Quảng Ninh xưa

Quảng Ninh là tỉnh ven biển thuộc vùng Đông Bắc Việt Nam. Quảng Ninh được ví như một Việt Nam thu nhỏ, vì có cả biển, đảo, đồng bằng, trung du, đồi núi, biên giới. Trong quy hoạch phát triển kinh tế, Quảng Ninh vừa thuộc vùng kinh tế trọng điểm phía bắc vừa thuộc vùng duyên hải Bắc Bộ. Đây là tỉnh khai thác than đá chính của Việt Nam.

Quảng Ninh là một trong 25 tỉnh, thành phố có biên giới, tuy nhiên lại là tỉnh duy nhất có đường biên giới trên bộ và trên biển với Trung Quốc, với đường biên giới trên bộ dài 118,825 km và đường phân định Vịnh Bắc Bộ trên biển dài trên 191 km. Mặc khác, Quảng Ninh là một trong 28 tỉnh, thành có biển, với đường bờ biển dài 250 km, trong đó có 40.000 hecta bãi triều và trên 20.000 hecta eo vịnh, có 2/12 huyện đảo của cả nước. Tỉnh có 2.077 hòn đảo, và diện tích các đảo chiếm 11,5% diện tích đất tự nhiên

Quảng Ninh nằm ở địa đầu phía đông bắc Việt Nam, có dáng một con cá sấu nằm chếch theo hướng đông bắc - tây nam. Phía đông nghiêng xuống nửa phần đầu vịnh Bắc bộ, Phía tây tựa lưng vào núi rừng trùng điệp. Toạ độ địa lý khoảng 106o26' đến 108o31' kinh độ đông và từ 20o40' đến 21o40' vĩ độ bắc. Bề ngang từ đông sang tây, nơi rộng nhất là 195 km. Bề dọc từ bắc xuống nam khoảng 102 km. Phía đông bắc của tỉnh giáp với Trung Quốc, phía nam giáp vịnh Bắc Bộ, có chiều dài bờ biển 250 km, phía tây nam giáp tỉnh Hải Dương và thành phố Hải Phòng, đồng thời phía tây bắc giáp các tỉnh Lạng Sơn, Bắc Giang và Hải Dương.
Điểm cực đông trên đất liền là mũi Gót ở đông bắc phường Trà Cổ, thành phố Móng Cái, ngoài khơi là mũi Sa Vĩ.

Điểm cực tây thuộc xã Bình Dương và xã Nguyễn Huệ, huyện Đông Triều.
Điểm cực nam ở đảo Hạ Mai thuộc xã Ngọc Vừng, huyện Vân Đồn.
Điểm cực bắc thuộc thôn Mỏ Toòng, xã Hoành Mô, huyện Bình Liêu.

(Theo Wikipedia)

