Táng thức độc đáo của người Việt cổ

Với thuyết vạn vật hữu linh, cư dân cổ đại luôn gửi gắm những triết lí và mong muốn của mình qua từng sự vật, sự việc. Đối với việc mai táng, chôn cất người chết lại càng có nhiều điều huyền bí và thú vị, để gửi về "ngôi nhà vĩnh cửu". Ngày hôm nay, chúng ta hãy cùng khám phá, người Việt thời tiền sử có những táng thức độc đáo nào, và ý nghĩa của mỗi táng thức là gì!
Táng thức mộ chum/vò là hình thức dùng những chum/vò bằng gốm đất nung để chôn nguyên thi thể người chết (hung táng), than tro hỏa táng hay cải táng di cốt. Cũng có thể trong chum/vò chỉ có đồ tùy táng mà không có di cốt hay than tro (mộ tượng trưng).   Táng thức mộ chum phổ biến ở nhiều nơi thời tiền sử. Tại Việt Nam, chúng xuất hiện khá rộng rãi từ Bắc Trung bộ vào đến Nam bộ, trong các khu vực phân bố của văn hóa Sa Huỳnh ở miền Trung, văn hóa Đồng Nai ở miền Đông Nam bộ, văn hóa Lung Leng ở Tây Nguyên. Trên địa bàn văn hóa Đông Sơn mộ vò có mặt từ Nghệ Tĩnh đến Quảng Bình – khu vực tiếp giáp văn hóa Sa Huỳnh.   phương thức hung táng trong chum gốm tròn hình cầu với tư thế ngồi bó gối cho thấy hình ảnh một đứa trẻ trong bụng mẹ. Đây là quan niệm về một vòng luân hồi mới, nhất là khi trong chum có khoét những lỗ tròn như cửa để linh hồn tiếp xúc với thế giới linh hồn và trở về mộ chum là ngôi nhà – nơi cư ngụ của linh hồn. Một đặc điểm chung khác là tục hung táng trẻ em trong chum, vò, không chỉ ở cư dân có táng tục mộ chum và còn thấy ở nhiều nhóm cư dân có táng tục khác, càng làm cho quan niệm
Táng thức mộ chum/vò là hình thức dùng những chum/vò bằng gốm đất nung để chôn nguyên thi thể người chết (hung táng), than tro hỏa táng hay cải táng di cốt. Cũng có thể trong chum/vò chỉ có đồ tùy táng mà không có di cốt hay than tro (mộ tượng trưng).
Táng thức mộ chum phổ biến ở nhiều nơi thời tiền sử. Tại Việt Nam, chúng xuất hiện khá rộng rãi từ Bắc Trung bộ vào đến Nam bộ, trong các khu vực phân bố của văn hóa Sa Huỳnh ở miền Trung, văn hóa Đồng Nai ở miền Đông Nam bộ, văn hóa Lung Leng ở Tây Nguyên. Trên địa bàn văn hóa Đông Sơn mộ vò có mặt từ Nghệ Tĩnh đến Quảng Bình – khu vực tiếp giáp văn hóa Sa Huỳnh.
phương thức hung táng trong chum gốm tròn hình cầu với tư thế ngồi bó gối cho thấy hình ảnh một đứa trẻ trong bụng mẹ. Đây là quan niệm về một vòng luân hồi mới, nhất là khi trong chum có khoét những lỗ tròn như cửa để linh hồn tiếp xúc với thế giới linh hồn và trở về mộ chum là ngôi nhà – nơi cư ngụ của linh hồn. Một đặc điểm chung khác là tục hung táng trẻ em trong chum, vò, không chỉ ở cư dân có táng tục mộ chum và còn thấy ở nhiều nhóm cư dân có táng tục khác, càng làm cho quan niệm "khi chết được trở về lòng (đất) mẹ" rõ ràng hơn.
Lòng đất – bụng mẹ là một trong những biểu tượng rất phổ biến ở Đông Nam Á, được biểu hiện qua các vật thể quen thuộc như:
- Hang núi: là nơi cư trú của loài người thời nguyên thủy. Hình dáng hơi cong tròn, lòng hang to lớn, rỗng, khả năng chứa đựng của hang đã trở thành nguyên mẫu cho dạ con – lòng mẹ, trở thành biểu tượng của cội nguồn: con người chui ra khỏi hang núi như ra khỏi lòng mẹ. Ban ngày đi kiếm ăn, tối trở về hang nghỉ ngơi, sáng mai lại bắt đầu một chu kỳ mới. Cứ thế, hang đá trở thành biểu tượng cho cội nguồn, tái sinh, giống như một đời người, ra đời từ trong lòng mẹ rồi khi chết đi lại trở về bụng mẹ để được sinh ra trong một kiếp khác. Ngoài ra, hang núi ở trên cao còn là biểu tượng của vũ trụ, là nơi đất trời giao nhau, con người có thể giao tiếp với thần linh, với thế giới tổ tiên qua lỗ thông từ mái vòm hang trên đỉnh núi, nơi ánh sáng rọi vào hang tối.

