước.
1. Viện Cơ mật (le Conseil Secret):
Viện Cơ mật được thành lập năm 1835, dưới triều Minh Mạng (1820-1840). Nhà vua đích thân chọn bốn vị quan lớn (văn, võ) từ tam phẩm trở lên sung vào Viện để bàn bạc các việc trọng yếu của đất nước.
2. Bộ Lại (Ministère de l’Intérieur):  Bộ này có nhiệm vụ quản lý quan lại thuộc ban Văn, có nhiệm vụ bổ dụng, thuyên chuyển, thăng thưởng, khảo sát, phong tước, phong tặng… tương đương Bộ Nội vụ ngày nay.    Cơ cấu lãnh đạo một bộ gồm một quan Thượng thư (bộ trưởng), hai quan Tham tri (thứ trưởng), và hai Thị lang (vụ trưởng), cùng các thuộc viên như Lang trung, Viên ngoại, chủ sự, tư vụ, thư lại.
2. Bộ Lại (Ministère de l’Intérieur):
Bộ này có nhiệm vụ quản lý quan lại thuộc ban Văn, có nhiệm vụ bổ dụng, thuyên chuyển, thăng thưởng, khảo sát, phong tước, phong tặng… tương đương Bộ Nội vụ ngày nay.

Cơ cấu lãnh đạo một bộ gồm một quan Thượng thư (bộ trưởng), hai quan Tham tri (thứ trưởng), và hai Thị lang (vụ trưởng), cùng các thuộc viên như Lang trung, Viên ngoại, chủ sự, tư vụ, thư lại.
3. Bộ Hộ (Ministère des Finances):   Bộ đảm trách công việc tài chánh, thuế khóa, ruộng đất, tiền tệ, kho tàng, lương thực, hóa vật v.v. tương đương Bộ Tài chính ngày nay.
3. Bộ Hộ (Ministère des Finances):
Bộ đảm trách công việc tài chánh, thuế khóa, ruộng đất, tiền tệ, kho tàng, lương thực, hóa vật v.v. tương đương Bộ Tài chính ngày nay.
4. Bộ Lễ (Ministère des Rites):  Bộ chuyên trách về nghi lễ, giáo dục, ngoại giao.
4. Bộ Lễ (Ministère des Rites):
Bộ chuyên trách về nghi lễ, giáo dục, ngoại giao.
5. Bộ Công (Ministère des Traveau publics):  Chuyên trách xây dựng cung điện, thành trì, lăng tẩm; chế tạo tàu thuyền, xe cộ, mua sắm nguyên vật liệu v.v.; tương đương Bộ Xây dựng ngày nay.
5. Bộ Công (Ministère des Traveau publics):
Chuyên trách xây dựng cung điện, thành trì, lăng tẩm; chế tạo tàu thuyền, xe cộ, mua sắm nguyên vật liệu v.v.; tương đương Bộ Xây dựng ngày nay.
6. Lễ Phục mạng (la Cérémonie de Phuc mang):  Miêu tả lễ báo cáo hoàn tất công vụ của một vị quan (khâm sai) trước vua và triều đình. Vị quan này nhận lệnh vua giao phó (khâm mạng), sau khi giải quyết xong phải làm lễ báo cáo đầy đủ (phục mạng), đồng thời hoàn trả các phù, tiết, ấn, kiếm… vua ban để thực thi công vụ. Lễ này thường diễn ra tại sân điện Cần chánh, được cử hành theo nghi thức thường triều.
6. Lễ Phục mạng (la Cérémonie de Phuc mang):
Miêu tả lễ báo cáo hoàn tất công vụ của một vị quan (khâm sai) trước vua và triều đình. Vị quan này nhận lệnh vua giao phó (khâm mạng), sau khi giải quyết xong phải làm lễ báo cáo đầy đủ (phục mạng), đồng thời hoàn trả các phù, tiết, ấn, kiếm… vua ban để thực thi công vụ. Lễ này thường diễn ra tại sân điện Cần chánh, được cử hành theo nghi thức thường triều.
Thượng thư Bộ Công Trương Như Cương   CỤ TRƯƠNG NHƯ CƯƠNG - THƯỢNG THƯ BỘ CÔNG  (Thân phụ Hoàng Quý Phi Trương Thị -Bố vợ vua Khải Định)    Cụ Trương Như Cương (1850 - 1926) là Phụ chánh đại thần dưới triều nhà Nguyễn (các vua Đồng Khánh, Thành Thái và Duy Tân), người quê làng Hiền Lương (làng Rèn), huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên, là nhạc phụ của vua Khải Định.    Năm 1873 ông thi đỗ Cử nhân, được sơ bổ Thừa biện tàng thư, sau đó được thăng Tư vụ, Viên ngoại, rồi lên chức Tri phủ, Án sát tỉnh Hưng Yên, Bố chánh Quảng Bình, rồi về triều giữ chức Thị lang Bộ Binh.    Năm 1885, khi vua Đồng Khánh lên ngôi ông được bổ làm Phủ doãn Thừa Thiên; Tuần vũ, Tổng đốc Thanh Hóa.    Sau đó Trương Như Cương về triều giữ chức Thượng thư Bộ Công, sung Cơ mật viện đại thần, Võ hiển Đại học sĩ rồi giữ chức Phụ chánh đại thần; tước Hiền Lương bá.    Dư luận đương thời cho rằng ông là người có mối quan hệ chặt chẽ với người Pháp nên mới được giữ những chức vụ quan trọng trong hoạn lộ của mình.    Năm Bính dân 1926, ông mất; thọ 76 tuổi; được tấn phong Văn minh điện đại học sĩ.
Thượng thư Bộ Công Trương Như Cương
CỤ TRƯƠNG NHƯ CƯƠNG - THƯỢNG THƯ BỘ CÔNG
(Thân phụ Hoàng Quý Phi Trương Thị -Bố vợ vua Khải Định)