Ad DTT
Vịnh Hạ Long, 1915
Vịnh Hạ Long, 1915
Vịnh Hạ Long, 1915
Vịnh Hạ Long, 1915
Phong cảnh vịnh Hạ Long
Phong cảnh vịnh Hạ Long
Phong cảnh vịnh Hạ Long
Phong cảnh vịnh Hạ Long
Đường sắt Hà Tu dọc vịnh Hạ Long, Hòn Gai
Đường sắt Hà Tu dọc vịnh Hạ Long, Hòn Gai
Thuyền chài, 1913
Thuyền chài, 1913
Quảng Yên 1909
Quảng Yên 1909
Toàn cảnh Hòn Gai, 1907
Toàn cảnh Hòn Gai, 1907
Những người đánh cá, Hòn Gai 1912
Những người đánh cá, Hòn Gai 1912
Khu nhà của người Hoa ở Hòn Gai
Khu nhà của người Hoa ở Hòn Gai
Khách sạn Hòn Gai
Khách sạn Hòn Gai
Vịnh Hạ Long năm 1954  (Ảnh của Raymond Cauchetier)
Vịnh Hạ Long năm 1954
(Ảnh của Raymond Cauchetier)
Doanh trại lính Bộ binh Thuộc địa, Hòn Gai
Doanh trại lính Bộ binh Thuộc địa, Hòn Gai
Phong cảnh Quảng Yên
Phong cảnh Quảng Yên
Một gia đình ở Quảng Yên
Một gia đình ở Quảng Yên
Một gia đình ở Quảng Yên
Một gia đình ở Quảng Yên
Hòn Gai, cảnh Vịnh Hạ Long
Hòn Gai, cảnh Vịnh Hạ Long
Vịnh Hạ Long
Vịnh Hạ Long
Vịnh Hạ Long
Vịnh Hạ Long
Vịnh Hạ Long  (Photo by Leon Busy)
Vịnh Hạ Long
(Photo by Leon Busy)
Vịnh Hạ Long  (Photo by Leon Busy)
Vịnh Hạ Long
(Photo by Leon Busy)
Khai thác than ở HonGai năm 1901   Les mines de Hongay  Superbes photos de 1901. Collection Courtellemont.
Khai thác than ở HonGai năm 1901
Les mines de Hongay
Superbes photos de 1901. Collection Courtellemont.
Binh sĩ quân đội Quốc gia Việt Nam ăn uống tại một thị trấn nhỏ (thuộc tỉnh Quảng Yên), tháng 6-1954.  Quân đội Quốc gia Việt Nam (tiếng Pháp: Armée Nationale Vietnamienne, ANV) là lực lượng vũ trang của Quốc gia Việt Nam, được sự bảo trợ tài chính của Liên hiệp Pháp, tồn tại từ 1950 đến 1955.  Ngày 11 tháng 5 năm 1950, Thủ tướng Trần Văn Hữu tuyên bố chính thức thành lập Vệ binh Quốc gia Việt Nam với quân số lúc đó là 60.000 người.  Nguyễn Văn Hinh (1915-2004) là tướng lĩnh đầu tiên và Tổng tham mưu trưởng đầu tiên của Quân đội Quốc gia Việt Nam. Ông là một trường hợp đặc biệt trong lịch sử quân sự Việt Nam thế kỷ 20. Về danh nghĩa, ông đã từng được phong tướng của hai Quốc gia khác nhau, tuy nhiên khác với
Binh sĩ quân đội Quốc gia Việt Nam ăn uống tại một thị trấn nhỏ (thuộc tỉnh Quảng Yên), tháng 6-1954.
Quân đội Quốc gia Việt Nam (tiếng Pháp: Armée Nationale Vietnamienne, ANV) là lực lượng vũ trang của Quốc gia Việt Nam, được sự bảo trợ tài chính của Liên hiệp Pháp, tồn tại từ 1950 đến 1955.
Ngày 11 tháng 5 năm 1950, Thủ tướng Trần Văn Hữu tuyên bố chính thức thành lập Vệ binh Quốc gia Việt Nam với quân số lúc đó là 60.000 người.
Nguyễn Văn Hinh (1915-2004) là tướng lĩnh đầu tiên và Tổng tham mưu trưởng đầu tiên của Quân đội Quốc gia Việt Nam. Ông là một trường hợp đặc biệt trong lịch sử quân sự Việt Nam thế kỷ 20. Về danh nghĩa, ông đã từng được phong tướng của hai Quốc gia khác nhau, tuy nhiên khác với "Lưỡng quốc tướng quân" Nguyễn Sơn, tướng Nguyễn Văn Hinh không cùng làm tướng của 2 quốc gia trong cùng một thời điểm, Năm 1962, ông được phong Thiếu tướng và đến 1964 là Trung tướng Không quân phục vụ trong quân đội Pháp.
Phố chợ, Hòn Gai
Phố chợ, Hòn Gai
Quảng Yên (Quảng Ninh) đầu thế kỉ XX.
Quảng Yên (Quảng Ninh) đầu thế kỉ XX.
Những người lính Tập ở Quảng Yên (Quảng Ninh) thuộc Quân đoàn bộ binh Bắc Kỳ đầu thế kỉ XX.  Năm 1886, lực lượng lính tập bản xứ chiếm tới một nửa trong số khoảng 30 ngàn quân Pháp có mặt tại Bắc Kỳ.  Họ có nhiệm vụ chung là bảo đảm trật tự an ninh; canh gác công sở, trại giam tuyến giao thông; áp tải tội phạm, áp tải hàng hóa của chính quyền; đàn áp các cuộc khởi nghĩa và nổi dậy...    Phân biệt:  - Lính khố đỏ là lính người Việt trong quân đội chính quy cơ động của Pháp, chân lính khố đỏ quấn xà cạp bằng vải đỏ.   - Lính khố vàng là lính không trực tiếp thuộc quyền quản lý của Pháp mà thuộc quyền quản lý của triều đình nhà Nguyễn. Chân lính khố vàng quấn xà cạp bằng vải vàng.   - Lính khố xanh là lính người Việt do thực dân Pháp tổ chức ở các tỉnh, chân lính khố xanh quấn xà cạp bằng vải xanh.   - Lính khố lục là lính Việt Nam do thực dân Pháp tuyển mộ để canh gác các phủ, huyện. Chân lính khố lục quấn xà cạp bằng vải xanh lục.    Lực lượng vệ binh bản xứ tan rã khi Nhật đảo chính Pháp (ngày 9 tháng 3 năm 1945).    Nguồn ảnh: Ông Jérôme HOFFART ở Toulon (Pháp)
Những người lính Tập ở Quảng Yên (Quảng Ninh) thuộc Quân đoàn bộ binh Bắc Kỳ đầu thế kỉ XX.
Năm 1886, lực lượng lính tập bản xứ chiếm tới một nửa trong số khoảng 30 ngàn quân Pháp có mặt tại Bắc Kỳ.
Họ có nhiệm vụ chung là bảo đảm trật tự an ninh; canh gác công sở, trại giam tuyến giao thông; áp tải tội phạm, áp tải hàng hóa của chính quyền; đàn áp các cuộc khởi nghĩa và nổi dậy...