- Quả bầu: truyền thuyết về quả bầu là cội nguồn của vạn vật cũng bắt đầu từ hình dáng tròn, rỗng lòng (khi để khô), đặc tính dễ trồng, mau lớn, sai trái của loài bầu bí. Khi khô trong lòng chứa hạt, từ hạt lại nảy mầm… Quả bầu khô còn dùng để đựng nước, vì vậy, phải chăng việc làm đồ gốm là khởi nguồn từ việc bắt chước hình dáng và công dụng của quả bầu? Nếu cho rằng những nồi, vò đất nung nguyên thủy là vật thay thế, tương ứng với quả bầu thì việc chôn người chết (hoặc chứa than tro hỏa táng) trong các mộ vò, mộ chum chắc hẳn là biểu hiện cho sự khởi nguồn, sự tái sinh. Các lỗ nhỏ khoét trên thân và đáy chum chính là lỗ thoát hồn cho thể xác trong chum/ trong hang tối để đi đến miền ánh sáng.
Như vậy, mộ chum với tục hung táng là biểu hiện của tín ngưỡng Mẹ/ khởi nguồn: chum gôm tượng trưng cho bụng mẹ – lòng mẹ, di cốt bó ngồi trong chum tượng trưng cho sự tái sinh.
Hình ảnh trên đây là mộ thuyền Việt Khuê, được coi là Bảo vật quốc gia, với 107 hiện vật là đồ tùy táng chứa bên trong. Đây là ngôi mộ thuộc thời kỳ muộn của văn hóa Đông Sơn chứa nhiều hiện vật nhất tính đến thời điểm hiện nay. Độ phong phú của các đồ tùy táng được đánh giá là
Hình ảnh trên đây là mộ thuyền Việt Khuê, được coi là Bảo vật quốc gia, với 107 hiện vật là đồ tùy táng chứa bên trong. Đây là ngôi mộ thuộc thời kỳ muộn của văn hóa Đông Sơn chứa nhiều hiện vật nhất tính đến thời điểm hiện nay. Độ phong phú của các đồ tùy táng được đánh giá là "vô cùng quý giá", bởi nó đưa đến hình dung trực quan, sinh động nhất về đời sống văn hóa và tinh thần của người Việt cách nay 2.500 năm.
Hình thức mộ thuyền phản ánh tập quán của người Việt cổ gắn liền với nông nghiệp lúa nước. Hằng ngày, người ta đi lại bằng thuyền, khi chết cũng chôn bằng thuyền. Điều này cho thấy, không gian văn hóa đi lại bằng thuyền, bè. Người xưa quan niệm về cuộc sống có hai thế giới kể cả khi họ chết. Khi chết, con người thoát khỏi cuộc sống thực và đi đến thế giới khác mà con thuyền là cầu nối dẫn đưa người ta qua lằn ranh giữa hai thế giới đó.

Xem Thêm