Chuyện tình các danh tướng trung đại

Trên chiến trường, họ là những vị tướng uy phong lẫm liệt, can trường hiên ngang, chiến tích lừng lẫy. Thế nhưng, trong tình yêu, họ cũng là con người bình thường, có cảm xúc, rung động và yêu thương! Họ đã cùng người phụ nữ đời mình dựng xây và bảo vệ đất nước, đúng như "Trong anh và em hôm nay đều có một phần đất nước".
Phần 1: Phạm Ngũ Lão - ngao du sơn thủy nên duyên vợ chồng    Phạm Ngũ Lão (1255–1320), là một danh tướng của triều Trần. Duyên cớ gì đã khiến ông đến mảnh đất Hà Nam và nảy nở tình yêu với một người con gái nơi đây?  Dưới thời vua Trần Minh Tông, Phạm Ngũ Lão thường xuyên đốc binh để dẹp loạn biên ải từ các nước Ai Lao và Chiêm Thành. Ông đã chọn vùng sông núi Thanh Thủy – Kiện Khê (nay thuộc tiểu khu Châu Giang, thị trấn Kiện Khê, tỉnh Hà Nam), làm nơi phòng thủ chiến lược, đặt bản doanh và luyện binh.  Theo sách Âm hưởng dân gian quê hương, Phạm Ngũ Lão có thú vui dạo thuyền trên sông Vị Thủy, và đó là cái duyên để ông gặp được Thủy Tinh phu nhân.  “Một hôm, Ngũ Lão tình cờ bắt gặp ánh mắt từ mạn thuyền nan trong bóng nước. Ánh mắt ấy vừa rụt rè, vừa thăm thẳm khát khao. Đấy là một cô gái trẻ đương thì nhìn tướng quân thay cho bao nhiêu lời nói. Hỏi ra mới biết tên nàng là Thủy Tinh, con nhà thuyền chài sông Vị, hàng ngày nàng giúp mẹ thả lưới buông câu. Nhìn đôi cánh tay săm sắn nuột nà, mái tóc đen và gương mặt trăng rằm tỏa sáng ấy như xoáy vào tận nơi thẳm sâu xao xuyến cõi lòng tướng quân”.  Và thế rồi cô gái tên Thủy Tinh đã trở thành vợ lẽ của Phạm tướng quân. Chẳng những xinh đẹp, Thủy Tinh phu nhân còn biết dùng binh, thao lược võ nghệ. Vừa là người vợ hiền, bà còn là trợ thủ đắc lực giúp chồng việc quân, đôn đốc binh sĩ luyện võ mài gươm.  Khi tướng quân Phạm Ngũ Lão và Thủy Tinh phu nhân qua đời, nhân dân Châu Giang đã lập đền thờ ông bà ở chân núi Thiên Kiện. Khi Trần Duệ Tông đặt chân đến nơi đây, ngoài việc tặng câu đối cho vị tướng tài,  vua cũng thể hiện sự biết ơn với vị phu nhân của Phạm Ngũ Lão:  “Phù Ủng thiên sinh văn tướng võ  Giang Châu địa xuất thánh nhân tiên”  Năm tháng trôi qua, sông nước Thanh Thủy vẫn xanh trong, mối tình của 2 con người anh hùng này vẫn được lưu truyền cho hậu thế.
Phần 1: Phạm Ngũ Lão - ngao du sơn thủy nên duyên vợ chồng

Phạm Ngũ Lão (1255–1320), là một danh tướng của triều Trần. Duyên cớ gì đã khiến ông đến mảnh đất Hà Nam và nảy nở tình yêu với một người con gái nơi đây?
Dưới thời vua Trần Minh Tông, Phạm Ngũ Lão thường xuyên đốc binh để dẹp loạn biên ải từ các nước Ai Lao và Chiêm Thành. Ông đã chọn vùng sông núi Thanh Thủy – Kiện Khê (nay thuộc tiểu khu Châu Giang, thị trấn Kiện Khê, tỉnh Hà Nam), làm nơi phòng thủ chiến lược, đặt bản doanh và luyện binh.