Phân biệt:
- Lính khố đỏ là lính người Việt trong quân đội chính quy cơ động của Pháp, chân lính khố đỏ quấn xà cạp bằng vải đỏ.
- Lính khố vàng là lính không trực tiếp thuộc quyền quản lý của Pháp mà thuộc quyền quản lý của triều đình nhà Nguyễn. Chân lính khố vàng quấn xà cạp bằng vải vàng.
- Lính khố xanh là lính người Việt do thực dân Pháp tổ chức ở các tỉnh, chân lính khố xanh quấn xà cạp bằng vải xanh.
- Lính khố lục là lính Việt Nam do thực dân Pháp tuyển mộ để canh gác các phủ, huyện. Chân lính khố lục quấn xà cạp bằng vải xanh lục.

Lực lượng vệ binh bản xứ tan rã khi Nhật đảo chính Pháp (ngày 9 tháng 3 năm 1945).

Nguồn ảnh: Ông Jérôme HOFFART ở Toulon (Pháp)
Quảng Yên (Quảng Ninh) đầu thế kỉ XX
Quảng Yên (Quảng Ninh) đầu thế kỉ XX
Khu mỏ than Kẻ Bào (Quảng Ninh) năm 1896, ảnh do Toàn quyền Đông Dương Armand Rousseau chụp.    Armand Roussea là Chủ tịch Quốc hội Pháp (1883 - 1894), Thứ trưởng Bộ Hải quân và Thuộc Địa..., tháng 2/1895, Armand Rousseau được cử làm Toàn quyền Đông Dương. Ông đột ngột qua đời vào ngày 10/12/1896, tức chỉ hơn một năm làm nhiệm vụ. Ông để lại hàng trăm bức ảnh về Việt Nam thời kỷ 1895-1896.     Việc khai thác than của người Việt tại Đông Triều bắt đầu từ năm 1840.  Nếu như huyện Đông Triều là địa điểm khai thác đầu tiên ở Việt Nam từ thời Nguyễn thì huyện Vân Đồn là nơi khai thác mỏ than đầu tiên của Việt Nam từ thời Pháp thuộc, mỏ than đầu tiên được cho là Kẻ Bào.  Vào năm 1888, người Pháp bắt đầu lập mỏ khai thác than và Kế Bào là mỏ than đầu tiên được S.F.C.T (Công ty Than Bắc Kỳ) thành lập vào ngày 01-09-1888.   Trên con đường đi từ mỏ than Kế Bào ra cảng Vạn Hoa hơn 10km, người Pháp đã làm đường và một số cây cầu sắt, cầu bê tông đưa than ra cảng, đường chui qua cống, đường đục núi để đi qua. Xưa nay, người Vân Đồn vẫn quen gọi là cầu Min-nơ hoặc cầu Cái Làng.  Mỏ than Kế Bào được thành lập với số vốn ban đầu 2,5 triệu Phơ-răng, số vốn đó ngày một tăng lên. Từ 1891-1895, đã vọt lên 6 triệu Phơ-răng.     Người Pháp đã cho xây dựng một số công trình căn bản với gần 10 đường lò, 14km đường goòng, một nhà máy sàng công suất 1.683 mã lực và xây dựng cảng Vạn Hoa.     Ngày 19-12-1911, công ty than Kế Bào được thành lập với số vốn ban đầu là 30 triệu Phơ-răng. Năm 1890 có 2.750 công nhân. Sản lượng than đã khai thác của Công ty Kế Bào là 30.242 tấn. Năm 1932, có 1.700 công nhân Á Đông và 13 người châu Âu.   Cuộc khủng hoảng kinh tế 1929-1933 ảnh hưởng nặng nề đến khai thác than, đến năm 1935, chỉ còn 600 công nhân người Á Đông và 2 người Châu Âu.   Đến nay mỏ than Kế Bào chỉ còn lại dấu tích của hệ thống cầu sắt, đường xe goòng tải than, tường bao nền nhà hoang phế, đường thông gió,…được xây dựng từ thời Pháp thuộc.
Khu mỏ than Kẻ Bào (Quảng Ninh) năm 1896, ảnh do Toàn quyền Đông Dương Armand Rousseau chụp.

