Tổng đốc triều Nguyễn

Dưới đây Ảnh Xưa xin được tổng hợp về một số vị Tổng đốc triều Nguyễn (danh sách và thông tin sẽ được hoàn thiện dần dần). :D

Trong ảnh là Tổng đốc Hải Dương Bùi Thiện Cơ. Ông sinh năm 1889 tại Hà Nội. Ông là con trai út của Bùi Khánh Diễn - cựu cố vấn Toà Thượng thẩm Hà Nội. Bùi Thiện Cơ cũng là chú của Bùi Tường Chiểu - 1 vị luật sư nổi tiếng của thế kỉ XX, tác giả của tác phẩm La Polygamie dans le Droit Annamite (Chế độ đa thê trong pháp chế Việt Nam).

Trong ảnh là Tổng đốc Hải Dương Bùi Thiện Cơ. Ông sinh năm 1889 tại Hà Nội. Ông là con trai út của Bùi Khánh Diễn - cựu cố vấn Toà Thượng thẩm Hà Nội. Bùi Thiện Cơ cũng là chú của Bùi Tường Chiểu - 1 vị luật sư nổi tiếng của thế kỉ XX, tác giả của tác phẩm La Polygamie dans le Droit Annamite (Chế độ đa thê trong pháp chế Việt Nam).

Võ Chuẩn sinh năm 1895 tại làng Thần Phù, huyện Hương Thủy, phủ Thừa Thiên (nay là phường Thủy Châu, thị xã Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên). Ông là trưởng nam của quan Lễ bộ Thượng thư Đông các Đại học sĩ Xuân Hòa hầu Võ Liêm và thuộc đời thứ 12 của vọng tộc Võ Tá. Thân mẫu của ông là cụ bà Tôn Nữ Thị Tiếp.Lúc trẻ, Võ Chuẩn từng theo học các trường Hậu bổ ở Huế và Thuộc địa ở Paris. Ban đầu, ông làm việc ở tòa hành chính Khâm sứ Trung Kỳ, rất mau chóng được thăng Tham tá của Tòa Khâm sứ (1923 - 1930).Năm 1930, Võ Chuẩn được chuyển ngạch sang làm quan chức Nam triều. Đến năm 1933 thì ông được bổ chức Quản đạo Kontum, 1938 thì làm Tuần vũ Quảng Bình, 1939 lại làm Tuần vũ Quảng Ngãi. Năm 1940, ông được thăng Tổng đốc Quảng Nam, hàm Thượng thư, trật chánh nhị phẩm. Không bao lâu sau thì về trí sĩ.Hai con gái ông là Linh Bảo và Minh Đức Hoài Trinh đều là nhà văn.Theo krongblah.blogspot.com và vi.wikipedia.org

Võ Chuẩn sinh năm 1895 tại làng Thần Phù, huyện Hương Thủy, phủ Thừa Thiên (nay là phường Thủy Châu, thị xã Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên). Ông là trưởng nam của quan Lễ bộ Thượng thư Đông các Đại học sĩ Xuân Hòa hầu Võ Liêm và thuộc đời thứ 12 của vọng tộc Võ Tá. Thân mẫu của ông là cụ bà Tôn Nữ Thị Tiếp.

Lúc trẻ, Võ Chuẩn từng theo học các trường Hậu bổ ở Huế và Thuộc địa ở Paris. Ban đầu, ông làm việc ở tòa hành chính Khâm sứ Trung Kỳ, rất mau chóng được thăng Tham tá của Tòa Khâm sứ (1923 - 1930).

Năm 1930, Võ Chuẩn được chuyển ngạch sang làm quan chức Nam triều. Đến năm 1933 thì ông được bổ chức Quản đạo Kontum, 1938 thì làm Tuần vũ Quảng Bình, 1939 lại làm Tuần vũ Quảng Ngãi. Năm 1940, ông được thăng Tổng đốc Quảng Nam, hàm Thượng thư, trật chánh nhị phẩm. Không bao lâu sau thì về trí sĩ.
Hai con gái ông là Linh Bảo và Minh Đức Hoài Trinh đều là nhà văn.
Theo krongblah.blogspot.com và vi.wikipedia.org

Tổng đốc Thái Bình Vi Văn Định. Họ Vi là một dòng họ lớn người Tày ở Lạng Sơn, sống  tại bản Chu, huyện Lộc Bình, nguyên quán ở xã Vạn Phần, huyện Đông Thành, tỉnh Nghệ An. Ngay ở thời Trần đã có người họ Vi làm quan đến chức Đô đốc. Theo ông Vi Văn Đài, Trưởng ban đại diện của gia tộc họ Vi tại Hà Nội, khi giặc Minh sang xâm chiếm nước ta, ông Vi Kim Thăng, lúc đó đã được tập ấm bổ chức Trực điện kim đạo ty, đã chiêu tập dân định cư các trại, các động theo Lê Lợi. Chính vì thế nên khi giặc tan, vua Lê Thái Tổ mới phân phong gia tộc họ Vi (cùng 6 dòng họ lớn khác) làm thổ ty cha truyền con nối ở Lạng Sơn, góp phần bảo vệ biên cương “thần trung tận tiết, trung hiếu song toàn... cho mạch nước được vững bền...” như lời khắc trên tấm bia đặt ở chùa Trung Thiên xứ Mẫu Sơn, được khắc từ năm 1680 (đời thứ 7 của dòng họ Vi, với Vũ quận công Vi Đức Thắng; ông này ở triều vua Lê Huy Tông đã được phong tới chức cao nhất là Đô đốc Thiên sứ, được triều đình trao quyền phân xử mọi việc ở xứ Lạng, kể cả giao hiếu với Trung Quốc). Đời thứ 13 là ông Vi Văn Lý, được phong tới chức Hiệp tá đại học sĩ, Tổng đốc Lạng Sơn... Con trai của ông Vi Văn Lý chính là ông Vi Văn Định, một người cũng đã trải qua những đoạn đời không đơn giản. Trải qua 4-5 thế kỷ con cháu của dòng họ này đã trở thành người Tày.Do quá hiểu uy lực và ảnh hưởng của dòng họ Vi ở vùng biên ải Lạng Sơn, thực dân Pháp đã dùng kế “điệu hổ ly sơn” và không cho Vi Văn Định tiếp tục làm quan trên mảnh đất ở của ông cha mà đưa ông sang Cao Bằng làm tuần phủ rồi đưa xuống miền xuôi (năm 1922 làm Tuần phủ Phúc Yên, năm 1925 làm Tuần phủ Hưng Yên...). Từ tháng 8-1928, ông Vi Văn Định làm Tổng đốc Thái Bình. Đây chính là giai đoạn có nhiều câu chuyện khác nhau nhất kể về cách hành xử của vị quan đầu tỉnh. Cho tới hôm nay, trong rất nhiều sách báo công khai, Tổng đốc Thái Bình Vi Văn Định luôn được miêu tả như một viên quan thét ra lửa. Ngay cả con cái trong gia đình cũng phải công nhận là ông có tính gia trưởng, độc đoán. Con trai của ông, Vi Văn Kỳ, mặc dù làm đến chức tri phủ rồi nhưng vì thua bạc, cú quá đem bát nhang nhốt vào lô-cốt, đã bị bố gọi về đánh cho một trận nhừ tử, đến mức bức ảnh người mẹ đã quá cố của ông Kỳ đang treo trên tường cũng phải rơi xuống đất! Năm 1942, ông Vi Văn Định, lúc đó đang là Tổng đốc Hà Đông (từ năm 1937) vì bực với người Pháp nên xin về hưu và trở lại quê với con trai Vi Văn Dư ở cách Lạng Sơn vài chục cây số.Ông Vi Văn Định, như các quan lại thời ấy, thuộc loại “năm thê bẩy thiếp”. Con cái ông cũng đông, phần nhiều đều thành đạt. Cô con gái thứ Vi Kim Phú kết duyên với bác sĩ ngoại khoa, Giáo sư Hồ Đắc Di con trai Quận công Hồ Đắc Trung, còn cô Vi Kim Ngọc đã trở thành vợ của Tiến sĩ Nguyễn Văn Huyên. Sau Cách mạng Tháng Tám, ông Nguyễn Văn Huyên làm Bộ trưởng Bộ Giáo dục,... Cháu gái của ông Vi Văn Định, cô Vi Thị Nguyệt Hồ ở tuổi 15 thì được gả cho bác sĩ Tôn Thất Tùng (con trai của vị nguyên là Tổng đốc Thanh Hóa). Bác sĩ Tôn Thất Tùng lúc đó là học trò yêu của Giáo sư Hồ Đắc Di, hơn người vợ trẻ trung xinh đẹp của mình những 20 tuổi. Thầy thương trò nên đã làm mối cho trò.Ông cũng tham gia Cách mạng -  Ủy viên Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cho tới hết đời.Theo: daidoanket.vn