Theo sách Âm hưởng dân gian quê hương, Phạm Ngũ Lão có thú vui dạo thuyền trên sông Vị Thủy, và đó là cái duyên để ông gặp được Thủy Tinh phu nhân.
“Một hôm, Ngũ Lão tình cờ bắt gặp ánh mắt từ mạn thuyền nan trong bóng nước. Ánh mắt ấy vừa rụt rè, vừa thăm thẳm khát khao. Đấy là một cô gái trẻ đương thì nhìn tướng quân thay cho bao nhiêu lời nói. Hỏi ra mới biết tên nàng là Thủy Tinh, con nhà thuyền chài sông Vị, hàng ngày nàng giúp mẹ thả lưới buông câu. Nhìn đôi cánh tay săm sắn nuột nà, mái tóc đen và gương mặt trăng rằm tỏa sáng ấy như xoáy vào tận nơi thẳm sâu xao xuyến cõi lòng tướng quân”.
Và thế rồi cô gái tên Thủy Tinh đã trở thành vợ lẽ của Phạm tướng quân. Chẳng những xinh đẹp, Thủy Tinh phu nhân còn biết dùng binh, thao lược võ nghệ. Vừa là người vợ hiền, bà còn là trợ thủ đắc lực giúp chồng việc quân, đôn đốc binh sĩ luyện võ mài gươm.
Khi tướng quân Phạm Ngũ Lão và Thủy Tinh phu nhân qua đời, nhân dân Châu Giang đã lập đền thờ ông bà ở chân núi Thiên Kiện. Khi Trần Duệ Tông đặt chân đến nơi đây, ngoài việc tặng câu đối cho vị tướng tài, vua cũng thể hiện sự biết ơn với vị phu nhân của Phạm Ngũ Lão:
“Phù Ủng thiên sinh văn tướng võ
Giang Châu địa xuất thánh nhân tiên”
Năm tháng trôi qua, sông nước Thanh Thủy vẫn xanh trong, mối tình của 2 con người anh hùng này vẫn được lưu truyền cho hậu thế.
Bài viết của bạn Đức Hạnh Nguyễn bổ sung vào kho tàng các câu chuyện tình đẹp của Lịch sử Việt Nam :D  Từ xưa tới nay, trong dân gian lưu truyền rất nhiều câu chuyện hay về những mối duyên kì lạ. Tất cả đều được quy cho 4 chữ : “Duyên trời đã định”.  Nếu ai đã từng tìm hiểu về Hồ Quý Ly chắc đã từng nghe đến đôi câu đối rất chuẩn, rất chỉnh và rất thơ :   “Thanh Thử điện tiền thiên thụ quế   Quảng Hàn cung lý nhất chi mai”  Hai câu đối này có thể coi là nguồn gốc làm nên một chuyện tình đẹp, một mối lương duyên hiếm có trong suốt lịch sử phong kiến nước nhà. Đó là mội mối tình lưu truyền thiên cổ giữa Hồ Quý Ly và công chúa Nhất Chi Mai.  .  .  .  Tương truyền, Hồ Quý Ly vốn xuất thân từ dân chài lưới, thuở nhỏ hàng ngày ông theo người cha nuôi họ Lê đi buôn trên biển. Có một lần, khi thuyền chở hàng ghé vào bờ, Quý Ly thấy trên bãi biển có ai vạch lên cát câu thơ :  • Quảng Hàn cung lý Nhất Chi Mai  Quý Ly nhẩm thuộc lòng câu thơ ấy. Đến khi ông làm quan, một hôm hộ giá vua Trần đi chơi, nửa đường ghé vào tránh nắng ở điện Thanh Thử, thấy trước điện mọc lên rất nhiều cây quế, vua liền ra câu đối :  • Thanh Thử điện tiền thiên thụ quế  Các quan đi cùng chưa biết đối ra sao thì Quý Ly nhớ lại câu thơ năm xưa, bèn đọc luôn :  • Quảng Hàn cung lý Nhất Chi Mai  Cả 2 câu ghép lại thành hai vế đối nhau rất chỉnh :   Thanh Thử điện tiền thiên thụ quế   Quảng Hàn cung lý Nhất Chi Mai  Nghĩa là :   Thanh Thử điện kia ngàn gốc quế   Quảng Hàn cung nọ một cành mai  Nghe xong các quan đều phục tài Hồ Quý Ly, vua Trần càng kinh ngạc hơn bởi nhà vua có một công chúa tên là Nhất Chi Mai, nàng ở trong cung cấm không ra đến ngoài, vua bèn hỏi Quý Ly :  • Nhà ngươi sao biết được trong cung của ta có công chúa tên Nhất Chi Mai, tòa lầu của công chúa là cung Quảng Hàn do chính ta đặt tên?  Quý Ly cứ thành thực tâu lại việc trước. Vua nghe xong liền cho là chuyện lạ, cho rằng duyên trời đã định, bèn gả công chúa Nhất Chi Mai cho Quý Ly…    .  .  .  Đúng là một chuyện tình lạ và đẹp!