Cụ Trương Như Cương (1850 - 1926) là Phụ chánh đại thần dưới triều nhà Nguyễn (các vua Đồng Khánh, Thành Thái và Duy Tân), người quê làng Hiền Lương (làng Rèn), huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên, là nhạc phụ của vua Khải Định.

Năm 1873 ông thi đỗ Cử nhân, được sơ bổ Thừa biện tàng thư, sau đó được thăng Tư vụ, Viên ngoại, rồi lên chức Tri phủ, Án sát tỉnh Hưng Yên, Bố chánh Quảng Bình, rồi về triều giữ chức Thị lang Bộ Binh.

Năm 1885, khi vua Đồng Khánh lên ngôi ông được bổ làm Phủ doãn Thừa Thiên; Tuần vũ, Tổng đốc Thanh Hóa.

Sau đó Trương Như Cương về triều giữ chức Thượng thư Bộ Công, sung Cơ mật viện đại thần, Võ hiển Đại học sĩ rồi giữ chức Phụ chánh đại thần; tước Hiền Lương bá.

Dư luận đương thời cho rằng ông là người có mối quan hệ chặt chẽ với người Pháp nên mới được giữ những chức vụ quan trọng trong hoạn lộ của mình.

Năm Bính dân 1926, ông mất; thọ 76 tuổi; được tấn phong Văn minh điện đại học sĩ.
Ảnh chụp chân dung thượng thư Bộ Công - cụ Trương Như Cương   CỤ TRƯƠNG NHƯ CƯƠNG - THƯỢNG THƯ BỘ CÔNG  (Thân phụ Hoàng Quý Phi Trương Thị -Bố vợ vua Khải Định)    Cụ Trương Như Cương (1850 - 1926) là Phụ chánh đại thần dưới triều nhà Nguyễn (các vua Đồng Khánh, Thành Thái và Duy Tân), người quê làng Hiền Lương (làng Rèn), huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên, là nhạc phụ của vua Khải Định.    Năm 1873 ông thi đỗ Cử nhân, được sơ bổ Thừa biện tàng thư, sau đó được thăng Tư vụ, Viên ngoại, rồi lên chức Tri phủ, Án sát tỉnh Hưng Yên, Bố chánh Quảng Bình, rồi về triều giữ chức Thị lang Bộ Binh.    Năm 1885, khi vua Đồng Khánh lên ngôi ông được bổ làm Phủ doãn Thừa Thiên; Tuần vũ, Tổng đốc Thanh Hóa.    Sau đó Trương Như Cương về triều giữ chức Thượng thư Bộ Công, sung Cơ mật viện đại thần, Võ hiển Đại học sĩ rồi giữ chức Phụ chánh đại thần; tước Hiền Lương bá.    Dư luận đương thời cho rằng ông là người có mối quan hệ chặt chẽ với người Pháp nên mới được giữ những chức vụ quan trọng trong hoạn lộ của mình.    Năm Bính dân 1926, ông mất; thọ 76 tuổi; được tấn phong Văn minh điện đại học sĩ.
Ảnh chụp chân dung thượng thư Bộ Công - cụ Trương Như Cương
CỤ TRƯƠNG NHƯ CƯƠNG - THƯỢNG THƯ BỘ CÔNG
(Thân phụ Hoàng Quý Phi Trương Thị -Bố vợ vua Khải Định)

Cụ Trương Như Cương (1850 - 1926) là Phụ chánh đại thần dưới triều nhà Nguyễn (các vua Đồng Khánh, Thành Thái và Duy Tân), người quê làng Hiền Lương (làng Rèn), huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên, là nhạc phụ của vua Khải Định.