Tổng đốc Thái Bình Vi Văn Định.
Họ Vi là một dòng họ lớn người Tày ở Lạng Sơn, sống tại bản Chu, huyện Lộc Bình, nguyên quán ở xã Vạn Phần, huyện Đông Thành, tỉnh Nghệ An. Ngay ở thời Trần đã có người họ Vi làm quan đến chức Đô đốc. Theo ông Vi Văn Đài, Trưởng ban đại diện của gia tộc họ Vi tại Hà Nội, khi giặc Minh sang xâm chiếm nước ta, ông Vi Kim Thăng, lúc đó đã được tập ấm bổ chức Trực điện kim đạo ty, đã chiêu tập dân định cư các trại, các động theo Lê Lợi. Chính vì thế nên khi giặc tan, vua Lê Thái Tổ mới phân phong gia tộc họ Vi (cùng 6 dòng họ lớn khác) làm thổ ty cha truyền con nối ở Lạng Sơn, góp phần bảo vệ biên cương “thần trung tận tiết, trung hiếu song toàn... cho mạch nước được vững bền...” như lời khắc trên tấm bia đặt ở chùa Trung Thiên xứ Mẫu Sơn, được khắc từ năm 1680 (đời thứ 7 của dòng họ Vi, với Vũ quận công Vi Đức Thắng; ông này ở triều vua Lê Huy Tông đã được phong tới chức cao nhất là Đô đốc Thiên sứ, được triều đình trao quyền phân xử mọi việc ở xứ Lạng, kể cả giao hiếu với Trung Quốc). Đời thứ 13 là ông Vi Văn Lý, được phong tới chức Hiệp tá đại học sĩ, Tổng đốc Lạng Sơn... Con trai của ông Vi Văn Lý chính là ông Vi Văn Định, một người cũng đã trải qua những đoạn đời không đơn giản. Trải qua 4-5 thế kỷ con cháu của dòng họ này đã trở thành người Tày.
Do quá hiểu uy lực và ảnh hưởng của dòng họ Vi ở vùng biên ải Lạng Sơn, thực dân Pháp đã dùng kế “điệu hổ ly sơn” và không cho Vi Văn Định tiếp tục làm quan trên mảnh đất ở của ông cha mà đưa ông sang Cao Bằng làm tuần phủ rồi đưa xuống miền xuôi (năm 1922 làm Tuần phủ Phúc Yên, năm 1925 làm Tuần phủ Hưng Yên...). Từ tháng 8-1928, ông Vi Văn Định làm Tổng đốc Thái Bình. Đây chính là giai đoạn có nhiều câu chuyện khác nhau nhất kể về cách hành xử của vị quan đầu tỉnh. Cho tới hôm nay, trong rất nhiều sách báo công khai, Tổng đốc Thái Bình Vi Văn Định luôn được miêu tả như một viên quan thét ra lửa. Ngay cả con cái trong gia đình cũng phải công nhận là ông có tính gia trưởng, độc đoán. Con trai của ông, Vi Văn Kỳ, mặc dù làm đến chức tri phủ rồi nhưng vì thua bạc, cú quá đem bát nhang nhốt vào lô-cốt, đã bị bố gọi về đánh cho một trận nhừ tử, đến mức bức ảnh người mẹ đã quá cố của ông Kỳ đang treo trên tường cũng phải rơi xuống đất!
Năm 1942, ông Vi Văn Định, lúc đó đang là Tổng đốc Hà Đông (từ năm 1937) vì bực với người Pháp nên xin về hưu và trở lại quê với con trai Vi Văn Dư ở cách Lạng Sơn vài chục cây số.
Ông Vi Văn Định, như các quan lại thời ấy, thuộc loại “năm thê bẩy thiếp”. Con cái ông cũng đông, phần nhiều đều thành đạt. Cô con gái thứ Vi Kim Phú kết duyên với bác sĩ ngoại khoa, Giáo sư Hồ Đắc Di con trai Quận công Hồ Đắc Trung, còn cô Vi Kim Ngọc đã trở thành vợ của Tiến sĩ Nguyễn Văn Huyên. Sau Cách mạng Tháng Tám, ông Nguyễn Văn Huyên làm Bộ trưởng Bộ Giáo dục,... Cháu gái của ông Vi Văn Định, cô Vi Thị Nguyệt Hồ ở tuổi 15 thì được gả cho bác sĩ Tôn Thất Tùng (con trai của vị nguyên là Tổng đốc Thanh Hóa). Bác sĩ Tôn Thất Tùng lúc đó là học trò yêu của Giáo sư Hồ Đắc Di, hơn người vợ trẻ trung xinh đẹp của mình những 20 tuổi. Thầy thương trò nên đã làm mối cho trò.
Ông cũng tham gia Cách mạng - Ủy viên Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cho tới hết đời.
Theo: daidoanket.vn