Bài viết của bạn Đức Hạnh Nguyễn bổ sung vào kho tàng các câu chuyện tình đẹp của Lịch sử Việt Nam :D
Từ xưa tới nay, trong dân gian lưu truyền rất nhiều câu chuyện hay về những mối duyên kì lạ. Tất cả đều được quy cho 4 chữ : “Duyên trời đã định”.
Nếu ai đã từng tìm hiểu về Hồ Quý Ly chắc đã từng nghe đến đôi câu đối rất chuẩn, rất chỉnh và rất thơ :
“Thanh Thử điện tiền thiên thụ quế
Quảng Hàn cung lý nhất chi mai”
Hai câu đối này có thể coi là nguồn gốc làm nên một chuyện tình đẹp, một mối lương duyên hiếm có trong suốt lịch sử phong kiến nước nhà. Đó là mội mối tình lưu truyền thiên cổ giữa Hồ Quý Ly và công chúa Nhất Chi Mai.
.
.
.
Tương truyền, Hồ Quý Ly vốn xuất thân từ dân chài lưới, thuở nhỏ hàng ngày ông theo người cha nuôi họ Lê đi buôn trên biển. Có một lần, khi thuyền chở hàng ghé vào bờ, Quý Ly thấy trên bãi biển có ai vạch lên cát câu thơ :
• Quảng Hàn cung lý Nhất Chi Mai
Quý Ly nhẩm thuộc lòng câu thơ ấy. Đến khi ông làm quan, một hôm hộ giá vua Trần đi chơi, nửa đường ghé vào tránh nắng ở điện Thanh Thử, thấy trước điện mọc lên rất nhiều cây quế, vua liền ra câu đối :
• Thanh Thử điện tiền thiên thụ quế
Các quan đi cùng chưa biết đối ra sao thì Quý Ly nhớ lại câu thơ năm xưa, bèn đọc luôn :
• Quảng Hàn cung lý Nhất Chi Mai
Cả 2 câu ghép lại thành hai vế đối nhau rất chỉnh :
Thanh Thử điện tiền thiên thụ quế
Quảng Hàn cung lý Nhất Chi Mai
Nghĩa là :
Thanh Thử điện kia ngàn gốc quế
Quảng Hàn cung nọ một cành mai
Nghe xong các quan đều phục tài Hồ Quý Ly, vua Trần càng kinh ngạc hơn bởi nhà vua có một công chúa tên là Nhất Chi Mai, nàng ở trong cung cấm không ra đến ngoài, vua bèn hỏi Quý Ly :
• Nhà ngươi sao biết được trong cung của ta có công chúa tên Nhất Chi Mai, tòa lầu của công chúa là cung Quảng Hàn do chính ta đặt tên?
Quý Ly cứ thành thực tâu lại việc trước. Vua nghe xong liền cho là chuyện lạ, cho rằng duyên trời đã định, bèn gả công chúa Nhất Chi Mai cho Quý Ly…

.
.
.
Đúng là một chuyện tình lạ và đẹp!
