Những người thầy vĩ đại trong Lịch sử phong kiến Việt Nam

Tôn sư trọng đạo là truyền thống đáng quý của dân tộc Việt Nam.  chúng ta sẽ cùng nhau tìm hiểu về những người Thầy tài hoa với cái tâm trong sáng nhé!

Chu Văn An tên thật là Chu An, tên chữ là Linh Triệt, sau về ẩn cư thì xưng hiệu là Tiều Ẩn. Khi ông mất, được vua phong tước Văn Trinh Công, nên người đời sau mới gọi là Chu Văn An. Ông sinh ra tại làng Văn Thôn, xã Quang Liệt, huyện Thanh Đàm (nay thuộc xóm Văn, xã Thanh Liệt, huyện Thanh Trì, Hà Nội). Sử sách không chép rõ ông sinh năm nào, nhưng theo thần tích tại đình làng Thanh Liệt, nơi thờ ông làm Thành Hoàng, thì ông sinh năm Nhâm Thìn 1292 và mất năm Canh Tuất 1370.Trong sự nghiệp dạy học của mình, ông có hai người học trò đặc biệt là Trần Hiến Tông và Trần Dụ Tông (sau này đều làm vua). Vào năm 1357, sau khi thượng hoàng Minh Tông băng hà, thì vua Dụ Tông được nắm trọn đại quyền nên bắt đầu lao vào cuộc ăn chơi, nghe lời xúc xiểm của đám nịnh thần, triều đình trở nên thối nát. Trong khi chính sự suy đồi, tình thế nhiễu nhương, Chu An đã nhiều lần can gián vua và cũng là học trò của mình. Cuối cùng ông đã hiên ngang dâng sớ xin chém bảy tên nịnh thần mà sử sách gọi là “Thất trảm sớ”. Tinh thần này được miêu tả với 5 chữ “uy vũ bất năng khuất” - không bị khuất phục trước cường quyền. Sinh thời, Chu Văn An đã nói:

Chu Văn An tên thật là Chu An, tên chữ là Linh Triệt, sau về ẩn cư thì xưng hiệu là Tiều Ẩn. Khi ông mất, được vua phong tước Văn Trinh Công, nên người đời sau mới gọi là Chu Văn An. Ông sinh ra tại làng Văn Thôn, xã Quang Liệt, huyện Thanh Đàm (nay thuộc xóm Văn, xã Thanh Liệt, huyện Thanh Trì, Hà Nội).
Sử sách không chép rõ ông sinh năm nào, nhưng theo thần tích tại đình làng Thanh Liệt, nơi thờ ông làm Thành Hoàng, thì ông sinh năm Nhâm Thìn 1292 và mất năm Canh Tuất 1370.
Trong sự nghiệp dạy học của mình, ông có hai người học trò đặc biệt là Trần Hiến Tông và Trần Dụ Tông (sau này đều làm vua).

Vào năm 1357, sau khi thượng hoàng Minh Tông băng hà, thì vua Dụ Tông được nắm trọn đại quyền nên bắt đầu lao vào cuộc ăn chơi, nghe lời xúc xiểm của đám nịnh thần, triều đình trở nên thối nát.
Trong khi chính sự suy đồi, tình thế nhiễu nhương, Chu An đã nhiều lần can gián vua và cũng là học trò của mình. Cuối cùng ông đã hiên ngang dâng sớ xin chém bảy tên nịnh thần mà sử sách gọi là “Thất trảm sớ”. Tinh thần này được miêu tả với 5 chữ “uy vũ bất năng khuất” - không bị khuất phục trước cường quyền.
Sinh thời, Chu Văn An đã nói: "Ta chưa từng nghe nước nào coi nhẹ sự học mà khá lên được". Tư tưởng của Chu Văn An đã thể hiện rõ tầm quan trọng của giáo dục đối với sự thịnh suy, hưng vong của mỗi quốc gia. Chu Văn An là một trong những người đặt nền móng cho việc đào tạo nhân tài bằng Nho học, không chỉ truyền đạt cho các nho sinh những tri thức thông qua Tứ thư, Ngũ kinh, Bắc sử, Nam sử... mà còn giáo dục về đạo lý làm người, trung với nước, hiếu với dân.