Trong ảnh là chân dung quan Tổng đốc Sơn Tây Đào Trọng Kỳ cùng phu nhân được thờ trong nhà.Lịch sử Việt Nam từng có bài đăng về vị quan thương dân như con này. Cụ thể là về sự kiện năm 1900, khi 61 tuổi, được nghỉ hưu, trở về quê việc đầu tiên ông làm là tự khảo cứu địa hình, thiết kế công trình dẫn thủy nhập điền mang tên sông Chanh Dương dài hơn 23 km, rộng ngang tới 40 m, sâu 4 m, chạy từ đầu về cuối huyện. Ngôi nhà bằng gỗ lim tọa lạc tại Cổ Am, Hải Phòng của ông đã đi qua phong ba với tuổi đời hơn trăm năm (1890s-2018).st

Trong ảnh là chân dung quan Tổng đốc Sơn Tây Đào Trọng Kỳ cùng phu nhân được thờ trong nhà.
Lịch sử Việt Nam từng có bài đăng về vị quan thương dân như con này. Cụ thể là về sự kiện năm 1900, khi 61 tuổi, được nghỉ hưu, trở về quê việc đầu tiên ông làm là tự khảo cứu địa hình, thiết kế công trình dẫn thủy nhập điền mang tên sông Chanh Dương dài hơn 23 km, rộng ngang tới 40 m, sâu 4 m, chạy từ đầu về cuối huyện.
Ngôi nhà bằng gỗ lim tọa lạc tại Cổ Am, Hải Phòng của ông đã đi qua phong ba với tuổi đời hơn trăm năm (1890s-2018).
st

Cụ Đặng Trần Vỹ, đậu giải Nguyên (Thủ Khoa) khoa thi Hương năm Tân Mão(1891) triều Thành Thái làm Tuần phủ Phú Thọ rồi Tổng đốc Bắc Ninh. Con trai ông là Đặng Trần Phất, bút danh Như Hiền; là nhà văn Việt Nam thời Pháp thuộc.stẢnh: phong-vu.blogspot.com

Cụ Đặng Trần Vỹ, đậu giải Nguyên (Thủ Khoa) khoa thi Hương năm Tân Mão(1891) triều Thành Thái làm Tuần phủ Phú Thọ rồi Tổng đốc Bắc Ninh. Con trai ông là Đặng Trần Phất, bút danh Như Hiền; là nhà văn Việt Nam thời Pháp thuộc.
st

Ảnh: phong-vu.blogspot.com

Cụ Hoàng Trọng Phu (1872 – 1946), người dân hay gọi thân mật Cụ  thiếu Hà ĐôngCon trai thứ của Kinh lược sứ Bắc kỳ Hoàng Cao KhảiNgười Việt Nam đầu tiên đổ Tú Tài Pháp tại Pháp.Cháu rể của cụ Phan Đình Phùng (gọi cụ Phan là bác vợ). Bà chính thất.Rể của Tổng đốc Đỗ Hữu Phương (người giàu thứ 2 Nam kỳ và cả nước: Nhất Sĩ nhì Phương tam Xường tứ Trạch và Nhất Sĩ nhì Phương tam Xường tứ Bưởi. Bà thứ thất.Làm Tổng đốc Hà Đông 31 năm (1906 – 1937).Phục hưng và phát triển 136 nghề thủ công nghiệp truyền thống của Bắc kỳ đặc biệt Hà Đông: tơ lụa, cẩn khảm, giấy mực,…nổi tiếng trong và ngoài nước. Ông viết quyển Nghề truyền thống Hà Đông rất chi tiết về các nghề này.Lập ấp Hà Đông ở Đà Lạt, là hạt nhân đầu tiên về nghề trồng hoa và rau của Thành phố này.Cổ súy phong trào chấn hưng Phật giáo ở Bắc kỳ. Đứng đầu ấn bản Phật giáo Đuốc Tuệ.Thành viên Hội đồng quản lý Hội Khai Trí Tiến ĐứcChủ tịch Ủy ban tương tế xã hội trung ương Bắc Kỳ.Phó chủ tịch Hội đồng tư vấn bản xứ Bắc Kỳ.Về cuối đời, Hoàng triều Nguyễn phong cho Cụ là Võ Hiển Điện Đại học Sĩ - Chánh nhất phẩm.Theo: hieuco.netẢnh: Vợ chồng cụ Hoàng Trọng Phu (phong-vu.blogspot.com)

Cụ Hoàng Trọng Phu (1872 – 1946), người dân hay gọi thân mật Cụ thiếu Hà Đông
Con trai thứ của Kinh lược sứ Bắc kỳ Hoàng Cao Khải
Người Việt Nam đầu tiên đổ Tú Tài Pháp tại Pháp.
Cháu rể của cụ Phan Đình Phùng (gọi cụ Phan là bác vợ). Bà chính thất.
Rể của Tổng đốc Đỗ Hữu Phương (người giàu thứ 2 Nam kỳ và cả nước: Nhất Sĩ nhì Phương tam Xường tứ Trạch và Nhất Sĩ nhì Phương tam Xường tứ Bưởi. Bà thứ thất.
Làm Tổng đốc Hà Đông 31 năm (1906 – 1937).
Phục hưng và phát triển 136 nghề thủ công nghiệp truyền thống của Bắc kỳ đặc biệt Hà Đông: tơ lụa, cẩn khảm, giấy mực,…nổi tiếng trong và ngoài nước. Ông viết quyển Nghề truyền thống Hà Đông rất chi tiết về các nghề này.
Lập ấp Hà Đông ở Đà Lạt, là hạt nhân đầu tiên về nghề trồng hoa và rau của Thành phố này.
Cổ súy phong trào chấn hưng Phật giáo ở Bắc kỳ. Đứng đầu ấn bản Phật giáo Đuốc Tuệ.
Thành viên Hội đồng quản lý Hội Khai Trí Tiến Đức
Chủ tịch Ủy ban tương tế xã hội trung ương Bắc Kỳ.
Phó chủ tịch Hội đồng tư vấn bản xứ Bắc Kỳ.
Về cuối đời, Hoàng triều Nguyễn phong cho Cụ là Võ Hiển Điện Đại học Sĩ - Chánh nhất phẩm.
Theo: hieuco.net
Ảnh: Vợ chồng cụ Hoàng Trọng Phu (phong-vu.blogspot.com)

Cô thành chống giữ một mình thôiKhảng khái như ông được mấy ngườiCựu lục nghìn năm gương tiết dọiCô thần một chút tấm trung phơi(…)Nghìn thủa Nùng Sơn nêu chính khíAnh hùng đến thế lệ cùng rơi.Tổng đốc Hoàng Diệu - con người đã tuẫn tiết khi Hà thành thất thủ, ngày mùng 8 tháng Ba năm Nhâm Ngọ (25-4-1882).