Năm 1873 ông thi đỗ Cử nhân, được sơ bổ Thừa biện tàng thư, sau đó được thăng Tư vụ, Viên ngoại, rồi lên chức Tri phủ, Án sát tỉnh Hưng Yên, Bố chánh Quảng Bình, rồi về triều giữ chức Thị lang Bộ Binh.

Năm 1885, khi vua Đồng Khánh lên ngôi ông được bổ làm Phủ doãn Thừa Thiên; Tuần vũ, Tổng đốc Thanh Hóa.

Sau đó Trương Như Cương về triều giữ chức Thượng thư Bộ Công, sung Cơ mật viện đại thần, Võ hiển Đại học sĩ rồi giữ chức Phụ chánh đại thần; tước Hiền Lương bá.

Dư luận đương thời cho rằng ông là người có mối quan hệ chặt chẽ với người Pháp nên mới được giữ những chức vụ quan trọng trong hoạn lộ của mình.

Năm Bính dân 1926, ông mất; thọ 76 tuổi; được tấn phong Văn minh điện đại học sĩ.
Thượng thư Bộ Công (Đào Tấn)   Đào Tấn là một vị quan thanh liêm, cương trực, được giới sĩ phu trọng nể và nhân dân yêu quý.  Ông qua đời ngày 23 tháng 8 năm 1907.
Thượng thư Bộ Công (Đào Tấn)
Đào Tấn là một vị quan thanh liêm, cương trực, được giới sĩ phu trọng nể và nhân dân yêu quý.
Ông qua đời ngày 23 tháng 8 năm 1907.
Ảnh chụp chân dung cụ Đào Tấn    Cụ từng giữ chức Thượng thư Bộ Hình, Thượng thư Bộ Binh, Thượng thư Bộ Công.  Đào Tấn là một vị quan thanh liêm, cương trực, được giới sĩ phu trọng nể và nhân dân yêu quý.  Ông qua đời ngày 23 tháng 8 năm 1907.
Ảnh chụp chân dung cụ Đào Tấn
Cụ từng giữ chức Thượng thư Bộ Hình, Thượng thư Bộ Binh, Thượng thư Bộ Công.
Đào Tấn là một vị quan thanh liêm, cương trực, được giới sĩ phu trọng nể và nhân dân yêu quý.
Ông qua đời ngày 23 tháng 8 năm 1907.
Bức tranh vẽ nhà vua mặc xiêm và long cổn, đi hia, đội mũ bình thiên, cùng các bồi tế, thị vệ và thái giám, đang chuẩn bị bước lên đàn tế Nam Giao
Bức tranh vẽ nhà vua mặc xiêm và long cổn, đi hia, đội mũ bình thiên, cùng các bồi tế, thị vệ và thái giám, đang chuẩn bị bước lên đàn tế Nam Giao
Bức tranh vẽ hai vị quan trong lễ phục màu cam, đầu đội mũ ô sa ngồi đối diện nhau    Chữ Hán viết trên tranh Chánh nhất phẩm, Đông Các, Võ Hiển cho biết đây là hai vị quan đứng đầu điện Đông Các (Đông Các đại học sĩ) và điện Võ Hiển (Võ Hiển điện đại học sĩ) trong triều đình Huế, hàm chánh nhất phẩm, vận lễ phục tế Nam Giao.
Bức tranh vẽ hai vị quan trong lễ phục màu cam, đầu đội mũ ô sa ngồi đối diện nhau