Armand Roussea là Chủ tịch Quốc hội Pháp (1883 - 1894), Thứ trưởng Bộ Hải quân và Thuộc Địa..., tháng 2/1895, Armand Rousseau được cử làm Toàn quyền Đông Dương. Ông đột ngột qua đời vào ngày 10/12/1896, tức chỉ hơn một năm làm nhiệm vụ. Ông để lại hàng trăm bức ảnh về Việt Nam thời kỷ 1895-1896.

Việc khai thác than của người Việt tại Đông Triều bắt đầu từ năm 1840.
Nếu như huyện Đông Triều là địa điểm khai thác đầu tiên ở Việt Nam từ thời Nguyễn thì huyện Vân Đồn là nơi khai thác mỏ than đầu tiên của Việt Nam từ thời Pháp thuộc, mỏ than đầu tiên được cho là Kẻ Bào.
Vào năm 1888, người Pháp bắt đầu lập mỏ khai thác than và Kế Bào là mỏ than đầu tiên được S.F.C.T (Công ty Than Bắc Kỳ) thành lập vào ngày 01-09-1888.
Trên con đường đi từ mỏ than Kế Bào ra cảng Vạn Hoa hơn 10km, người Pháp đã làm đường và một số cây cầu sắt, cầu bê tông đưa than ra cảng, đường chui qua cống, đường đục núi để đi qua. Xưa nay, người Vân Đồn vẫn quen gọi là cầu Min-nơ hoặc cầu Cái Làng.
Mỏ than Kế Bào được thành lập với số vốn ban đầu 2,5 triệu Phơ-răng, số vốn đó ngày một tăng lên. Từ 1891-1895, đã vọt lên 6 triệu Phơ-răng.

Người Pháp đã cho xây dựng một số công trình căn bản với gần 10 đường lò, 14km đường goòng, một nhà máy sàng công suất 1.683 mã lực và xây dựng cảng Vạn Hoa.

Ngày 19-12-1911, công ty than Kế Bào được thành lập với số vốn ban đầu là 30 triệu Phơ-răng. Năm 1890 có 2.750 công nhân. Sản lượng than đã khai thác của Công ty Kế Bào là 30.242 tấn. Năm 1932, có 1.700 công nhân Á Đông và 13 người châu Âu.
Cuộc khủng hoảng kinh tế 1929-1933 ảnh hưởng nặng nề đến khai thác than, đến năm 1935, chỉ còn 600 công nhân người Á Đông và 2 người Châu Âu.
Đến nay mỏ than Kế Bào chỉ còn lại dấu tích của hệ thống cầu sắt, đường xe goòng tải than, tường bao nền nhà hoang phế, đường thông gió,…được xây dựng từ thời Pháp thuộc.

Xem Thêm