Cô thành chống giữ một mình thôi
Khảng khái như ông được mấy người
Cựu lục nghìn năm gương tiết dọi
Cô thần một chút tấm trung phơi
(…)
Nghìn thủa Nùng Sơn nêu chính khí
Anh hùng đến thế lệ cùng rơi.
Tổng đốc Hoàng Diệu - con người đã tuẫn tiết khi Hà thành thất thủ, ngày mùng 8 tháng Ba năm Nhâm Ngọ (25-4-1882).

Lê Hoan (1856-1915) còn có tên là Lê Tôn. Ông từng làm Tổng đốc Bắc Ninh và Hải Dương. Lê Hoan cũng là cha của họa sĩ nổi tiếng Lê Phổ. Đây là 1 nhân vật gây nhiều tranh cãi. Các bạn có thể tham khảo bài viết:http://suckhoedoisong.vn/nghi-an-le-hoan-si-phu-hay-viet-gian-n10492.htmlẢnh: internet

Lê Hoan (1856-1915) còn có tên là Lê Tôn. Ông từng làm Tổng đốc Bắc Ninh và Hải Dương. Lê Hoan cũng là cha của họa sĩ nổi tiếng Lê Phổ.
Đây là 1 nhân vật gây nhiều tranh cãi. Các bạn có thể tham khảo bài viết:
http://suckhoedoisong.vn/nghi-an-le-hoan-si-phu-hay-viet-gian-n10492.html
Ảnh: internet

Cụ Nguyễn Đình Hiến (1872-1947) từng giữ chức Tổng đốc Bình Phú (Bình Định, Phú Yên).Ông sinh ra trong một gia đình khoa bảng tại làng Lộc Đông, tổng Trung Lộc (nay là xã Quế Lộc, huyện Nông Sơn, tỉnh Quảng Nam).Năm Thành Thái thứ 7 (1895), ông được bổ học Trường Đốc Quảng Nam. Năm Đinh Dậu 1897 ông dự kỳ thi Hương tại Huế vào được Trường Ba (tức Tú tài), năm 1900 đậu cử nhân (còn gọi là Á nguyên) tại Trường Thừa Thiên và năm 1901 ông đỗ Phó bảng trong kỳ Hội thí.Sau khi vinh quy, ông được triều đình cử giữ chức Hàn lâm viện kiểm thảo. Đầu năm 1906 được cử sang Pháp học chính trị và phong tục và đã viết cuốn “Tây sai kỹ lãm” trình vua Thành Thái.Năm 1927 là thời gian ông về hưu với hàm Hiệp tá Đại học sĩ, sau đó ông trở về Huế và ở tại ấp Bình An, gần dốc Nam Giao một thời gian... Đến năm 1935 thì trở về nguyên quán ở làng Lộc Đông di dưỡng tuổi già và qua đời vào ngày 17 tháng 3 năm 1947, hưởng thọ 75 tuổi. Ngoài một quan triều đình, Nguyễn Đình Hiến còn là một nhà văn. Thơ văn Nguyễn Đình Hiến để lại không nhiều, nhưng giá trị văn chương của tác phẩm ông là những dấu ấn của văn học Việt Nam. Tiêu biển nhất có thể kể đến là bài thơ có tên Bang Sơn động (Vịnh núi Trà Bang) ở Ninh Thuận có thể liệt vào hàng những bài thơ hay.Không những có những đóng góp, cống hiến cho triều đình, cho dân, cho nước khi còn làm quan mà khi đã về an dưỡng tuổi già Nguyễn Đình Hiến cũng có những cống hiến to lớn góp phần làm thay đổi bộ mặt vùng quê hoang vắng còn nhiều khó khăn, cách trở nơi ông sinh sống, mà điển hình nhất cho những đóng góp đó là việc khai mở con đường qua đèo Le. Theo nội dung tấm bia chính được tìm thấy tại đèo Le (do chính tay Nguyễn Đình Hiến cẩn soạn bằng chữ Hán) thì sự hiểm trở, khó đi lại của đèo Le lúc bấy giờ được miêu tả như sau: “Con đường đèo Le Quế Sơn thật là hiểm trở, về phía đông có hai tổng Trung Châu là: Thuận Mỹ, An Phú, tiếp về phía Tây là tổng Trung Lộc miền cao, thông với đường sông Thu Bồn và giáp miền thượng man, chung quanh đều là núi cao tạo thành một bức tường thành trời định, trước đây người qua lại tổng Trung Lộc đều than thở đường hiểm núi cao, đá chởm, đất bùn...”Cũng theo nội dung tấm bia này thì vào một ngày mùa Đông năm Bính Tý (1936), Nguyễn Đình Hiến đã diện kiến với Nguyễn Đình Khôi (Tổng đốc Quảng Nam lúc bấy giờ) khi Nguyễn Đình Khôi đi kinh lý các tổng miền thượng du. Tại cuộc gặp này, Nguyễn Đình Hiến đã đề xuất với quan Tổng đốc về việc mở con đường băng qua đèo Le kéo dài từ đông sang tây, rộng 3m và dài khoảng 7km... Sau đó, Nguyễn Đình Hiến đứng ra thành lập ban vận động lạc quyên để khai mở con đường đèo Le gồm Tú tài Lâm Xuân Quế ở xã Phước Bình, Cửu phẩm Nguyễn Đình Dương ở xã Lộc Đông... Các ông đã đi vận động nhân dân trong tổng lạc quyên được số bạc là 4600 đồng lẻ, đồng thời cũng trích số bạc tư ích ở các tổng và thu bạc hội chợ rồi giao cho quan lục lộ cùng với ông tri huyện Nguyễn Trọng Thuần đốc thúc tiến hành.Nguồn: nongson.quangnam.gov.vnẢnh: cungdiendanduong.net

Cụ Nguyễn Đình Hiến (1872-1947) từng giữ chức Tổng đốc Bình Phú (Bình Định, Phú Yên).
Ông sinh ra trong một gia đình khoa bảng tại làng Lộc Đông, tổng Trung Lộc (nay là xã Quế Lộc, huyện Nông Sơn, tỉnh Quảng Nam).
Năm Thành Thái thứ 7 (1895), ông được bổ học Trường Đốc Quảng Nam. Năm Đinh Dậu 1897 ông dự kỳ thi Hương tại Huế vào được Trường Ba (tức Tú tài), năm 1900 đậu cử nhân (còn gọi là Á nguyên) tại Trường Thừa Thiên và năm 1901 ông đỗ Phó bảng trong kỳ Hội thí.