Chữ Hán viết trên tranh Chánh nhất phẩm, Đông Các, Võ Hiển cho biết đây là hai vị quan đứng đầu điện Đông Các (Đông Các đại học sĩ) và điện Võ Hiển (Võ Hiển điện đại học sĩ) trong triều đình Huế, hàm chánh nhất phẩm, vận lễ phục tế Nam Giao.
Bức tranh miêu tả nhà vua (có lẽ là vua Thành Thái, trị vì từ năm 1889 đến năm 1907), đang ngự trên ngai vàng trong điện Thái Hòa.    Hai bên có hai viên Thái giám và hai vị Hiệp lĩnh thị vệ đứng chầu, phía dưới có dòng chữ Hán: Đại Nam hoàng đế sắc phục tại vị cùng các chữ Hán ghi rõ chức phận của những người trong tranh là Hiệp lĩnh thị vệ và Thái giám    Tranh do nghệ nhân Nguyễn Văn Nhân vẽ năm 1902
Bức tranh miêu tả nhà vua (có lẽ là vua Thành Thái, trị vì từ năm 1889 đến năm 1907), đang ngự trên ngai vàng trong điện Thái Hòa.

Hai bên có hai viên Thái giám và hai vị Hiệp lĩnh thị vệ đứng chầu, phía dưới có dòng chữ Hán: Đại Nam hoàng đế sắc phục tại vị cùng các chữ Hán ghi rõ chức phận của những người trong tranh là Hiệp lĩnh thị vệ và Thái giám

Tranh do nghệ nhân Nguyễn Văn Nhân vẽ năm 1902
Bức tranh vẽ hình con voi có phủ bành bằng vải màu vàng, thêu hình viên long; một người quản tượng mặc áo màu đỏ tía cưỡi trên đầu voi và ba người lính đi bên cạnh con voi mặc binh phục, đội nón dấu, lưng thắt khăn với các màu sắc khác nhau. Chữ Hán trên bức tranh này cho biết họ là những người lính thuộc Kinh tượng vệ, được gọi bằng các danh xưng: Hiệp quản), Dương, Binh và Thanh minh    Bức tranh do nghệ nhân Nguyễn Văn Nhân vẽ tháng 12 năm 1902
Bức tranh vẽ hình con voi có phủ bành bằng vải màu vàng, thêu hình viên long; một người quản tượng mặc áo màu đỏ tía cưỡi trên đầu voi và ba người lính đi bên cạnh con voi mặc binh phục, đội nón dấu, lưng thắt khăn với các màu sắc khác nhau. Chữ Hán trên bức tranh này cho biết họ là những người lính thuộc Kinh tượng vệ, được gọi bằng các danh xưng: Hiệp quản), Dương, Binh và Thanh minh

Bức tranh do nghệ nhân Nguyễn Văn Nhân vẽ tháng 12 năm 1902
Bức tranh vẽ hai người mặc lễ phục khác nhau, với hai sắc màu xanh dương và đỏ làm chủ đạo, đầu đội hai chiếc mũ tế khác nhau. Các chữ Hán (Hoàng thân) viết trên tranh cho biết đây là hai vị hoàng thân thuộc tôn thất nhà Nguyễn
Bức tranh vẽ hai người mặc lễ phục khác nhau, với hai sắc màu xanh dương và đỏ làm chủ đạo, đầu đội hai chiếc mũ tế khác nhau. Các chữ Hán (Hoàng thân) viết trên tranh cho biết đây là hai vị hoàng thân thuộc tôn thất nhà Nguyễn
Ảnh chụp chiếc nhãn dán ngoài chiếc túi vải có dòng chữ Hán (phiên âm): Hoàng phái sắc phục tự thiên tử chí tôn thất cùng dòng chữ Pháp: Grande Tenue de la Cour d’Annam / par Nguyễn Văn Nhân / Biên-tu du Hàn-lâm en disponibilité / Hué. Decembre 1902. Nội dung ghi trên nhãn này khẳng định các bức vẽ này do nguyên Biên tu Hàn lâm viện của triều Nguyễn là Nguyễn Văn Nhân vẽ tại Huế vào năm 1902 về lễ phục tế Nam Giao của triều đình Huế
Ảnh chụp chiếc nhãn dán ngoài chiếc túi vải có dòng chữ Hán (phiên âm): Hoàng phái sắc phục tự thiên tử chí tôn thất cùng dòng chữ Pháp: Grande Tenue de la Cour d’Annam / par Nguyễn Văn Nhân / Biên-tu du Hàn-lâm en disponibilité / Hué. Decembre 1902. Nội dung ghi trên nhãn này khẳng định các bức vẽ này do nguyên Biên tu Hàn lâm viện của triều Nguyễn là Nguyễn Văn Nhân vẽ tại Huế vào năm 1902 về lễ phục tế Nam Giao của triều đình Huế

Xem Thêm