Chu Văn An đã đi tiên phong trong việc mở trường dạy học "học trò đẩy cửa", hoàn chỉnh lối học, lối thi cử cho nền giáo dục Việt Nam thời kì Trung Đại. Khi về Chí Linh ở ẩn, ông vẫn tiếp nhận học trò. Theo ông, việc dạy học phải dành cho tất cả mọi người: "Việc dạy dỗ của thành nhân không phân biệt người đến học thuộc loại nào".

Tranh: sưu tầm

Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491 - 1585)  sinh tại làng Trung Am, huyện Vĩnh Lại, phủ Hạ Hồng, trấn Hải Dương (nay thuộc xã Lý Học, huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng). Ông vốn được xem là một nhà

Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491 - 1585) sinh tại làng Trung Am, huyện Vĩnh Lại, phủ Hạ Hồng, trấn Hải Dương (nay thuộc xã Lý Học, huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng). Ông vốn được xem là một nhà "tiên tri". Nhắc đến ông, chúng ta không thể bỏ qua những lời sấm truyền, điển hình là sự kiện Nguyễn Hoàng (vị chúa Nguyễn đầu tiên của Đàng Trong) hỏi ý kiến của ông về việc Nam tiến. Nguyễn Bỉnh Khiêm đã đáp: “Hoành Sơn nhất đái, vạn đại dung thân” (có tài liệu ghi là "Hoành Sơn nhất đái, khả dĩ dung thân").
Ông thi Trạng nguyên khoa Ất Mùi, niên hiệu Ðại Chính thứ 6 (1535) đời Mạc Ðăng Doanh.
Khi Mạc Hiển Tông lên ngôi, Nguyễn Bỉnh Khiêm dâng sớ trị tội 18 lộng thần nhưng vua không chấp nhận. Năm 1542, ông xin về quê.
Về Trung Am, ông cho xây dựng am Bạch Vân, lập quán Trung Tân bên dòng sông Tuyết để dạy học trò nên người đời sau còn gọi ông là Tuyết giang phu tử. Học trò ông có nhiều người lỗi lạc như Nguyễn Dữ, Phùng Khắc Khoan,..

Khi mất, ông được nhà Mạc truy phong Lại bộ thượng thư Trình quốc công, cho xây dựng miếu thờ.

Lê Quý Đôn (1726 - 1784) tên thuở nhỏ là Lê Danh Phương, quê ở làng Diên Hà, huyện Diên Hà, trấn Sơn Nam; nay là thôn Đồng Phú thuộc xã Độc Lập, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình.Người cùng thời thường truyền tai nhau: “Thiên hạ vô tri vấn Bảng Đôn” (thiên hạ có điều gì không biết, đến hỏi Lê Quý Đôn). Bởi lẽ đó, Lê Quý Đôn còn được mệnh danh là

Lê Quý Đôn (1726 - 1784) tên thuở nhỏ là Lê Danh Phương, quê ở làng Diên Hà, huyện Diên Hà, trấn Sơn Nam; nay là thôn Đồng Phú thuộc xã Độc Lập, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình.

Người cùng thời thường truyền tai nhau: “Thiên hạ vô tri vấn Bảng Đôn” (thiên hạ có điều gì không biết, đến hỏi Lê Quý Đôn). Bởi lẽ đó, Lê Quý Đôn còn được mệnh danh là "túi khôn của thời đại".
Nhân vật này nổi tiếng với nhiều công trình nghiên cứu khác nhau, nổi bật nhất là triết học và sử học. Trong đó tác phẩm "Phủ biên tạp lục” của ông được đánh giá là sử liệu quý viết về Hoàng Sa và Trường Sa .
Lê Quý Đôn cũng là nhà giáo xuất chúng. Nhiều học trò của ông đã thành tài và giữ chức vụ quan lớn trong triều đình như Bùi Huy Bích, Bùi Bích Tựu...

Xem Thêm