Sau khi vinh quy, ông được triều đình cử giữ chức Hàn lâm viện kiểm thảo. Đầu năm 1906 được cử sang Pháp học chính trị và phong tục và đã viết cuốn “Tây sai kỹ lãm” trình vua Thành Thái.
Năm 1927 là thời gian ông về hưu với hàm Hiệp tá Đại học sĩ, sau đó ông trở về Huế và ở tại ấp Bình An, gần dốc Nam Giao một thời gian... Đến năm 1935 thì trở về nguyên quán ở làng Lộc Đông di dưỡng tuổi già và qua đời vào ngày 17 tháng 3 năm 1947, hưởng thọ 75 tuổi. Ngoài một quan triều đình, Nguyễn Đình Hiến còn là một nhà văn. Thơ văn Nguyễn Đình Hiến để lại không nhiều, nhưng giá trị văn chương của tác phẩm ông là những dấu ấn của văn học Việt Nam. Tiêu biển nhất có thể kể đến là bài thơ có tên Bang Sơn động (Vịnh núi Trà Bang) ở Ninh Thuận có thể liệt vào hàng những bài thơ hay.

Không những có những đóng góp, cống hiến cho triều đình, cho dân, cho nước khi còn làm quan mà khi đã về an dưỡng tuổi già Nguyễn Đình Hiến cũng có những cống hiến to lớn góp phần làm thay đổi bộ mặt vùng quê hoang vắng còn nhiều khó khăn, cách trở nơi ông sinh sống, mà điển hình nhất cho những đóng góp đó là việc khai mở con đường qua đèo Le.
Theo nội dung tấm bia chính được tìm thấy tại đèo Le (do chính tay Nguyễn Đình Hiến cẩn soạn bằng chữ Hán) thì sự hiểm trở, khó đi lại của đèo Le lúc bấy giờ được miêu tả như sau: “Con đường đèo Le Quế Sơn thật là hiểm trở, về phía đông có hai tổng Trung Châu là: Thuận Mỹ, An Phú, tiếp về phía Tây là tổng Trung Lộc miền cao, thông với đường sông Thu Bồn và giáp miền thượng man, chung quanh đều là núi cao tạo thành một bức tường thành trời định, trước đây người qua lại tổng Trung Lộc đều than thở đường hiểm núi cao, đá chởm, đất bùn...”

Cũng theo nội dung tấm bia này thì vào một ngày mùa Đông năm Bính Tý (1936), Nguyễn Đình Hiến đã diện kiến với Nguyễn Đình Khôi (Tổng đốc Quảng Nam lúc bấy giờ) khi Nguyễn Đình Khôi đi kinh lý các tổng miền thượng du. Tại cuộc gặp này, Nguyễn Đình Hiến đã đề xuất với quan Tổng đốc về việc mở con đường băng qua đèo Le kéo dài từ đông sang tây, rộng 3m và dài khoảng 7km... Sau đó, Nguyễn Đình Hiến đứng ra thành lập ban vận động lạc quyên để khai mở con đường đèo Le gồm Tú tài Lâm Xuân Quế ở xã Phước Bình, Cửu phẩm Nguyễn Đình Dương ở xã Lộc Đông... Các ông đã đi vận động nhân dân trong tổng lạc quyên được số bạc là 4600 đồng lẻ, đồng thời cũng trích số bạc tư ích ở các tổng và thu bạc hội chợ rồi giao cho quan lục lộ cùng với ông tri huyện Nguyễn Trọng Thuần đốc thúc tiến hành.
Nguồn: nongson.quangnam.gov.vn
Ảnh: cungdiendanduong.net

Trần Đình Túc quê làng Hà Trung xã Gio Châu, huyện Gio Linh, tỉnh Quảng Trị, đỗ cử nhân dưới triều Thiệu Trị và Tự Đức, là quan đại thần nhà Nguyễn (thời Tự Đức), từng giữ các chức Tổng đốc Hà Ninh (Hà Nội, Ninh Bình), Hiệp biện Đại học sĩ. Trần Đình Túc là một trong những đại thần chủ chốt trong việc nghị hòa với người Pháp, khi Pháp xâm lược Việt Nam.Trong thời làm quan, đất nước gặp lúc có nhiều giặc giã rối ren, mặc dù có nhiều vị quan chức tước cao hơn, nhưng khi gặp những sự việc khó khăn, Ngài được nhà vua chỉ định đi trấn nhậm giải quyết, hay đi công cán nhiều nơi trong Nam, ngoài Bắc, đi sứ Trung Quốc, Hồng Kông, giao tiếp với các phái đoàn Anh Quốc, Triều Tiên, cầm đầu phái đoàn thương thuyết gay go với phái bộ Pháp, nhất là việc thương thuyết lấy lại thành Hà Nội 2 lần bị thất thủ.Đầu năm 1864, khi được cử làm Dinh Điền Sứ Quảng Trị và Thừa Thiên, ông đã xin triều đình khơi sông từ Hà Trữ đến Hà Trung, có công lập các ấp: Quý Lộc, Mỹ Thuận, Lương Tri, Lương Sơ Tây (huyện Phú Lộc). Trong khoảng năm 1860-1865, ông đã về định cư tại làng Bàn Môn và lập thêm làng An Hà, xã Lộc An . Ông còn có công giúp nhân dân làng Hà Trung, Hà Trữ (huyện Phú Vang), làng Mục Bài, Bàn Môn, An Hà... (huyện Phú Lộc) thau chua, rửa mặn, đắp đập, be bờ tạo thêm hàng ngàn mẫu ruộng đất.Tổng hợp từ nonnuocbinhkhe.blogspot.com và thuvienlichsu.com.Ảnh: internet