Những nghi vấn về Huyền Trân công chúa và Trần Khắc Chung  Để giữ mối quan hệ hòa hảo với Chiêm Thành, cùng chung sức chống quân Mông – Nguyên, vua Trần Nhân Tông đã hứa gả công chúa Huyền Trân cho vua Chế Mân, đổi lại “sính lễ” nhận được là châu Ô, châu Lý (tức vùng đất Thuận Hóa - Phú Xuân - Thừa Thiên Huế ngày nay) .  Tuân theo ý chỉ, tháng 6/1306, công chúa được đưa sang Chiêm Thành để tiến hành hôn lễ. Thế nhưng, chưa đầy một năm sau đó, Chế Mân đã chết. Sử ký nói rằng:
Những nghi vấn về Huyền Trân công chúa và Trần Khắc Chung
Để giữ mối quan hệ hòa hảo với Chiêm Thành, cùng chung sức chống quân Mông – Nguyên, vua Trần Nhân Tông đã hứa gả công chúa Huyền Trân cho vua Chế Mân, đổi lại “sính lễ” nhận được là châu Ô, châu Lý (tức vùng đất Thuận Hóa - Phú Xuân - Thừa Thiên Huế ngày nay) . Tuân theo ý chỉ, tháng 6/1306, công chúa được đưa sang Chiêm Thành để tiến hành hôn lễ. Thế nhưng, chưa đầy một năm sau đó, Chế Mân đã chết. Sử ký nói rằng: "Theo tục lệ Chiêm Thành, nhà vua chết thì vợ phải lên giàn hỏa thiêu chết theo. Vua Trần Anh Tông biết thế mới sai Trần Khắc Chung là quan Thượng thư tả bộc xạ cùng quan An phủ Đặng Văn sang Chiêm Thành viếng tang tìm cách cứu Huyền Trân về”.
Từ đó, nảy sinh lời đồn “Trần Khắc Chung tư thông với công chúa, đi đường biển loanh quanh chậm chạp, lâu ngày mới về đến kinh đô". Vậy thực hư ra sao?
Tháng 9/2014, trên tạp chí Tia Sáng, tác giả Nguyễn Khôi đã đưa quan điểm phản biện lại nghi hoặc này.
Trước hết về câu hỏi liệu công chúa Huyền Trân có phải lên giàn hỏa thiêu hay không, Nguyễn Khôi cho rằng không có. Ông lập luận rằng khi Chế Mân mất là vào tháng 5 mà theo Đại Việt sử ký thì tháng 9, Thế tử Chiêm Thành là Chế Đa Da sai sứ thần mang voi trắng sang tiến cống. Chế Đa Da chính là tên đứa con của công chúa Huyền Trân với Chế Mân. Việc mang voi trắng sang cống này là một nghi thức ngoại giao nhằm báo với Trần Nhân Tông về việc cháu ngoại Chế Đa Da đã chào đời. Dựa trên điều đó, Nguyễn Khôi cho rằng Chế Đa Da có thể sinh vào tháng 8 và như vậy thì lúc Chế Mân chết, Huyền Trân đang có mang vài tháng. Không ai có thể nhẫn tâm hỏa thiêu một sản phụ đang có thai , trong khi thai nhi đó là tân Thế tử - rường cột của đất nước.
Thêm vào đó, tác giả nói rằng tục lệ hỏa thiêu của Chiêm Thành là một vinh dự chỉ giành cho những bà hoàng hậu muốn bày tỏ lòng thủy chung của mình với chồng. Nhưng nó phải được hội đồng hoàng gia chấp nhận. Bên cạnh đó, theo luật Champa, lễ hỏa táng vua mới mất được thực hiện trong ngày đẹp nhất trong vòng một tháng sau khi vua băng hà. Như vậy, lễ hỏa thiêu có lẽ thực hiện trong tháng 5 hoặc tháng 6 năm 1307 mà đoàn Khắc Chung mãi tháng 10 mới khởi hành. Nếu quả thật Huyền Trân bị thiêu thì Khắc Chung cũng không thể cứu. Từ những lý do đó, Nguyễn Khôi nhận định việc Huyền Trân bị thiêu là không có khả năng.

Xem Thêm