Trần Đình Túc quê làng Hà Trung xã Gio Châu, huyện Gio Linh, tỉnh Quảng Trị, đỗ cử nhân dưới triều Thiệu Trị và Tự Đức, là quan đại thần nhà Nguyễn (thời Tự Đức), từng giữ các chức Tổng đốc Hà Ninh (Hà Nội, Ninh Bình), Hiệp biện Đại học sĩ. Trần Đình Túc là một trong những đại thần chủ chốt trong việc nghị hòa với người Pháp, khi Pháp xâm lược Việt Nam.
Trong thời làm quan, đất nước gặp lúc có nhiều giặc giã rối ren, mặc dù có nhiều vị quan chức tước cao hơn, nhưng khi gặp những sự việc khó khăn, Ngài được nhà vua chỉ định đi trấn nhậm giải quyết, hay đi công cán nhiều nơi trong Nam, ngoài Bắc, đi sứ Trung Quốc, Hồng Kông, giao tiếp với các phái đoàn Anh Quốc, Triều Tiên, cầm đầu phái đoàn thương thuyết gay go với phái bộ Pháp, nhất là việc thương thuyết lấy lại thành Hà Nội 2 lần bị thất thủ.

Đầu năm 1864, khi được cử làm Dinh Điền Sứ Quảng Trị và Thừa Thiên, ông đã xin triều đình khơi sông từ Hà Trữ đến Hà Trung, có công lập các ấp: Quý Lộc, Mỹ Thuận, Lương Tri, Lương Sơ Tây (huyện Phú Lộc). Trong khoảng năm 1860-1865, ông đã về định cư tại làng Bàn Môn và lập thêm làng An Hà, xã Lộc An . Ông còn có công giúp nhân dân làng Hà Trung, Hà Trữ (huyện Phú Vang), làng Mục Bài, Bàn Môn, An Hà... (huyện Phú Lộc) thau chua, rửa mặn, đắp đập, be bờ tạo thêm hàng ngàn mẫu ruộng đất.

Tổng hợp từ nonnuocbinhkhe.blogspot.com và thuvienlichsu.com.
Ảnh: internet

Vũ Xuân Cẩn (1778-1852) người làng Hoà Luật, huyện Lệ Thuỷ. Lúc sinh thời, ông phò tá 4 đời vua vua Gia Long, Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức. Chính vì vậy, khi ông mất, vua Tự Đức ban 4 chữ vàng

Vũ Xuân Cẩn (1778-1852) người làng Hoà Luật, huyện Lệ Thuỷ. Lúc sinh thời, ông phò tá 4 đời vua vua Gia Long, Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức. Chính vì vậy, khi ông mất, vua Tự Đức ban 4 chữ vàng "Tứ Triều Nguyên Lão" (lão đại thần 4 triều vua), đưa vào thờ ở đền "Hiền lương" chỉ dành thờ phụng đại công thần.
Năm 1833, Võ Xuân Cẩn nhận chức Tổng đốc Bình - Phú.
Ngoài việc chăm lo đời sống của nhân dân, Võ Xuân Cẩn còn phải xây dựng lực lượng quân sự để đối phó khi có loạn. Tỉnh Bình - Phú nơi ông làm Tổng đốc đã góp phần đáng kể về sức người cũng như việc cung cấp quân nhu cùng với quân triều đình đánh bại quân Tiêm La (quân Xiêm) tháng 5-1834 và quân của Lê Văn Khôi (tháng 7-1835) chiếm lại được thành Phiên An (Gia Định). Sau việc này Võ Xuân Cẩn đã được vua Minh Mạng đánh giá là một viên quan có năng lực. Đến cuối năm 1835 ông đã được thăng chức Hiệp biện Đại học sĩ, gia hàm Thái tử Thiếu bảo, lĩnh chức như cũ.
Cũng chính trong những năm tháng làm quan ở “xứ nẫu”, ông đã có rất nhiều đóng góp cho dân, cho triều đình, đáng kể nhất đó việc cải cách ruộng đất năm 1839. Theo nhận định của các nhà sử học đương đại trong “Quốc sử tạp lục” thì cải cách điền địa năm 1839 ở Bình Định “là cả một cuộc cách mạng lớn lao, đem ruộng cho dân cày, hạn chế các đại điền chủ. Cách mạng này là một trong các công cuộc của Võ Xuân Cẩn”.
Sưu tầm, tổng hợp
Ảnh: Bức văn bia ghi nhớ công lao của Thái Bảo Đông các Đại học sĩ Võ Xuân Cẩn - Nguồn: baoquangbinh.vn

Lê Đại Cương (1771 - 1847) còn gọi là Lê Đại Cang, tự Thống Thiện, hiệu Kỳ Phong. Ông quê làng Luật Chánh xã Phước Hiệp huyện Tuy Phước tỉnh Bình Định.Năm 1787, ông theo học Nguyễn Tử Nghiễm (giữ chức Thị giảng học sĩ triều Tây Sơn). Sau đó được học với Đặng Đức Siêu - một danh sĩ của Bình Định lúc bấy giờ. Trong vòng sáu năm quên ăn, quên ngủ để dùi mài kinh sử”, nên khi tham gia chốn quan trường, Lê Đại Cương được đánh giá là người có tài về văn học. Năm 1802, sau khi Gia Long lên ngôi, Lê Đại Cương được Nguyễn Huỳnh Đức tiến cử và được bổ nhiệm làm Tri huyện huyện Tuy Viễn, tỉnh Bình Định. Tháng 11/1832, sau khi lập Nam Kỳ Lục tỉnh, vua Minh Mạng bổ nhiệm Lê Đại Cương làm Tổng đốc An - Hà kiêm lĩnh ấn “Bảo hộ Chân Lạp quốc”, đã đánh dấu một bước ngoặt trong cuộc đời làm quan của Lê Đại Cương. Sau 10 năm “tung hoành, ngang dọc” trên mọi mặt trận của đời sống xã hội thời đầu Minh Mạng ở đất Bắc, viên quan sinh trưởng ở miền Trung Lê Đại Cương đã chuyển hướng vào “tung hoành, ngang dọc” trên mảnh đất mới ở cực Nam Tổ quốc. Rõ ràng, Lê Đại Cương là vị Tổng đốc An - Hà đầu tiên. Việc Minh Mạng giao chức vụ Tổng đốc An - Hà kiêm lĩnh ấn “Bảo hộ Chân Lạp quốc”cho Lê Đại Cương chứng tỏ ông có đầy đủ uy tín và năng lực của một vị quan từng trải trong Nam, ngoài Bắc, từng đảm nhiệm nhiều trọng trách, được vua tin cậy. Tuy nhiên đây là thử thách to lớn nhất với ông trong cuộc đời quan trường.Tham khảo: vanhien.vnẢnh: Lăng mộ Lê Đại Cang (danviet.vn)

Lê Đại Cương (1771 - 1847) còn gọi là Lê Đại Cang, tự Thống Thiện, hiệu Kỳ Phong. Ông quê làng Luật Chánh xã Phước Hiệp huyện Tuy Phước tỉnh Bình Định.
Năm 1787, ông theo học Nguyễn Tử Nghiễm (giữ chức Thị giảng học sĩ triều Tây Sơn). Sau đó được học với Đặng Đức Siêu - một danh sĩ của Bình Định lúc bấy giờ. Trong vòng sáu năm quên ăn, quên ngủ để dùi mài kinh sử”, nên khi tham gia chốn quan trường, Lê Đại Cương được đánh giá là người có tài về văn học. Năm 1802, sau khi Gia Long lên ngôi, Lê Đại Cương được Nguyễn Huỳnh Đức tiến cử và được bổ nhiệm làm Tri huyện huyện Tuy Viễn, tỉnh Bình Định.
Tháng 11/1832, sau khi lập Nam Kỳ Lục tỉnh, vua Minh Mạng bổ nhiệm Lê Đại Cương làm Tổng đốc An - Hà kiêm lĩnh ấn “Bảo hộ Chân Lạp quốc”, đã đánh dấu một bước ngoặt trong cuộc đời làm quan của Lê Đại Cương. Sau 10 năm “tung hoành, ngang dọc” trên mọi mặt trận của đời sống xã hội thời đầu Minh Mạng ở đất Bắc, viên quan sinh trưởng ở miền Trung Lê Đại Cương đã chuyển hướng vào “tung hoành, ngang dọc” trên mảnh đất mới ở cực Nam Tổ quốc. Rõ ràng, Lê Đại Cương là vị Tổng đốc An - Hà đầu tiên. Việc Minh Mạng giao chức vụ Tổng đốc An - Hà kiêm lĩnh ấn “Bảo hộ Chân Lạp quốc”cho Lê Đại Cương chứng tỏ ông có đầy đủ uy tín và năng lực của một vị quan từng trải trong Nam, ngoài Bắc, từng đảm nhiệm nhiều trọng trách, được vua tin cậy. Tuy nhiên đây là thử thách to lớn nhất với ông trong cuộc đời quan trường.
Tham khảo: vanhien.vn
Ảnh: Lăng mộ Lê Đại Cang (danviet.vn)

Đức thanh liêm in dấu với trời xanh!Nguyễn Văn Hiếu sinh năm 1766, quê ở Định Tường, Gia Định (nay là huyện Gò Công Tây, tỉnh Tiền Giang), tuy là con của quan Cẩm y Chưởng vệ nhưng nhà rất nghèo. Thuở thiếu thời, ông từng phải đi cắt cỏ thuê kiếm sống.Năm Ất Tị (1785), ông theo tướng Võ Tánh để phò chúa Nguyễn Phúc Ánh, từ chức Cai cơ hỗ giá ông dần thăng tiến lên vị trí Hữu chi Phó trưởng chi, rồi Chánh trưởng chi. Sau khi vua Gia Long lên ngôi, ông được cử làm trấn thủ Bình Định, sau điều ra làm trấn thủ Sơn Nam Hạ (Nam Định ngày nay).Đức thanh liêm của Nguyễn Văn Hiếu được sách Đại Nam liệt truyện chính biên (sơ tập, quyển 16) ghi lại như sau: Nhà quan mà xơ xác, lương bổng năm nào chỉ đủ chi dùng cho năm đó, chẳng dư dả gì. Ông thường nghiêm cấm người nhà không được tự ý giao thiệp với người ngoài. Ngày lễ, tết, ai biếu gì cũng chối từ.Khi vợ có đôi lúc nói về gia cảnh, ông nhắc nhở:

Đức thanh liêm in dấu với trời xanh!
Nguyễn Văn Hiếu sinh năm 1766, quê ở Định Tường, Gia Định (nay là huyện Gò Công Tây, tỉnh Tiền Giang), tuy là con của quan Cẩm y Chưởng vệ nhưng nhà rất nghèo. Thuở thiếu thời, ông từng phải đi cắt cỏ thuê kiếm sống.

Năm Ất Tị (1785), ông theo tướng Võ Tánh để phò chúa Nguyễn Phúc Ánh, từ chức Cai cơ hỗ giá ông dần thăng tiến lên vị trí Hữu chi Phó trưởng chi, rồi Chánh trưởng chi. Sau khi vua Gia Long lên ngôi, ông được cử làm trấn thủ Bình Định, sau điều ra làm trấn thủ Sơn Nam Hạ (Nam Định ngày nay).

Đức thanh liêm của Nguyễn Văn Hiếu được sách Đại Nam liệt truyện chính biên (sơ tập, quyển 16) ghi lại như sau: Nhà quan mà xơ xác, lương bổng năm nào chỉ đủ chi dùng cho năm đó, chẳng dư dả gì. Ông thường nghiêm cấm người nhà không được tự ý giao thiệp với người ngoài. Ngày lễ, tết, ai biếu gì cũng chối từ.

Khi vợ có đôi lúc nói về gia cảnh, ông nhắc nhở: "Phu nhân không còn nhớ thuở còn đi cắt cỏ ư ? Cái ăn cái mặc giờ đây gấp đôi gấp năm ngày xưa, vậy mà còn muốn lấy của bất nghĩa để làm giàu ư?". Người vợ từ đấy không còn nói đến lợi lộc.

Nguyễn Văn Hiếu tuy là quan võ nhưng lại có phong độ của Nho gia nên sau các kỳ thi, các tân khoa đều tới yết kiến. Ông tiếp đãi ân cần và nhân đó căn dặn: Khổ công đèn sách mười năm mới có được ngày nay, xin mừng cho các bạn hiền. Ra làm quan cũng nên sống như thuở nghèo khổ, chớ nên xa xỉ. Nếu không, trước mắt là mình hạ nhục thân danh, sau là uổng công kén chọn nhân tài của triều đình.

Nguyễn Văn Hiếu được người dân kính trọng. Trong hạt có trộm cướp, ông trực tiếp đem quân đi bắt. Theo Đại Nam liệt truyện chính biên, bọn cướp răn bảo nhau rằng: Quan Trấn thủ nhân hòa, ấy là Phật sống, nên kính cẩn mà lánh đi.

Năm Minh Mạng thứ hai (1821), nhà vua tuần du ở Bắc, nghe biết Nguyễn Văn Hiếu trị dân có tiếng tốt, liền triệu vào Thăng Long, cho thăng vượt cấp, thưởng một ống nhòm mạ vàng, một thanh gươm mạ vàng và một khẩu súng có nạm chữ vàng.

Năm Minh Mạng thứ tư (1823) ông nhận chức Trấn thủ Thanh Hoa. Một hôm, có viên Thổ ti đem lễ vật rất hậu đến xin yết kiến, ông khước từ và sai mang về. Người đầy tớ ở dưới bếp biết được liền lẻn cửa sau ra, dọa nạt viên Thổ ti và nói dối là ông sẽ lấy một nửa. Việc bị phát giác, ông giận lắm, sai đem chém đầu ngay, bạn đồng liêu can ngăn mấy cũng không nghe.

Chém xong, ông xin chịu tội với triều đình. Vua cho là ông tự tiện giết người, phạt giáng ba bậc nhưng vẫn cho lưu nhiệm chức cũ.

Năm 1826, ông cùng quan trấn Nghệ An dẫn quân đi dẹp cuộc nổi dậy ở Ninh Tạo. Nhờ công lao này, ông được thăng chức Thần sách Tả doanh, Phó Đô Thống chế, lãnh chức Trấn thủ Nghệ An.

Năm Minh Mạng thứ 12 (1831), ông được bổ làm Tổng đốc Hà Ninh (Hà Nội và Ninh Bình). Thời kỳ đó, ông đã cho dời lỵ sở của phủ Hoài Đức ở phố Phủ Doãn về khu Dịch Vọng thuộc huyện Từ Liêm (nay là khu vực Học viện Báo chí tuyên truyền, thuộc quận Cầu Giấy).

Nguyễn Văn Hiếu mất năm 1835, thọ 69 tuổi. Năm Tự Đức thứ 5 (1851), ông được thờ ở miếu Trung hưng Công thần. Năm Tự Đức thứ 11 (1858), Nguyễn Văn Hiếu được thờ ở Hiền Lương Từ.
Nguồn: vnexpress.net
Ảnh: internet

Thượng thư Thái Văn Toản triều Bảo Đại, quê làng Quy Thiên, huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị.Xuất trong một gia đình Nho học, con ông Thái Văn Bút làm quan đời vua Thành Thái, Duy Tân, mẹ là ái nữ của Tùng Thiện vương là Tôn Nữ Như Ty.Thuở nhỏ, ông học ở Huế, tốt nghiệp Trường Thông ngôn Huế, từ năm 1902 làm thông dịch viên tại Phủ Thống sứ Bắc kỳ, sau đổi về làm việc tại Toà Khâm sứ Huế. Tại đây vào năm 1905, ông là người sáng lập kiêm Hội trưởng Hội Quảng Tri. Đây là một hội có tích cách văn hoá, giáo dục, nghệ thuật hoạt động lâu năm tại Huế.Năm Mậu Ngọ (1918), ông được thăng Hồng lô tự khanh sung chức Ngự tiền thông sự dưới triều Khải Định, rồi Quang lộc tự khanh, Thái thường tự khanh.Năm 1926, ông được làm Tổng đốc Thanh Hoá, năm 1929 thăng hàm thượng thư bộ Hộ, sung Cơ mật viện đại thần, năm 1931 thăng hàm Hiệp tá đại học sĩ.Khi Bảo Đại về nước đứng đầu nội các (1933) ông làm Thượng Bộ Công kiêm Mỹ thuật và Lễ nghi sung Cơ mật viện đại thần.Con trai ông là Thái Văn Vượng, cháu là Thái Văn Kiểm (giáo sư) đã có đóng góp một phần cho học thuật Việt Nam.Sau năm 1946, ông tản cư ra Nghệ An, tham gia kháng chiến trong cương vị Cố vấn Mặt trận Liên Việt Liên khu IV. Đến năm 1952, ông mất tại xã Bạch Ngọc, huyện Anh Sơn, tỉnh Nghệ An.Ông là tác giả một số thơ, bài viết đăng trên các báo ở Huế, Hà Nội.Theo: VietGleẢnh: 5 vị Thượng thư từ trái qua phải Hồ Đắc Khải, Phạm Quỳnh, Thái Văn Toản, Ngô Đình Diệm, Bùi Bằng Đoàn (internet)

Thượng thư Thái Văn Toản triều Bảo Đại, quê làng Quy Thiên, huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị.

Xuất trong một gia đình Nho học, con ông Thái Văn Bút làm quan đời vua Thành Thái, Duy Tân, mẹ là ái nữ của Tùng Thiện vương là Tôn Nữ Như Ty.

Thuở nhỏ, ông học ở Huế, tốt nghiệp Trường Thông ngôn Huế, từ năm 1902 làm thông dịch viên tại Phủ Thống sứ Bắc kỳ, sau đổi về làm việc tại Toà Khâm sứ Huế. Tại đây vào năm 1905, ông là người sáng lập kiêm Hội trưởng Hội Quảng Tri. Đây là một hội có tích cách văn hoá, giáo dục, nghệ thuật hoạt động lâu năm tại Huế.
Năm Mậu Ngọ (1918), ông được thăng Hồng lô tự khanh sung chức Ngự tiền thông sự dưới triều Khải Định, rồi Quang lộc tự khanh, Thái thường tự khanh.

Năm 1926, ông được làm Tổng đốc Thanh Hoá, năm 1929 thăng hàm thượng thư bộ Hộ, sung Cơ mật viện đại thần, năm 1931 thăng hàm Hiệp tá đại học sĩ.

Khi Bảo Đại về nước đứng đầu nội các (1933) ông làm Thượng Bộ Công kiêm Mỹ thuật và Lễ nghi sung Cơ mật viện đại thần.

Con trai ông là Thái Văn Vượng, cháu là Thái Văn Kiểm (giáo sư) đã có đóng góp một phần cho học thuật Việt Nam.

Sau năm 1946, ông tản cư ra Nghệ An, tham gia kháng chiến trong cương vị Cố vấn Mặt trận Liên Việt Liên khu IV. Đến năm 1952, ông mất tại xã Bạch Ngọc, huyện Anh Sơn, tỉnh Nghệ An.
Ông là tác giả một số thơ, bài viết đăng trên các báo ở Huế, Hà Nội.
Theo: VietGle
Ảnh: 5 vị Thượng thư từ trái qua phải Hồ Đắc Khải, Phạm Quỳnh, Thái Văn Toản, Ngô Đình Diệm, Bùi Bằng Đoàn (internet)

Xem Thêm